“Bác Sĩ Nông Học” Quý IV/2024: Gắn Kết Tri Thức, Chắp Cánh Nông Nghiệp Bền Vững
Tiếp nối thành công của chuỗi chương trình Bác sĩ nông học tổ chức tại Bắc Giang và Sơn La tháng 6-7/2024 vừa qua. Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tiến hành tổ chức chuỗi chương trình Bác sĩ nông học tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với mục tiêu tạo sân chơi bổ ích cho bà con nông dân được giao lưu, học tập, trao đổi thông tin lẫn nhau, củng cố và trang bị thêm kiến thức khoa học và kinh nghiệm phục vụ sản xuất nông nghiệp
Chương trình sẽ diễn ra vào cuối tháng 11/2024 tại 4 điểm thuộc Đồng bằng sông Cửu Long: huyện Giồng Riềng và Tân Hiệp (Kiên Giang), huyện Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp). Cùng với sự đồng hành của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP hứa hẹn diễn đàn sẽ giúp nông dân kết nối với các nhà khoa học, doanh nghiệp, và cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao kiến thức, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả.
Bác sĩ nông học 2024 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
Địa điểm và thời gian cụ thể
• Kiên Giang:
Huyện Giồng Riềng: 8h00 – 11h30 ngày 26/11/2024 tại Hội trường trung tâm huyện.
Huyện Tân Hiệp: 8h00 – 11h30 ngày 27/11/2024 tại Hội trường trung tâm huyện.
• Đồng Tháp:
Huyện Hồng Ngự: 8h00 – 11h30 ngày 29/11/2024 tại Hội trường trung tâm huyện.
Huyện Cao Lãnh: 8h00 – 11h30 ngày 30/11/2024 tại Hội trường trung tâm huyện.
Chương trình sẽ tiếp tục tập trung vào các nội dung như: biến đổi khí hậu và tác động đến sản xuất nông nghiệp; Hướng dẫn khoa học về nông hóa, thổ nhưỡng, và chu kỳ sinh trưởng của giống cây trồng, vật nuôi phù hợp; ứng dụng công nghệ và kỹ thuật canh tác tiên tiến; phân biệt và sử dụng hiệu quả phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, với phần quà sản phẩm mẫu cho bà con; chính sách hỗ trợ từ nhà nước dành cho doanh nghiệp và nông dân; tư vấn xúc tiến thương mại và tiếp cận thị trường cho nông sản, đặc biệt là các sản phẩm OCOP.
Chương trình “Bác sĩ nông học” không chỉ là cầu nối giữa nông dân và các nguồn lực khoa học, kỹ thuật, mà còn góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp thông minh, hội nhập quốc tế, thích ứng biến đổi khí hậu, và phát triển bền vững. Chương trình hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị thực tiễn, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Áp thuế suất GTGT 5%, giá phân bón có dư địa giảm
Làm rõ băn khoăn về lo ngại đưa phân bón chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% sẽ khiến tăng giá, ĐBQH và các chuyên gia đã có những phân tích cụ thể.
Áp thuế GTGT là căn cứ giảm giá phân bón
Về ý kiến cho rằng “áp dụng thuế GTGT 5% làm tăng giả phân bản”, số liệu từ buổi Tọa đàm tham vấn “Ảnh hưởng của việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón” do Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hội Tư vấn thuế Việt Nam, Trường Đại học Ngoại thương Việt Nam tổ chức ngày 17/10/2024 cho biết, các chuyên gia đã tính toán đối với phương án chuyển phân bón sang áp dụng thuế suất 5%, thì giá phân Urê, DAP và lân sản xuất trong nước có dư địa giảm lần lượt 2% và 1,13%; phân lân có thể giảm 0,87%.
Giá NPK có thể tăng không đáng kể (0,09%) hoặc giữ nguyên. Giá phân Urê, DAP, NPK, SA và Kali nhập khẩu tăng, cụ thể: phân NPK nhập khẩu có thể tăng 5%.
Cấu trúc thị trường phân bón hiện tại (tiêu thụ phân bón sản xuất trong nước chiếm trên 70%, tiêu thụ phân bón nhập khẩu chiếm dưới 30%), sẽ cho phép doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước dẫn dắt điều chỉnh mặt bằng giá thị trường phân bón.
Với chính sách áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đối với phân bón, giá thành phân bón sản xuất trong nước giảm, giá bán phân bón sản xuất trong nước có dư địa giảm, sẽ tạo tác động dẫn đến các nhà nhập khẩu phân bón cũng sẽ phải giảm giá bán phân bón nhập khẩu theo mặt bằng giá thị trường, đem lại lợi ích lớn cho bà con nông dân.
Tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững” do Tạp chí Năng lượng mới/PetroTimes tổ chức mới đây ngày 17/11/2024, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trịnh Xuân An, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa XV cũng cho rằng đề xuất của Chính phủ đưa phân bón trở về chịu thuế GTGT 5% là hoàn toàn hợp lý về mặt cơ sở khoa học.
“Tôi cho rằng không có căn cứ để nói áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá phân bón. Theo tôi, khi bàn tác động của thuế GTGT 5% nên có cái nhìn khách quan, khoa học không nên bảo thủ hay dùng những lời lẽ nặng nề như ‘không cần biết, cứ áp thuế GTGT 5% thì giá phân bón sẽ tăng, sẽ giết người nông dân’. Do đó, phải căn cứ trên cơ sở khoa học tính toán cụ thể, không nên vì suy nghĩ chủ quan, cảm tính để quyết định”, ĐBQH Trịnh Xuân An thẳng thắn bày tỏ.
ĐBQH Trịnh Xuân An chia sẻ ý kiến tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững” ngày 17/11.
Ông An cũng cho rằng, đây không chỉ câu chuyện thuần túy thuế học mà còn là vấn đề tình cảm, lý trí, không thể đưa ra quyết định trên chủ quan ý chí, cần bao quát rộng rãi trên các khía cạnh. Quan điểm này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện xuyên suốt trong quá trình thảo luận, lấy ý kiến cho thuế dự tháo Luật.
“Đề nghị báo chí có sự định hướng dư luận về vấn đề này đề phòng thế lực xấu lợi dụng gây nhũng nhiễu thông tin, chính sách. Không bao giờ Đảng, Nhà nước đưa ra chính sách gây ảnh hưởng đến người nông dân hay đất nước. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch để không ảnh hướng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người nông dân”, ĐBQH Trịnh Xuân An nhấn mạnh.
Tính toán từ góc nhìn chuyên gia về tác động thuế GTGT phân bón 5%
Cũng tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững”, phân tích tác động thuế suất GTGT 5% đến giá mặt hàng phân bón, ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam đưa ra ví dụ hạch toán giá bán sản phẩm phân bón của doanh nghiệp sản xuất trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu chưa bao gồm GTGT là 100 đồng, giá trị đầu vào là 80 đồng, dự kiến lợi nhuận ban đầu là 20 đồng.
Nếu doanh nghiệp sản xuất trong nước không được khấu trừ GTGT đầu vào, chi phí phải trả thêm là 8 đồng tiền thuế GTGT không được khấu trừ, giá thành tăng, lợi nhuận giảm. Để bảo đảm mục tiêu lợi nhuận, giá bán phải cộng 8 đồng để bù đắp chi phí thuế. Do vậy, thực tế giá sản phẩm đến tay người nông dân sẽ tăng là 108 đồng khiến người nông dân phải chịu thiệt thòi trả giá cao hơn.
Với mức giá 108 đồng, doanh nghiệp sản xuất trong nước mới bảo đảm lợi nhuận mục tiêu để duy trì sản xuất, trong khi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ cần mức giá 100 đồng. Mặt khác, nếu doanh nghiệp nhập khẩu tính giá theo cơ chế thị trường, họ cũng có thể tăng giá bán lên 108 đồng, khi đó người tiêu dùng có thể phải trả thêm 8 đồng thuế đối với các sản phẩm phân bón nhập khẩu do chính sách thuế.
Ngoài ra, do lợi thế có được từ chính sách thuế nên nhóm doanh nghiệp nhập khẩu phân bón có điều kiện cạnh tranh về giá, chưa nói đến chất lượng và hậu mãi, từ đó gây khó khăn cho sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng dẫn đến độc quyền trong dài hạn khi các doanh nghiệp sản xuất trong nước kiệt quệ, thua lỗ, thậm chí phá sản.
Qua đó, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được khẳng định cần chuyển đổi áp thuế GTGT 5% với phân bón để có dư địa giảm giá bán. Điều này phù hợp về góc độ khoa học, lợi ích kinh tế và hài hòa lợi ích các bên.
Ông Được phân tích, phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT sẽ gây ra nhiều bất cập. Bởi lẽ, thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ và phải tính vào chi phí của doanh nghiệp, làm giảm lợi nhuận, buộc họ phải cộng tiền thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã tính vào chi phí trong giá sản phẩm bán ra. Như vậy, người nông dân gián tiếp phải trả thuế, gây thiệt hại “kép” cho nông dân với phân bón giả, phân bón có giá thành cao, đồng thời có thể dẫn đến Nhà nước thất thu thuế.
Ngược lại, doanh nghiệp nhập khẩu phân bón lại có lợi thế không phải chịu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu đối với bán thành phẩm của phân bón hoặc sản phẩm phân bón. Họ cũng không phải chịu thuế GTGT đầu ra nên không bị tác động giảm lợi nhuận do tác động chính sách thuế.
Cần chuyển đổi áp thuế GTGT 5% với phân bón để có dư địa giảm giá bán.
Vì nền nông nghiệp bền vững
“Tôi xót xa khi thấy công nghệ phân bón Việt Nam còn chưa bắt kịp trình độ thế giới, nên rất mong Quốc hội đưa ra quyết định thuế GTGT phân bón chính xác, để từ đó cải thiện chất lượng phân bón, nâng cao giá trị nông sản Việt, để giúp nông nghiệp thực sự là trụ đỡ của nền kinh tế”, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế thẳng thắn chia sẻ tại Tọa đàm của PetroTimes ngày 17/11.
Sở dĩ ông nói điều này vì muốn đề cập đến khả năng cạnh tranh với hàng ngoại của phân bón Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đều có sự ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp. Ví dụ Trung Quốc, nguyên liệu nhập vào cho sản xuất phân bón, thuế nhập khẩu được giảm 50% hoặc bằng 0, thuế GTGT cũng được áp mức thấp, khi xuất khẩu hoàn toàn được Nhà nước hỗ trợ phí lưu kho và hoàn toàn bộ thuế trong nước, nên khi bán sang Việt Nam họ được lời lớn và có thế mạnh cạnh tranh cao.
“Ở Nga hay Mỹ cũng tương tự, do đó, tôi thấy rằng chính sách ưu đãi đúng và trúng cho chính sách thuế GTGT là rất cần thiết với sản phẩm phân bón để nông nghiệp Việt Nam được cất cánh. Qua chuyến đi tới vùng nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long vừa qua tôi nhận thấy người nông dân hiện nay sử dụng phân bón cho trồng lúa và cây trồng là chủ yếu. Tuy nhiên, qua tìm hiểu người nông dân cho biết người nông dân cho rằng hiện nay phân bón Việt Nam chưa đủ cạnh tranh đối với phân bón nước ngoài”, ông Thịnh nhìn nhận.
Chính vì vậy, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh mong muốn Luật Thuế GTGT sửa đổi chuyển phân bón sang chịu thuế GTGT 5% để chuyển hóa nguồn nâng cao được năng suất chất lượng phân bón, vật tư thiết bị đáp ứng được nhu cầu người nông dân.
‘Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT là không thực tế’
ĐBQH Trịnh Xuân An, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, cho rằng qua nghiên cứu và tham vấn từ các chuyên gia kinh tế, có thể thấy quy định tại khoản 3, Điều 15 chưa thực tế. Cụ thể, quy định này chỉ cho phép doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng duy nhất là phân bón được khấu trừ thuế, trong khi những doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng, bao gồm phân bón, lại không được hưởng quyền lợi này.
Trong Dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT được Bộ Tài chính trình Chính phủ, khoản 3, Điều 15 quy định về các trường hợp hoàn thuế như sau: “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%, trừ hoạt động thanh lý tài sản nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 4 quý liên tiếp thì được hoàn thuế GTGT”.
Theo quy định này, chỉ những doanh nghiệp áp dụng duy nhất thuế suất GTGT 5% mới được hoàn thuế, còn các doanh nghiệp có từ hai loại thuế suất GTGT trở lên sẽ không được hoàn thuế. Điều này tạo ra sự thiếu công bằng đối với các doanh nghiệp có nhiều loại thuế suất GTGT.
ĐBQH Trịnh Xuân An, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội.
Do đó ông An đề xuất bỏ từ “chỉ” trong Khoản 3 Điều 15. “Ý kiến của tôi là như thế. Tôi rất mong được các ĐBQH và chuyên gia kinh tế, chuyên gia về thuế làm rõ hơn”- ông An nhấn mạnh.
ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa).
Chung quan điểm trên, ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) cho rằng, cần phải xem xét, điều chỉnh khoản 3, Điều 15 của dự thảo Luật.
“Về bản chất, hoàn thuế GTGT trong trường hợp nêu tại khoản 3, Điều 15 dự thảo Luật là hoàn thuế cho cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5%. Trong khi đó, thuế GTGT đầu vào của chi phí có mặt hàng chịu thuế suất 10% nên lũy kế thuế GTGT liên tục có khấu trừ. Việc khống chế 5% để đảm bảo bản chất là không giải quyết hoàn thuế cho hàng tồn kho. Quy định này tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh sản xuất, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất khác nhau. Do đó, tôi đề nghị xem xét, sửa đổi lại để đảm bảo số thuế GTGT được hoàn không vượt quá 5% doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế 5%, trừ hoạt động thanh lý tài sản” – đại biểu nêu rõ.
ĐBQH Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hoà Bình.
ĐBQH Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hoà Bình cũng nêu ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn đối với quy định tại khoản 3, Điều 15 dự thảo Luật về hoàn thuế GTGT.
“Theo quy định, trường hợp các đơn vị sản xuất có cả hàng hóa chịu thuế suất 5% và hàng hóa khác chịu thuế suất 10%, thuế GTGT nguyên liệu đầu vào đều thuế suất 10%, doanh thu chủ yếu từ các mặt hàng chịu thuế suất 5%, doanh nghiệp sẽ không thể khấu trừ hết các số thuế GTGT nhiên liệu đầu vào 10% hằng năm và không được hoàn thuế. Theo đó, số thuế GTGT được khấu trừ tăng dần qua các năm, gây khó khăn cho các doanh nghiệp…”- Đại biểu Ngọc nhận định.
N.B
Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững
(PetroTimes) – Ngày 14/11, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) họp bàn kế hoạch sản xuất kinh doanh (SXKD) năm 2025, với tinh thần kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững.
Petrovietnam đặt mục tiêu doanh thu 843.108 tỷ đồng ở kịch bản giá dầu khả quan.
Xây dựng 2 kịch bản tăng trưởng
Sau 10 tháng năm 2024, Petrovietnam cơ bản đã hoàn thành kế hoạch Chính phủ giao. Trên cơ sở đánh giá vĩ mô, nhu cầu năng lượng cho phát triển công nghiệp của đất nước, rà soát dư địa động lực cũ và mới, Petrovietnam xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2025 với kịch bản cho từng lĩnh vực hoạt động song song nhận định cơ hội và thách thức.
Ở kịch bản giá dầu 70 USD/thùng, Petrovietnam đặt mục tiêu doanh thu 810.067 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 91.302 tỷ đồng. Ở kịch bản giá dầu 75 USD/thùng, Tập đoàn nâng mục tiêu doanh thu lên 843.108 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 94.389 tỷ đồng.
Các đơn vị thành viên Tập đoàn nhận định, bối cảnh năm tới sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức của biến động thị trường và căng thẳng địa chính trị quốc tế diễn biến khó lường, làm gián đoạn chuỗi cung ứng các thiết bị dầu khí/hàng hóa, gây phát sinh chi phí.
Từ nhận diện các thách thức, các đơn vị, ban chuyên môn của Tập đoàn đóng góp vào kế hoạch 2025 cho rằng cần có các giải pháp tổng thể: cơ chế chính sách, quản trị, tài chính, thương mại, thị trường và đầu tư. Cùng với đó là giải pháp trong từng lĩnh vực: thăm dò và khai thác dầu khí; công nghiệp khí; công nghiệp điện; chế biến, tồn trữ và phân phối sản phẩm dầu khí; dịch vụ dầu khí.
Bám sát Kết luận 76 để xây dựng kế hoạch
Bàn về giải pháp thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh 2025, ông Trần Quang Dũng, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Tập đoàn nhấn mạnh, nhiệm vụ đề ra cần bám sát Kết luận 76-KL/TW của Bộ Chính trị, từ đó chuyển hóa thành các động lực mới để phát triển, hoàn thiện bộ giải pháp quản trị, làm cơ sở để rà soát, đánh giá hằng tháng.
Hoạt động khai thác dầu khí trên mỏ Bạch Hổ (Ảnh: Trần Thịnh)
Ông Dương Mạnh Sơn, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam cho rằng, cần cân nhắc kế hoạch đầu tư ở mức cân đối, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn, đồng thời tập trung cho các vấn đề cốt lõi trong từng lĩnh vực.
Theo ông Nguyễn Văn Mậu, Thành viên HĐTV Petrovietnam, các chỉ tiêu sản xuất đề ra trong kế hoạch cần làm rõ khả năng công suất thiết kế và xác định tồn tại cần khắc phục. Một nhiệm vụ theo ông Mậu không thể bỏ qua là xử lý các dự án đầu tư tồn đọng một cách triệt để và đưa điều này thành nhiệm vụ cụ thể để theo dõi. Về vấn đề tài chính, chú trọng kế hoạch cân đối nguồn vốn, thu xếp vốn cho các dự án lớn, tạo bước tiến quản trị dòng tiền.
Rà soát các nguồn lực, kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng
Đánh giá hai kịch bản đưa ra trong kế hoạch được tính toán với đầy đủ các điều kiện, cơ hội, khó khăn, tuy nhiên, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cho rằng cần có thêm kịch bản quản trị là cơ sở đưa ra giải pháp tổ chức triển khai tổng thể.
Đối với năm 2025, Tổng Giám đốc Lê Ngọc Sơn nhìn nhận, lĩnh vực khí động lực là LNG; điện là Nhà máy Nhơn Trạch 3&4; đầu tư và dịch vụ tăng trưởng đến từ điện gió ngoài khơi. Bên cạnh cơ hội, Tổng Giám đốc Petrovietnam nhận định, vẫn còn khó khăn do giá dầu, LNG được dự báo khác nhau giữa các tổ chức thế giới bởi diễn biến phức tạp của bối cảnh thế giới, chiến tranh, căng thẳng địa chính trị; nguồn cung khí cũng là một thách thức ở khu vực Đông Nam Bộ với kịch bản chạy công suất cao;…
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn: “Hai kịch bản đưa ra trong kế hoạch được tính toán với đầy đủ các điều kiện, cơ hội, khó khăn”.
Sau khi nghe các ý kiến đóng góp, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng lưu ý, Tập đoàn cần xây dựng mô hình dự báo kinh tế, đo lường quản trị để tích hợp kinh tế vĩ mô đất nước, thế giới vào vi mô hoạt động của Tập đoàn, từ đó có kịch bản tăng trưởng chính xác nhất cho năm 2025.
“Tính toán, xây dựng kế hoạch hướng đến mục tiêu cao nhất là sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Nguyên tắc là kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển. Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2025 ít nhất bằng kế hoạch năm 2024, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của ngành, đáp ứng yêu cầu của đất nước. Kế hoạch đưa ra đảm bảo khả thi, có giải pháp về nguyên liệu, nguồn lực, phản ánh chính xác kịch bản quản trị”, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam nhấn mạnh.
Phân tích bối cảnh 2025, ông Lê Mạnh Hùng nhìn nhận, đây là năm quan trọng kết thúc kế hoạch 5 năm 2020-2025, cũng là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp. Tập đoàn vừa phải thực hiện các nhiệm vụ thường niên, vừa phải thực hiện các nhiệm vụ đặc trưng của năm này.
2025 còn là năm thực hiện các tư tưởng, quan điểm đổi mới của đất nước. Công tác lập pháp đã có sự thay đổi lớn, Petrovietnam với vai trò là tập đoàn kinh tế nhà nước không thể đứng ngoài. Công cuộc tinh gọn bộ máy sẽ được thực hiện như một cuộc cách mạng của nhà nước, đó sẽ là thuận lợi cho các doanh nghiệp, tinh giản thủ tục hành chính.
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng: “Xây dựng kế hoạch hướng đến mục tiêu cao nhất là sự phát triển bền vững của toàn Tập đoàn”.
Trước khó khăn, thách thức, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, cần tính toán chuyển dịch mô hình kinh doanh, xác định công tác đầu tư là cấu phần quan trọng trong cơ cấu tăng trưởng hiệu quả hoạt động của Tập đoàn, coi đây là thước đo hiệu suất sử dụng tài sản.
Về các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam yêu cầu các đơn vị, ban chuyên môn dự báo thị trường, tính toán điều kiện để xây dựng các kịch bản sát thực tế nhất có thể, đồng thời nhìn nhận động lực nào còn dư địa, động lực nào cần khai thác thêm; rà soát nguồn lực về nhân lực, quản trị chiến lược và quản trị nhân lực cấp cao. Cùng với đó là quản trị các tài sản hiện có về nguồn vốn và dòng tiền, rà soát hệ thống quản trị.
Trên cơ sở rà soát các nguồn lực, kế hoạch quản trị năm 2025 của Tập đoàn vẫn tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng, dịch chuyển cơ cấu và mô hình kinh doanh để đảm bảo phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững các lĩnh vực cốt lõi, với hành trình hướng tới xây dựng kế hoạch trở thành Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam đề cập tới một loạt giải pháp về gia tăng động lực quản trị, chớp cơ hội từ động lực thể chế, cơ chế phân cấp và giao quyền, giảm thời gian xử lý công việc và tăng hiệu quả.
Giải pháp về nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số cũng được chỉ đạo chú trọng nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng thêm dịch vụ mới, đóng góp vào khoảng 10% doanh thu năm tới.
Nhấn mạnh nguyên lý xây dựng kế hoạch kinh doanh phải đi liền với kế hoạch tài chính (chi phí, vốn, dòng tiền hoạt động – đầu tư), lãnh đạo Petrovietnam giao mục tiêu tối ưu tăng ít nhất 5% hiệu quả quản trị tài chính trong năm 2025.
Bên cạnh đó, cấu trúc lại mô hình kinh doanh đảm bảo sự phát triển bền vững, rà soát quản trị lại các lĩnh vực, giảm phân tán, tăng tập trung, công tác đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cũng được Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng yêu cầu chú trọng trong năm 2025.
Phương Thảo
Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
(PetroTimes) – Kết thúc 10 tháng đầu năm, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu tài chính cả năm 2024 theo kế hoạch Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp giao, về đích trước từ 3-5 tháng.
Ngày 13/11, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn đã chủ trì giao ban thường kỳ với lãnh đạo các đơn vị thành viên về tình hình sản xuất kinh doanh tháng 10, 10 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 2 tháng cuối năm.
Trong bối cảnh thị trường tháng 10 tiếp tục có nhiều biến động, Petrovietnam tiếp tục tăng cường công tác quản trị, duy trì giám sát thường xuyên đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Tập đoàn và các đơn vị đã thực hiện nghiêm túc công tác an toàn trên các công trình/nhà máy/giàn khoan của Tập đoàn, đảm bảo an toàn, thông suốt; công tác thông tin liên lạc, ứng trực được duy trì 24/24h.
Toàn cảnh giao ban CEO tháng 11/2024
Trong tháng 10, Tập đoàn nghiêm túc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Kết luận 76-KL/TW, Nghị quyết 38/NQ-CP và hoàn thiện dự thảo xây dựng chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tối ưu hiệu quả hoạt động của từng lĩnh vực đơn vị, Tổng Giám đốc Tập đoàn đã ban hành Chỉ thị 7805/CT-DKVN về việc triển khai phòng, chống lãng phí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong bối cảnh mới, tận dụng các nguồn lực để tăng trưởng.
Các chỉ tiêu sản xuất trọng yếu của Tập đoàn trong tháng 10/2024 đều hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 3-84,3%, đặc biệt tất cả các chỉ tiêu đều có tăng trưởng so với tháng 9. Đồng thời, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu tài chính kế hoạch tháng 10/2024 từ 16% – 3,7 lần.
Các điểm cầu trực tuyến.
Tính chung 10 tháng, toàn Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch được HĐTV giao từ 0,1-18,3%, trong đó có nhiều chỉ tiêu tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2023 như sản xuất urea, sản xuất điện, sản xuất xăng dầu, sản xuất NPK… Tổng doanh thu 10 tháng của toàn Tập đoàn đạt 820,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2023, hoàn thành kế hoạch được giao trước 3 tháng. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn 10 tháng đạt 129,15 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2023.
Đặc biệt, 10/22 đơn vị thành viên của Tập đoàn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch về doanh thu hợp nhất, trong đó 17/22 đơn vị có tăng trưởng về doanh thu so với cùng kỳ năm 2023. Kết quả này tiếp tục khẳng định mục tiêu duy trì tăng trưởng của Petrovietnam và các đơn vị thành viên dù gặp nhiều khó khăn, thách thức.
Công tác an toàn trên các công trình dầu khí luôn được đảm bảo an toàn (Ảnh minh họa)
Với những kết quả đạt được, Petrovietnam được vinh danh ở vị trí dẫn đầu trong Top 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam 2024; lần thứ 6 được vinh danh là doanh nghiệp dẫn đầu Top 500 Doanh nghiệp có lợi nhuận tốt nhất Việt Nam; nằm trong Top 3 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2024.
Trong công tác đầu tư, Tập đoàn luôn xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ góp phần duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn liên quan đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm, Tập đoàn đã thúc đẩy triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy công tác đầu tư. Tính đến tháng 10/2024, giá trị giải ngân toàn Tập đoàn đạt 27,1 nghìn tỷ đồng, tăng 90% so với cùng kỳ năm 2023. Kết quả này cao hơn mức giải ngân vốn đầu tư công cả nước trong 10 tháng. Giá trị đầu tư của toàn Tập đoàn cũng đạt 23,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2 lần so với cùng kỳ 2023.
NMNĐ Sông Hậu 1 hoàn thành kế hoạch sản lượng năm 2024 trước 2 tháng.
Bên cạnh công tác sản xuất kinh doanh, Tập đoàn cũng dành nhiều nguồn lực cho hoạt động an sinh xã hội với tổng giá trị hơn 514 tỷ đồng trong 10 tháng qua với nhiều hình thức như hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, hưởng ứng chương trình “Xóa nhà tạm, nhà dột nát”, hỗ trợ các chương trình giáo dục, y tế. Đặc biệt, trong công tác tái thiết thôn Kho Vàng (Lào Cai), Petrovietnam đã và đang tích cực phối hợp với chính quyền địa phương hoàn thành các thủ tục liên quan để đảm bảo tiến độ hoàn tất dự án vào cuối năm 2024.
Kho LNG Thị Vải.
Trong những tháng còn lại của năm 2024, Petrovietnam tiếp tục tập trung đảm bảo tiến độ các dự án trọng điểm Tập đoàn đang triển khai. Đồng thời, triển khai các giải pháp cụ thể nhằm tiết giảm chi phí, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất hoạt động của các công trình, nhà máy… để đảm bảo thực hiện mục tiêu của cả năm 2024.
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh, trong thời gian còn lại của năm 2024, Tập đoàn và các đơn vị phải tiếp tục đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành cao nhất kế hoạch được giao, nhất là các chỉ tiêu về tổng doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách Nhà nước, phấn đấu đạt mốc tổng doanh thu 1 triệu tỷ đồng. Đây vừa là mục tiêu đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển bền vững của Tập đoàn, vừa là động lực, thể hiện quyết tâm đóng góp cao nhất có thể cho ngân sách quốc gia, qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn chủ trì giao ban.
Đánh giá cao kết quả đạt được của các đơn vị thành viên trong tháng 10, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn đề nghị các đơn vị tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, phát huy những sáng kiến đổi mới sáng tạo, có giải pháp cụ thể chất lượng, tăng cường tối ưu hoạt động sản xuất, tận dụng các nguồn lực để tập trung hoàn thành cao nhất kế hoạch cả năm. Tổng Giám đốc cũng đề nghị tiếp tục rà soát công tác đầu tư, quản trị danh mục đầu tư, tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo công tác đầu tư tại Tập đoàn được thúc đẩy, khắc phục khó khăn vướng mắc, chống lãng phí tại các dự án.
Toàn cảnh công trường thi công chân đế điện gió ngoài khơi.
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cũng lưu ý các đơn vị tập trung rà soát kế hoạch năm 2025, qua đó bám sát tình hình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2021-2025, chuẩn bị xây dựng kế hoạch giai đoạn tiếp theo đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của Tập đoàn. Đồng thời, sẵn sàng tổ chức xây dựng chiến lược phát triển của từng đơn vị, từng lĩnh vực đồng bộ với chiến lược phát triển của Tập đoàn và ngành Dầu khí.
Phương Thảo – Hiền Anh
Áp thuế VAT cho phân bón: Câu chuyện Doanh nghiệp và nông dân ngồi chung “một thuyền”
(Chinhphu.vn) – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Trung cho biết, khi Bộ làm việc với Hiệp hội phân bón Việt Nam và các doanh nghiệp thì họ đều hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là mặt hàng phân bón đến với người nông dân giá giá phải hợp lý và càng rẻ càng tốt để giảm chi phi đầu vào.
Hiện tượng được mùa giá phân bón lên cũng khiến nhiều người nông dân e ngại – Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Trăn trở liệu giá phân bón có tăng khi áp thuế VAT ?
Hợp tác xã (HTX) dịch vụ nông nghiệp Long Giang (ấp Đá Bạc A, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) hiện có hơn 30 ha, bao gồm diện tích của HTX và diện tích liên kết với các hộ.
Ông Phạm Trường Giang, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Long Giang cho biết với doanh thu mỗi ha khoảng 17 triệu đồng/vụ thì lợi nhuận thu được khoảng từ 30 – 35%, còn lại là chi phí sản xuất, trong đó, chi phí phân bón chiếm 40%.– cho hay, giá phân bón tăng cao, nếu làm không khéo, bà con trong HTX sẽ không thu được con số lợi nhuận trên.
Khoảng 2 năm trở lại đây, giá lúa luôn đứng ở mức cao. Tuy vậy, giá lúa tăng kéo theo vật tư nông nghiệp đầu vào tăng. Không chỉ giá vật tư nông nghiệp tăng cao.
Tại Cần Thơ, câu chuyện chi phí vật tư nông nghiệp đầu vào cũng là vấn đề được những người nông dân đặc biệt quan tâm. HTX Vườn cây ăn trái Trường Khương A (ấp Trường Khương A, xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ) chuyên trồng vú sữa và sầu riêng.
Ông Trần Văn Chiến, Giám đốc HTX trồng cây ăn trái Trường Khương A chia sẻ, hiện nay bà con hướng đến hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để hạ giá thành sản phẩm. “Mấy năm trước, chúng tôi bán sầu riêng quanh mức 30 – 40 nghìn đồng/1kg, năm vừa rồi 60 – 70 nghìn đồng/1kg. Hiện tại giá sầu riêng Ri6 tầm 140 nghìn đồng/kg, sầu riêng monthong 160 nghìn đồng/kg, giá sầu riêng Ri6 130 – 140 nghìn đồng/kg. Giá biến động mạnh, bà con trồng sầu riêng cũng khá lo lắng, bởi nhiều người chạy theo giá sẽ đẩy mạnh bón phân, chăm sóc cây sầu riêng, sẽ khiến giá thành đội lên. Thị trường chưa ổn định, nếu giá sầu riêng tụt giảm bất ngờ, thì ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Bàn về câu chuyện hiện nay Quốc hội đang thảo luận đưa phân bón từ diện không chịu thuế sang chịu thuế VAT 5%, bà Trần Thị Thiên Thư, Phó chủ tịch Hội Nông dân TP. Cần Thơ cho biết khi nói đến việc áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón thì mặc nhiên người nông dân suy nghĩ đến việc mua phân bón sẽ bị tăng so với khi không đánh thuế.
“Tuy nhiên ở góc độ điều hành vĩ mô, nông dân và người dân tin tưởng vào sự điều hành của Chính phủ, sự tham mưu của các đơn vị chuyên môn thì Chính phủ có bài toán làm sao hài hòa nhất để vừa đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp, vừa đảm bảo người nông dân được hưởng lợi nhiều nhất. Cũng có thể khi áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón nhưng mức giá bán ra bằng hoặc thấp hơn so với không áp thuế. Nông dân cũng kỳ vọng doanh nghiệp sẽ chia sẻ phần lợi nhuận và hướng tới người nông dân để cùng phát triển bền vững”, bà Thư nói thêm.
Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Giám đốc Nhà máy Đạm Cà Mau cho rằng, nông dân và doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi một doanh nghiệp có được một khoản tiền quỹ từ việc giảm chi phí sản xuất để nghiên cứu khoa học, họ sẽ đầu tư rất nhiều vào việc cải tiến, phát triển công nghệ. Việc này giúp nâng công suất, giảm giá thành và người nông dân là người tiêu dùng cuối sẽ được hưởng lợi.
“Thực tế nếu chi phí sản xuất cao quá, nông dân sẽ bỏ ruộng. Phân bón sẽ bán cho ai? Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng muốn bán phân bón với giá rẻ. Muốn vậy, doanh nghiệp phải có nguồn ngân sách để đầu tư nghiên cứu khoa học, cải tiến công nghệ. Khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón có lời và duy trì được”, ông Nguyễn Văn Sơn nói.
Phân bón của các doanh nghiệp lớn trong nước không chỉ tiêu thụ nội địa mà đã xuất khẩu nhiều quốc gia trên thế giới – Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Doanh nghiệp có nguồn lực thì mới có cơ sở cho người nông dân hưởng lợi
Cũng về câu chuyện áp thuế này, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Trung cho biết quan điểm của Bộ là ủng hộ việc áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón.
Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, xét cho cùng thì chúng ta đang muốn tạo điều kiện tối đa để cho doanh nghiệp có thêm nguồn lực bổ sung thêm sản phẩm, cải thiện hệ thống dây chuyền, mua thêm trang thiết bị và công nghệ sản xuất và quan trọng nhất là hạ giá thành phân bón xuống, khi đó thì mới có lợi cho người nông dân.
“Quan trọng nhất khi mặt hàng phân bón đến với người nông dân là giá giá phải hợp lý và càng rẻ càng tốt để giảm chi phi đầu vào. Khi Bộ NN&PTNT khi làm việc với Hiệp hội phân bón Việt Nam và các doanh nghiệp thì họ đều hướng tới mục tiêu đó. Việc áp thuế VAT để các doanh nghiệp có thêm nguồn lực để nâng cao công nghệ, từ đó giảm giá thành sản xuất mỗi tấn phân bón, góp phần giúp người dân mua được các loại vật tư, phân bón giá rẻ hơn, hợp lý hơn, từ đó giảm chi phí đầu vào và nâng cao lợi nhuận thu được”, Thứ trưởng Hoàng Trung cho biết.
Ngày 29/10, Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi). Ông Lê Quang Mạnh, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật. Về thuế suất 5%, ông Lê Quang Mạnh cho hay có ý kiến nhất trí với dự thảo luật của Chính phủ, chuyển phân bón từ diện không chịu thuế sang áp dụng thuế suất 5%.
Có ý kiến khác đề nghị giữ như quy định hiện hành, vì lo ngại khi đánh thuế 5% sẽ làm tăng mặt bằng giá phân bón trên thị trường và người nông dân sẽ phải chịu tác động trực tiếp, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm nông nghiệp.
Với nội dung này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu thuế VAT đối với phân bón được sửa đổi từ năm 2014 tại Luật Thuế VAT, chuyển từ diện đang chịu thuế suất 5% sang diện không chịu thuế. Chính sách này đã gây ảnh hưởng bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước suốt thời gian vừa qua.
Vì thuế VAT đầu vào của các doanh nghiệp này không được khấu trừ, phải hạch toán vào chi phí, bao gồm cả thuế đầu vào rất lớn đối với đầu tư, mua sắm tài sản cố định, làm giá thành sản xuất trong nước tăng cao, không thể cạnh tranh với nhập khẩu. Điều này đặt trong xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới từ 2015 đến trước thời điểm dịch COVID-19, đã làm nhiều doanh nghiệp trong nước lỗ lớn, phải thu hẹp sản xuất.
Ngược lại, phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do đang chịu thuế 5% được chuyển sang không chịu thuế và vẫn được hoàn toàn bộ thuế VAT đầu vào.
Chính vì vậy, trong suốt thời gian vừa qua, các Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT, Kiểm toán Nhà nước, các đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang, Cà Mau, Bình Định, Hải Phòng, Nam Định, Tiền Giang… Hiệp Hội phân bón, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đã liên tục kiến nghị chuyển lại mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế VAT sang đối tượng chịu thuế suất 5%.
Đỗ Hương
TCT Phân bón và Hóa chất Dầu khí được vinh danh “Doanh nghiệp vì cộng đồng” tại Saigon Times CSR 2024
Ngày 14/11/2024, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – Nhà sản xuất và kinh doanh Phân bón Phú Mỹ) đã lần thứ 4 liên tiếp được vinh danh là “Doanh nghiệp phát triển bền vững vì cộng đồng” tại sự kiện Saigon Times CSR 2024 do Tạp chí Kinh tế Sài Gòn tổ chức. Giải thưởng này ghi nhận những đóng góp tích cực của PVFCCo – Phú Mỹ không chỉ đối với cộng đồng mà còn trên các lĩnh vực môi trường, trách nhiệm quốc gia và người lao động, minh chứng cho cam kết sâu sắc của công ty đối với trách nhiệm xã hội (CSR).
Về trách nhiệm môi trường, PVFCCo đi đầu trong bảo vệ môi trường thông qua các sáng kiến thiết thực và chương trình xanh hóa trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, giảm thiểu tác động đến môi trường. Thời gian qua, Nhà máy Đạm Phú Mỹ của PVFCCo đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thích ứng và phát triển bền vững trong giai đoạn mới như tái khởi động dự án hợp tác sản xuất hơi cao áp (HP) bằng lò hơi biomass (công suất 37 tấn/giờ); tối ưu hóa nguồn khí nhiên liệu bằng giải pháp chuyển đổi máy phát turbine khí với nguồn điện lưới EVN; thu hồi năng lượng nước của dòng condensate xưởng NH3;… PVFCCo cũng đã đưa vào chiến lược dài hạn nghiên cứu triển khai các dự án thay thế nguồn khí nguyên/nhiên liệu bằng Hydro xanh, NH3 xanh, biomass… Song song với đó, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu và đóng góp thiết thực vào chương trình giảm lượng phát thải khí nhà kính, hướng đến mục tiêu “Net Zero”, đơn vị đã tổ chức triển khai chương trình trồng 300.000 cây xanh trong toàn Tổng công ty giai đoạn 2022-2025 trên phạm vi toàn quốc.
Về khía cạnh quan tâm đến người lao động, xác định con người là vốn quý nhất đối với doanh nghiệp, PVFCCo dành sự quan tâm lớn đến phúc lợi và phát triển của người lao động. Cùng với việc đảm bảo công ăn, việc làm cho người lao động, các chế độ về chính sách tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, đào tạo… của người lao động luôn được quan tâm và được hưởng với các chế độ, điều kiện tốt nhất. Với sự tận tâm từ phía công ty, mỗi thành viên Phú Mỹ luôn coi nơi đây như một “đại gia đình,” không ngừng nỗ lực và gắn bó để phát triển cùng công ty
Ngoài ra, bên cạnh việc sản xuất kinh doanh hiệu quả thì công tác an sinh xã hội, vì cộng đồng là nét văn hoá nổi bật, là một trong các giá trị cốt lõi được PVFCCo chú trọng thực hiện trong nhiều năm qua. Trong suốt hơn 20 năm từ khi thành lập đến nay, PVFCCo đã liên tục triển khai hàng loạt hoạt động an sinh xã hội trên khắp cả nước, với tổng giá trị hơn 1.200 tỷ đồng, với gần 26.000 căn nhà đại đoàn kết, gần 300 công trình y tế – giáo dục, cầu nông thôn, hàng trăm nghìn phần quà cứu trợ nạn nhân thiên tai, quà Tết cho người nghèo, học bổng cho học sinh sinh viên… Các hoạt động được thực hiện có trách nhiệm, tận tâm, đã góp phần làm nên nét văn hóa “Sẻ chia” của Phú Mỹ,
Xuyên suốt các hoạt động, PVFCCo củng cố quan điểm rằng thành công lâu dài không chỉ đến từ thành tựu kinh tế mà còn từ những đóng góp có ý nghĩa cho xã hội. Xác định kinh doanh đi kèm với thực hiện trách nhiệm xã hội, PVFCCo khẳng định sẽ luôn một đơn vị ủng hộ mạnh mẽ cho phát triển bền vững – một doanh nghiệp vì cộng đồng tại Việt Nam
PVFCCo và PV GAS tăng cường hợp tác vì sự phát triển bền vững
Chiều ngày 11/11/2024, tại trụ sở PVFCCo, Ban lãnh đạo PVFCCo và PV GAS đã có buổi làm việc, trao đổi về các vấn đề liên quan đến tình hình cung cấp khí, nguồn khí, giá khí năm 2024, định hướng triển khai cho hợp đồng mua bán khí năm 2025; đặc biệt, hai bên đã tiến hành ký kết “Thỏa thuận hợp tác” lâu dài với các nội dung đã được lãnh đạo 02 đơn vị trao đổi và thống nhất.
Tham dự buổi làm việc, về phía PVFCCo có ông Nguyễn Xuân Hòa – Chủ tịch HĐQT TCT; ông Phan Công Thành – Tổng giám đốc TCT cùng các ông/bà trong HĐQT, Ban TGĐ và đại diện các Ban chức năng có liên quan của PVFCCo.
Về phía PV GAS có ông Nguyễn Thanh Bình – Chủ tịch HĐQT TCT, ông Phạm Văn Phong – Tổng giám đốc TCT cùng ông/bà thành viên HĐQT, Ban TGĐ và đại diện các Ban chức năng liên quan của PV GAS.
Lãnh đạo PVFCCo cho biết, từ những ngày đầu thành lập, PVFCCo và PV GAS đã luôn chia sẻ chung mục tiêu, đó là phát triển bền vững, mang lại giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp dầu khí cũng như nền kinh tế quốc gia. PV GAS với sứ mệnh đảm bảo nguồn cung cấp khí tự nhiên, và PVFCCo với vai trò tiên phong trong sản xuất phân bón và hóa chất, đã kết hợp với nhau một cách ăn ý, tận dụng nguồn tài nguyên khí để tạo ra các sản phẩm thiết yếu cho ngành nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Chặng đường hơn 20 năm hợp tác và phát triển giữa PVFCCo và PV GAS đã đạt được những thành tựu to lớn và đáng tự hào. Các hợp đồng cung cấp khí đã được thực hiện hiệu quả, đảm bảo nguồn cung ổn định cho các nhà máy của PVFCCo, tạo dựng thương hiệu Việt Nam trong lĩnh vực phân bón và hóa chất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và giá trị cho khách hàng.
Phát biểu tại buổi làm việc, lãnh đạo PV GAS chia sẻ quan điểm rằng, mối quan hệ hợp tác giữa hai bên là mối quan hệ tương hỗ, không đơn thuần chỉ là quan hệ người bán hàng – khách hàng mà còn là anh em chung một mái nhà Petrovietnam. Do đó, trong bối cảnh ngày càng khó khăn do nguồn khí nội địa suy giảm, hai bên cần có sự hợp tác, hỗ trợ nhau chặt chẽ hơn nữa để cùng tìm ra giải pháp phát triển ổn định trong thời gian tới.
Lãnh đạo PV GAS khẳng định, sự hợp tác giữa hai bên sẽ dựa trên quan điểm hợp tác hiệu quả lâu dài với tinh thần hài hòa lợi ích, cùng nhau phát triển.
Trong chương trình buổi làm việc, hai bên đã trao đổi, thảo luận các nội dung liên quan về nguồn khí, giá khí; những giải pháp về nguồn khí, giá khí trong năm 2024, 2025 và giai đoạn tới; những cơ hội và phương án hợp tác dựa trên thế mạnh của hai đơn vị…
Tại buổi làm việc, sau khi trao đổi và thống nhất được các nội dung, đại diện PVFCCo và PV GAS đã tiến hành ký kết thỏa thuận hợp tác. Đây được đánh giá là một bước tiến mới, thể hiện rõ quyết tâm của cả hai bên trong việc tăng cường liên kết, tạo sức mạnh tổng hợp để cùng phát triển bền vững.
Với mục tiêu phát huy tối đa thế mạnh của mỗi bên, thỏa thuận hợp tác được đánh giá sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho hai bên, gồm: Cung cấp và tiêu thụ nguồn khí trong nước một cách có hiệu quả; tìm kiếm để nhập khẩu và tiêu thụ các nguồn LNG có giá cả phù hợp cho việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm phân bón, hóa chất; nhập khẩu, kinh doanh các sản phẩm hóa chất tại thị trường trong nước; Tăng cường quan hệ hợp tác giữa các bên, tương trợ, phát huy khả năng và thế mạnh của mỗi bên trong việc triển khai các nội dung hợp tác nhằm đảm bảo nguồn cung khí nguyên liệu dài hạn, phù hợp với việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm phân bón, hóa chất, mở rộng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh đối với các sản phẩm do các bên sản xuất/kinh doanh, gia tăng tính liên kết trong các chuỗi giá trị dầu khí.
Lãnh đạo PVFCCo và PV GAS mong muốn, sau khi ký thỏa thuận hợp tác thì hai bên sẽ cùng tạo điều kiện thuận lợi nhất để triển khai các nội dung hợp tác một cách hiệu quả và tạo ra những kết quả cụ thể trong thời gian sớm nhất.
Đạm Phú Mỹ và NPK Phú Mỹ tiếp tục được công nhận là “Thương hiệu Quốc gia”
TP.Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 11 năm 2024 – Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) cho biết đơn vị tiếp tục được công nhận là “Thương hiệu Quốc gia” năm 2024 với 2 nhãn hiệu nổi tiếng là Đạm Phú Mỹ và NPK Phú Mỹ.
Đây cũng là lần thứ 6 liên tiếp PVFCCo có được vinh dự này kể từ lần tham gia đầu tiên năm 2014, tiếp tục khẳng định vị thế của mình là doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực nông nghiệp, nằm trong nhóm những thương hiệu có giá trị nhất tại Việt Nam, tiếp tục củng cố vị thế của mình không chỉ ở thị trường nội địa mà còn vươn tầm ra quốc tế.
Với Slogan “Cho mùa bội thu”, sau hai thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay PVFCCo đã có bộ sản phẩm phân bón khá toàn diện gồm Đạm Phú Mỹ, các công thức đa dạng của NPK Phú Mỹ, Kali Phú Mỹ và các dòng sản phẩm chuyên dụng dành cho nông nghiệp đô thị. PVFCCo đã thực hiện xuất sắc sứ mệnh chính trị của mình khi cung ứng cho ngành nông nghiệp gần 20 triệu tấn phân bón chất lượng cao với giá cả hợp lý, góp phần giữ ổn định thị trường trong nước và thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp, đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản của thế giới.
Lễ công bố các đơn vị được công nhận là đối tác của chương trình THQG chỉ là bước đầu tiên; tiếp đó các doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu của mình, tham gia tích cực vào các hoạt động chung của chương trình để cùng nhau tạo nên một thương hiệu quốc gia ngày càng mạnh mẽ, có giá trị ngày càng lớn, đủ sức đua tranh với THQG của các nước khác trên thế giới. PVFCCo với tiềm lực của mình cam kết sẽ là một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động này.
Được biết, Thương hiệu Quốc gia Việt Nam không phải là một giải thưởng hay danh hiệu, mà là một chương trình xúc tiến thương mại đặc biệt và dài hạn của Chính phủ, được thiết lập nhằm xây dựng và phát triển một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam thông qua việc nâng tầm các thương hiệu nội địa uy tín. Tham gia vào chương trình này không chỉ giúp các doanh nghiệp tự đánh giá và cải thiện toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn hỗ trợ họ xây dựng chiến lược thương hiệu vững chắc theo những tiêu chí khắt khe. Chương trình khuyến khích doanh nghiệp theo đuổi và lan tỏa ba giá trị cốt lõi: “Chất lượng – Đổi mới, sáng tạo – Năng lực tiên phong”.
Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế sửa đổi nguy cơ vào ‘vết xe đổ câu chữ’
Việc hiểu sai giữa thuế GTGT 0% với không chịu thuế khiến ngành phân bón bầm dập gần một thập kỷ, nay Điều 15 Luật Thuế GTGT sửa đổi lại tồn tại kẽ hở lớn.
Nguy cơ “lãi giả lỗ thật” vì chữ “chỉ”
Theo ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, đa phần các doanh nghiệp hiện kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%.
Do đó, Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) sửa đổi đang được Quốc hội thảo luận để thông qua trong kỳ họp tới đây cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…
Ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam.
Luật Thuế GTGT được ban hành lần đầu vào năm 1997, thay thế cho thuế doanh thu và đã trải qua nhiều sửa đổi quan trọng, đặc biệt vào các năm 2008, 2013, 2015 và 2016. Sau 15 năm kể từ sửa đổi năm 2008, cách thức thực hiện thuế GTGT đã có những thay đổi cơ bản, phản ánh sự phát triển trong quản lý hóa đơn của doanh nghiệp và sự biến chuyển trong tiêu dùng và cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhờ tiến bộ công nghệ.
Tuy nhiên, luật này cũng bộc lộ nhiều bất cập, như phạm vi đối tượng không chịu thuế còn rộng, ảnh hưởng đến khả năng khấu trừ thuế đầu vào và tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp. Cấu trúc các mức thuế suất cần được xem xét lại để phù hợp với Chiến lược cải cách và xu hướng chung.
Ngoài ra, nhiều vấn đề trong quản lý thuế GTGT, như khấu trừ thuế đầu vào mà không kê khai nộp thuế đầu ra cũng đã phát sinh, cùng với đó là các bất cập trong thực hiện hoàn thuế GTGT…
Liên quan đến nội dung sửa đổi quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng tại dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ. Tại Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo “Các trường hợp hoàn thuế”…Cơ sở kinh doanh “chỉ” sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế GTGT”.
Với quy định này, nếu doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên không được hoàn thuế. Điều này không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên. Hệ quả, giá bán phân bón không giảm được bao nhiêu, không hỗ trợ được nhiều cho bà con nông dân, doanh nghiệp gặp tình trạng lãi giả lỗ thật, ngoài ra còn ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước.
Trao đổi về vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho rằng, trong thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa Luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…
Ông Được lấy ví dụ, doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.
Do đó, thuật ngữ “chỉ” sẽ làm giới hạn đối tượng được hoàn thuế và không đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5%…
Các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước gần 10 năm trời ròng rã kiến nghị được quay lại mức thuế GTGT 5% như trước năm 2015.
Phân tích sâu về điều này, ông Nguyễn Văn Được cho biết thêm, người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế GTGT của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế GTGT theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%.
Quy định về cách tính số thuế hoàn thuế và khống chế mức thuế được hoàn nêu trên tương tự đối với trường hợp người nộp thuế có hoạt động xuất khẩu và hoạt động kinh doanh nội địa đã được áp dụng ổn định nhiều năm qua.
Do đó, ông Được đề nghị bỏ từ “chỉ” để cho phép hoàn thuế đối với đối tượng sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% cho đúng bản chất nhưng “phải bù trừ với các hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế khác” đồng thời, phải thực hiện “phân bổ” số thuế GTGT theo tỷ lệ chịu thuế 5% so với tổng hàng hóa dịch vụ của người nộp thuế.
“Chỉ cần bỏ từ “chỉ”, tất cả các doanh nghiệp có 01 hay 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên đều được đối xử bình đẳng. Điều này giúp doanh nghiệp có điều kiện và động lực để liên tục đầu tư phát triển, đổi mới, đa dạng sản phẩm, có thêm nguồn lực đem lại lợi ích cho nền kinh tế”, ông Nguyễn Văn Được nhấn mạnh.
Sẽ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế GTGT
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính) chuyên gia cao cấp về thuế phân tích, theo quy định này, có thể hiểu là doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên không được hoàn thuế. Điều này là không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên.
Là một chuyên gia về thuế, ông Phụng cho rằng, trên thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa Luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…
Đơn cử, doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.
“Tới đây tôi cũng sẽ có văn bản kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này, bằng tâm huyết của người cả đời làm thuế”, ông Nguyễn Văn Phụng nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Văn Phụng, chuyên gia cao cấp về thuế, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp.
Từ câu chuyện Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế GTGT (sửa đổi) quay trở lại trước năm 2015, do khủng hoàng kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước và doanh nghiệp ngành nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Nhằm tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phân bón trong nước có không gian phát triển, giảm bớt kho khăn, Chính phủ cùng các Bộ, Ngành, Hiệp hội và doanh nghiệp thống nhất đề xuất chỉnh sửa, bổ sung Luật Thuế GTGT, tiền đề để Luật Thuế số 71 ra đời sau này.
Theo đó, thuế suất GTGT mặt hàng phân bón và một số máy móc, sản phẩm nông nghiệp đang chịu mức thuế suất GTGT 5% được đề nghị chuyển sang không chịu thuế (đúng ra là phải chuyển sang thuế GTGT 0%).
Nhầm lẫn tai hại mà đến giờ không rõ do “lỗi” ở đâu và từ cơ quan nào mà sau khi Luật Thuế số 71 có hiệu lực từ 1/1/2015, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước “than khóc” ròng rã gần 10 năm trời chỉ với một mong muốn là xin được quay trở lại mức thuế GTGT 5% như trước 2015.
Nay, “chi tiết” Khoản 3, Điều 15 cũng đang nguy cơ rất giống câu chuyện thuế suất GTGT phân bón 0% hay không chịu thuế như câu chuyện Luật Thuế số 71 năm 2015 gần 10 năm về trước, đòi hỏi các bên cầm cân nảy mực phải hết sức cân nhắc và tỉnh táo, tránh ban hành rồi lại gian nan, trường kỳ kiến nghị sửa.
Bên cạnh đó, ngoài mức thuế GTGT 0% và 5%, các cơ quan chức năng cũng có thể nghĩ tới các mức thuế GTGT với mặt hàng phân bón ưu việt hơn ở mức 1%, 2%, 3% hoặc 4%. Tuy nhiên, khi trao đổi với một số chuyên gia về thuế, mức thuế suất GTGT từ 1- 4% hiện chưa có tiền lệ với cả Việt Nam cũng như trên thế giới, nên mốc 0% hoặc 5% vẫn là con số gần nhất và hài hòa nhất với lợi ích các bên.
Chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được đề nghị sửa Khoản 3 Điều 15 Luật Thuế GTGT sửa đổi như sau:
Cơ sở kinh doanh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% (trừ hoạt động thanh lý tài sản) nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết sau khi bù trừ với số thuế giá trị gia tăng của hoạt động kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng khác từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 04 quý liên tục được hoàn thuế giá trị gia tăng.
Người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5%.