Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Tại sao áp thuế giá trị gia tăng 5% giá phân bón lại giảm?

Khi áp thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) 5%, giá phân bón nội địa sẽ giảm so với không chịu thuế. Điều nghe tưởng như nghịch lý này lại rất có lý và là một thực tế đang diễn ra hiện nay.

Giả sử chi phí mua nguyên liệu, vật tư, dịch vụ… đầu vào của một doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước là 80 đồng. DN phải nộp thuế GTGT 10% cho các nguyên liệu, vật tư, dịch vụ này là 8 đồng.

Khi sản xuất ra sản phẩm phân bón, doanh nghiệp dự kiến bán với giá không có thuế GTGT là 100 đồng. Thêm vào đó, khoản thuế GTGT đầu vào 8 đồng không được khấu trừ (do không có thuế GTGT đầu ra theo Luật số 71/2014/QH13 hiện hành) nên doanh nghiệp phải cộng vào giá bán, thành 108 đồng. Do đó, tuy không phải chịu thuế GTGT (đầu ra), nhưng nông dân (người mua cuối cùng) phải chịu khoản thuế GTGT đầu vào này.

Nếu phân bón chịu thuế GTGT 5% như nhiều đề xuất hiện nay, doanh nghiệp sẽ được Nhà nước hoàn lại khoản thuế GTGT đầu vào 8 đồng kia; đồng thời Nhà nước thu từ nông dân thuế GTGT 5% là 5 đồng. Khi đó giá bán tới nông dân gồm 100 đồng là phần của DN cộng với 5 đồng là phần của Nhà nước, tổng cộng là 105 đồng.

Tại sao áp thuế giá trị gia tăng 5% giá phân bón lại giảm?
Tại sao áp thuế giá trị gia tăng 5% giá phân bón lại giảm?

Rõ ràng giá bán đã bao gồm thuế GTGT 5% (105 đồng) thấp hơn giá bán không có thuế GTGT đầu ra nhưng phải chịu thuế GTGT đầu vào (108 đồng). Vì vậy, khi áp thuế GTGT 5%, chính nông dân là người hưởng lợi, khi phải chịu thuế GTGT ít đi. Còn DN trong cả hai trường hợp vẫn chỉ nhận về 100 đồng.

Sở dĩ có chuyện này vì nếu chi phí nguyên liệu, vật tư, dịch vụ… chịu GTGT 10% mà chiếm tỷ trọng lớn hơn 50% giá bán chưa thuế GTGT, thì khoản thuế GTGT đầu vào này (trong ví dụ trên là 8 đồng) sẽ lớn hơn khoản thuế GTGT đầu ra 5% (trong ví dụ trên là 5 đồng). Đây là lý do các doanh nghiệp trong nước sản xuất phân bón từ nguyên liệu, vật tư đến dịch vụ nội địa kiên trì kiến nghị áp thuế GTGT 5% cho phân bón vì mục tiêu giảm giá phân bón tới nông dân.

Thế nhưng, với các doanh nghiệp sản xuất phân bón hoàn toàn từ nguyên liệu nhập khẩu không chịu thuế GTGT cả ở nước xuất khẩu lẫn ở Việt Nam, tình hình sẽ diễn ra ngược lại. Khi đó việc áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá bán tới nông dân so với khi không áp thuế.

Ví dụ, doanh nghiệp nhập nguyên liệu như ure, kali, DAP để sản xuất phân NPK. Chi phí nhập nguyên liệu là 80 đồng (giống như doanh nghiệp sản xuất trong nước), tuy nhiên khoản chi phí này không phải chịu thuế GTGT đầu vào. Do vậy khi DN bán sản phẩm với giá 100 đồng (không có thuế GTGT), họ không phải cộng phần thuế GTGT đầu vào như DN sử dụng nguyên liệu, dịch vụ nội địa (khí, than…). Nhưng nếu áp thuế GTGT 5%, họ sẽ phải thu khoản này từ nông dân, và giá bán tới nông dân sẽ là 105 đồng, tăng thêm 5 đồng.

Đây cũng chính là lý do khiến các doanh nghiệp này không muốn áp thuế GTGT 5% cho phân bón. Do nguyên liệu đều là hàng nhập khẩu nên thực chất dạng sản xuất này mang lại lợi ích cho nước xuất khẩu các nguyên liệu đó, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa hàng nội địa thuần túy và hàng phối trộn từ nguyên liệu là các loại phân bón nhập khẩu.

Và một khi áp thuế GTGT 5%, sự bất cập đó sẽ được giải quyết, đưa hàng trong nước và hàng nhập khẩu/sản xuất từ nguyên liệu phân bón nhập khẩu về mặt bằng chung, tạo sự cạnh tranh bình đẳng.

KHÁNH AN

Chuyên gia Thuế đề xuất sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT

(PetroTimes) – Chia sẻ với phóng viên PetroTimes, ông Nguyễn Văn Phụng – chuyên gia cao cấp về thuế, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp lớn khẳng định, cần phải sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ.

Theo ông Phụng nên bỏ từ “chỉ” trong cụm “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

Chuyên gia Thuế đề xuất sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT

Ông Phụng đề xuất cần phải sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ.

Mới đây trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ tại dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT, tại Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo – Các trường hợp hoàn thuế có nêu: “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

Ông Nguyễn Văn Phụng phân tích, theo quy định này có thể hiểu là doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% thì mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên thì không được hoàn thuế. Điều này là không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên.

Là một chuyên gia về Thuế, ông Phụng cho rằng trên thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Đơn cử doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% thì doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác thì lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.

Do đó, thuật ngữ “chỉ” sẽ làm giới hạn đối tượng được hoàn thuế và không đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Bởi vậy, ông Phụng đề xuất bỏ từ “chỉ” trong cụm “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

“Như vậy mới thoả mãn yêu cầu của chính sách và tính chất liên hoàn của thuế GTGT. Tới đây tôi cũng sẽ có văn bản kiến nghị lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này” – bằng tâm huyết của người “cả đời” làm Thuế, ông Phụng nhấn mạnh.

Phải giải thích cho nông dân áp thuế VAT 5% là người dân hưởng lợi chứ không phải giá phân sẽ tăng lên 5%

 

Cũng theo ông Phụng, lỗi của chúng ta là năm 2014 không có đầy đủ thông tin, số liệu để báo cáo Quốc hội rằng phân bón chịu thuế 5% tốt hơn không chịu thuế. Thay vì vậy, thuế VAT thấp ở mức độ vừa phải sẽ có lợi hơn rất nhiều so với chuyển vào nhóm đối tượng không chịu thuế VAT. Mười năm qua đã cho chúng ta bức tranh toàn cảnh.

“Tôi đề nghị Hiệp hội phân bón bố trí buổi làm việc, để tôi đưa ra thông tin nếu áp thuế VAT 5% giả định thì thu ngân sách, đầu vào, đầu ra, giá bán như thế nào. Chúng ta cũng có cơ hội giảm giá cho bà con, do đầu vào được khấu trừ, đầu ra thông thương với thế giới. Đồng thời, phải giải thích cho nông dân áp dụng thuế VAT 5% là người dân hưởng lợi chứ không phải giá phân sẽ tăng lên 5%. Chúng tôi đề nghị doanh nghiệp giữ nguyên giá hoặc hạ giá bán cho bà con”- ông Phụng khẳng định.

Minh Tiến

Chuyên gia Thuế đề xuất sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT

(PetroTimes) – Chia sẻ với phóng viên PetroTimes, ông Nguyễn Văn Phụng – chuyên gia cao cấp về thuế, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp lớn khẳng định, cần phải sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ.

Theo ông Phụng nên bỏ từ “chỉ” trong cụm “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

Chuyên gia Thuế đề xuất sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT

Ông Phụng đề xuất cần phải sửa Điều 15 trong dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ.

Mới đây trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ tại dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT, tại Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo – Các trường hợp hoàn thuế có nêu: “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

Ông Nguyễn Văn Phụng phân tích, theo quy định này có thể hiểu là doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% thì mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên thì không được hoàn thuế. Điều này là không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên.

Là một chuyên gia về Thuế, ông Phụng cho rằng trên thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Đơn cử doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% thì doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác thì lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.

Do đó, thuật ngữ “chỉ” sẽ làm giới hạn đối tượng được hoàn thuế và không đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Bởi vậy, ông Phụng đề xuất bỏ từ “chỉ” trong cụm “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế giá trị gia tăng”.

“Như vậy mới thoả mãn yêu cầu của chính sách và tính chất liên hoàn của thuế GTGT. Tới đây tôi cũng sẽ có văn bản kiến nghị lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này” – bằng tâm huyết của người “cả đời” làm Thuế, ông Phụng nhấn mạnh.

Phải giải thích cho nông dân áp thuế VAT 5% là người dân hưởng lợi chứ không phải giá phân sẽ tăng lên 5%

 

Cũng theo ông Phụng, lỗi của chúng ta là năm 2014 không có đầy đủ thông tin, số liệu để báo cáo Quốc hội rằng phân bón chịu thuế 5% tốt hơn không chịu thuế. Thay vì vậy, thuế VAT thấp ở mức độ vừa phải sẽ có lợi hơn rất nhiều so với chuyển vào nhóm đối tượng không chịu thuế VAT. Mười năm qua đã cho chúng ta bức tranh toàn cảnh.

“Tôi đề nghị Hiệp hội phân bón bố trí buổi làm việc, để tôi đưa ra thông tin nếu áp thuế VAT 5% giả định thì thu ngân sách, đầu vào, đầu ra, giá bán như thế nào. Chúng ta cũng có cơ hội giảm giá cho bà con, do đầu vào được khấu trừ, đầu ra thông thương với thế giới. Đồng thời, phải giải thích cho nông dân áp dụng thuế VAT 5% là người dân hưởng lợi chứ không phải giá phân sẽ tăng lên 5%. Chúng tôi đề nghị doanh nghiệp giữ nguyên giá hoặc hạ giá bán cho bà con”- ông Phụng khẳng định.

Minh Tiến

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%

(PetroTimes) – Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng áp thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đối với phân bón sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích các bên liên quan, trong đó, người nông dân hoàn toàn có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.
Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Các chuyên gia cho rằng cần thiết đưa phân bón về chịu thuế GTGT 5% (Ảnh: Phương Thảo)

Chiều 17/10, Tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức đã đưa ra các phân tích cụ thể về nội dung này.

Doanh nghiệp “phải” tăng giá bán phân bón khi không được hoàn thuế GTGT

TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 10,5 – 11 triệu tấn các loại.

Tuy nhiên, theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2022 cả nước có 790 cơ sở sản xuất phân bón phải ngừng sản xuất hoặc không đạt yêu cầu, trong đó 261 cơ sở sản xuất phân bón vô cơ, 161 hữu cơ, 308 vừa vô cơ vừa hữu cơ. Từ năm 2018 – 2023, Việt Nam nhập khẩu từ 1 – 1,6 tỷ USD phân bón, 6 tháng đầu năm 2024 nhập 838 triệu USD.

Đối với các loại thuế liên quan đến phân bón, ông Hà thông tin thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi thông thường hiện hành là 0 – 6%; ưu đãi đặc biệt là 0 – 3% (tùy mã sản phẩm). Nhập khẩu từ các nước có hiệp định thương mại tự do với Việt Nam được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt khi đáp ứng đủ các điều kiện theo hiệp định.

Một loại thuế khác liên quan đến đông đảo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón là Luật thuế GTGT. “Luật Thuế số 71/2014/QH13 quy định phân bón, máy móc thiết bị chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp… là những mặt hàng không chịu thuế GTGT. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả thuế GTGT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón”, ông Hà nói.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT ở Luật Thuế 71 đã dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và phải hạch toán vào chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản xuất, tăng giá phân bón.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, số thuế GTGT không được khấu trừ tính vào chi phí của doanh nghiệp phân bón theo Luật Thuế 71 từ năm 2015 đến nay đã lên tới gần 10.000 tỷ đồng.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam Phùng Hà: “Doanh nghiệp Việt “đắn đo” đầu tư công nghệ, sản phẩm mới do không được hoàn thuế GTGT” (Ảnh: Phương Thảo)

“Khi không được nhận lại thuế GTGT, doanh nghiệp sản xuất phân bón có 2 lựa chọn hoặc khoản lợi nhuận trước thuế hàng năm sẽ giảm tương ứng hoặc điều chỉnh giá bán đầu ra khiến giá phân bón tới tay người tiêu dùng tăng cao”, TS. Phùng Hà phân tích.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam còn đề cập tới tác động của Luật Thuế 71 hiện hành đối với mặt hàng phân bón ảnh hưởng nặng nề đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, vì việc không áp thuế GTGT có lợi cho các nhà xuất khẩu phân bón vào Việt Nam.

Việc đầu tư sản xuất phân bón công nghệ cao, phân bón thế hệ mới cũng bị giảm động lực khi áp dụng Luật Thuế 71, bởi các doanh nghiệp nội phải “đắn đo” do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, trang thiết bị.

Do đó, TS. Phùng Hà cho rằng chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế GTGT sang đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%, nhìn một cách tổng sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích xã hội ở mức tối đa.

“Bất kể một chính sách nào nói chung và thuế nói riêng khó có thể mang lại lợi ích một lúc cho toàn bộ các bên liên quan, quan trọng là tính toán dựa trên lợi ích lâu dài, tổng thể và khả năng điều hòa lợi ích của cơ quan quản lý”, TS. Phùng Hà nhìn nhận.

Người nông dân được lợi gì khi áp thuế GTGT phân bón?

Làm rõ hơn cơ sở kiến nghị áp thuế GTGT phân bón ở mức 5%, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, hiện đang có hai luồng ý kiến trái ngược nhau: Sửa đổi thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón là hết sức cần thiết và sửa đổi thuế GTGT sẽ chỉ có lợi cho doanh nghiệp còn người nông dân thì sẽ phải chịu thiệt.

Khi thay đổi chính sách thuế GTGT sẽ tác động chủ yếu đến 3 đối tượng: Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng (người nông dân). Theo tính toán của Hiệp hội, nếu sửa đổi luật theo hướng áp thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ hài hòa lợi ích của cả ba đối tượng này. Đặc biệt, người nông dân sẽ được hưởng lợi về lâu dài.

Cụ thể, ông Ngọc chỉ ra, Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu vào ngân sách. Theo thống kê của cơ quan quản lý, số thu về thuế GTGT phân bón luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam chỉ ra 3 cơ sở để chứng minh người nông dân không bị chịu thiệt nếu áp thuế GTGT 5% đối với phân bón (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón sẽ được hưởng lợi từ việc hoàn thuế đầu vào theo công thức sau: Số thuế GTGT cần nộp = số thuế GTGT đầu ra – số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

Như vậy, doanh nghiệp có nguồn vốn để mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Hơn nữa, áp thuế GTGT phân bón còn tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

“Câu hỏi quan trọng nhất là người nông dân được lợi gì khi thuế GTGT phân bón thay đổi. Xét trong thời gian dài, người nông dân sẽ được hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT 5%, bởi doanh nghiệp sản xuất phân bón được khấu trừ thuế đầu vào nên chi phí đầu tư giảm, giá thành sản xuất sẽ giảm đi.

Doanh nghiệp có động lực đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất các loại phân bón có hàm lượng kỹ thuật cao, thế hệ mới sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, do đó tăng hiệu quả công tác trồng trọt một cách bền vững.

Nhà nước thu được một khoản thuế từ mặt hàng phân bón nên có thêm điều kiện để tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học… giúp người nông dân tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích, tăng sự cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trong nước”, TS. Nguyễn Trí Ngọc phân tích.

Như vậy, qua phân tích của hai lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam có thể thấy, phân bón chịu thuế GTGT sẽ đảm bảo được hài hòa lợi ích của 3 nhà, trong đó người nông dân có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.

Phương Thảo

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón

(PetroTimes) – Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Đình Cư đưa ra công thức hạch toán cho thấy với phương án áp thuế GTGT 5% đối với phân bón, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ, trong khi người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất.

Tại tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đến ngành phân bón” chiều 17/10, ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam nhìn nhận hầu hết các đại biểu Quốc hội, người tiêu dùng bình thường sẽ hiểu nếu áp thêm thuế GTGT thì sản phẩm bị tăng giá bán.

Nghiên cứu các đối tượng chịu ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với phân bón, ông Cư cho biết, đối với nhà nông, giá mua phân bón có thể tăng với hàng nhập khẩu vì áp thêm 5% thuế GTGT đầu vào.

Ngươc lại, với người nông dân sử dụng phân bón trong nước sẽ không bị tăng giá, thậm chí có thể giảm đi, bởi nhà sản xuất trong nước được hoàn thuế đầu vào, có cơ sở giảm chi phí sản xuất. Đặc biệt, người nông dân có cơ hội trong dài hạn giảm chi phí sản xuất do giá thành phân bón giảm.

Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu, tăng cường được việc quản lý thuế, tạo môi trường thuế bình đẳng.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp là đối tượng phải nộp thuế GTGT 5% đầu ra nhưng được khấu trừ đầu vào, từ đó, tách chi phí thuế ra khỏi giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, là cơ sở để giảm giá bán tới tay người tiêu dùng. Theo số liệu thống kê không đầy đủ, thuế GTGT đối với phân bón chiếm bình quân chỉ 6-7% giá vốn sản xuất, nên quy đổi ra giá bán sẽ vẫn cao hơn mức áp thuế 5%.

Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng lưu ý vấn đề chung hiện nay là hoàn thuế GTGT đang còn ách tắc lớn ở nhiều ngành, quá trình giải quyết rất chậm, nên nếu áp thuế GTGT, khi chậm hoàn thuế sẽ ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.

Đưa ra phương án tính toán cụ thể trong sơ đồ hạch toán giá thành và thuế GTGT, ông Nguyễn Đình Cư lấy giả thiết giá vốn hàng bán, chi phí giá thành sản xuất là 100.000 đồng/tấn phân bón; thuế GTGT đầu vào 7.000 đồng/tấn; doanh nghiệp bán ra thị trường tới tay người nông dân với giá 110.000 đồng/tấn, khấu trừ chi phí và thuế đầu vào, lợi nhuận hiện tại không chịu thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp đạt 3.000 đồng/tấn.

Ở phương án đề xuất áp thuế suất 5% với mức giá phân bón bán ra thị trường hiện tại 110.000 đồng/tấn, thì giá bán khi chưa tính mức thuế này là 110.000:105% còn 104.762 đồng/tấn. Mức 5% thuế GTGT của giá bán này được tính 5.238 đồng/tấn. Như vậy, số thuế nhà sản xuất phân bón nội địa phải nộp tính theo công thức thuế suất đầu ra trừ đầu vào còn âm 1.762 đồng/tấn và sẽ được khấu trừ.

Từ phương án định lượng cụ thể nêu trên, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam khẳng định với phương án thuế GTGT 5%, lợi nhuận doanh nghiệp có thể tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ. Trong khi đó, người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất do áp dụng thuế GTGT. Ngân sách nhà nước sẽ giảm thuế 1.762 đồng/tấn, nhưng sẽ được bù đắp bởi thuế nhập khẩu phân bón.

IPSC: Nông dân có thể giảm 453 tỷ đồng chi phí phân bón nội địa

Tính toán phân tích định lượng tác động áp thuế GTGT 5% đối với phân bón của Dự án tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (USAID/IPSC) cũng có kết luận tương tự như Hội Tư vấn thuế Việt Nam.

Theo báo cáo này, cơ cấu chi phí sản xuất phân bón sẽ gồm: 74% nguyên vật liệu, 6% chi phí khấu hao tài sản cố định, 7% chi phí dịch vụ mua ngoài, 6% chi phí bằng tiền khác, 7% chi phí không chịu thuế GTGT.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ước tính thay đổi giá bán của phân bón sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5% của IPSC

Ước tính thay đổi của giá bán sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5%, Dự án IPSC tính toán giá phân bón sản xuất trong nước: Urê giảm 2%, DAP giảm 1,13%, Lân giảm 0,87%, NPK tăng 0,09%. Ngược lại, giá phân bón nhập khẩu: Urê, NPK, DAP (trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp) và SA, Kali (đầu vào cho sản xuất phân bón) có thể tăng 5%.

Đối với người nông dân sử dụng chủ yếu phân bón trong nước, giá bán các loại phân bón giữ nguyên hoặc giảm, sẽ giúp chi phí sử dụng phân bón trong nước ước giảm 453 tỷ đồng.

Báo cáo phân tích của IPSC cho rằng khi được áp thuế GTGT đầu ra, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước được khấu trừ thuế GTGT đầu vào sẽ giảm áp lực khi đầu tư/sửa chữa, đầu tư công nghệ mới, xanh hóa sản xuất. Đây cũng là mức thuế ưu đãi hơn so với mức thuế GTGT hiện tại 10%.

Hiện Việt Nam phải nhập khẩu DAP 64 do trong nước chưa sản xuất được, để đáp ứng nhu cầu này trong tương lai cạnh tranh với hàng nhập khẩu, IPSC nhìn nhận việc được khấu trừ thuế GTGT sẽ giúp doanh nghiệp nâng cấp công nghệ mang tính chiều sâu.

Đa phần các nhà máy Urê ở Việt Nam được xây dựng trên 10 năm, do đó, nhu cầu về nâng cấp công nghệ/máy móc thiết bị là cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa.

Phương Thảo

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%

(PetroTimes) – Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng áp thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đối với phân bón sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích các bên liên quan, trong đó, người nông dân hoàn toàn có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.
Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Các chuyên gia cho rằng cần thiết đưa phân bón về chịu thuế GTGT 5% (Ảnh: Phương Thảo)

Chiều 17/10, Tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức đã đưa ra các phân tích cụ thể về nội dung này.

Doanh nghiệp “phải” tăng giá bán phân bón khi không được hoàn thuế GTGT

TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 10,5 – 11 triệu tấn các loại.

Tuy nhiên, theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2022 cả nước có 790 cơ sở sản xuất phân bón phải ngừng sản xuất hoặc không đạt yêu cầu, trong đó 261 cơ sở sản xuất phân bón vô cơ, 161 hữu cơ, 308 vừa vô cơ vừa hữu cơ. Từ năm 2018 – 2023, Việt Nam nhập khẩu từ 1 – 1,6 tỷ USD phân bón, 6 tháng đầu năm 2024 nhập 838 triệu USD.

Đối với các loại thuế liên quan đến phân bón, ông Hà thông tin thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi thông thường hiện hành là 0 – 6%; ưu đãi đặc biệt là 0 – 3% (tùy mã sản phẩm). Nhập khẩu từ các nước có hiệp định thương mại tự do với Việt Nam được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt khi đáp ứng đủ các điều kiện theo hiệp định.

Một loại thuế khác liên quan đến đông đảo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón là Luật thuế GTGT. “Luật Thuế số 71/2014/QH13 quy định phân bón, máy móc thiết bị chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp… là những mặt hàng không chịu thuế GTGT. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả thuế GTGT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón”, ông Hà nói.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT ở Luật Thuế 71 đã dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và phải hạch toán vào chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản xuất, tăng giá phân bón.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, số thuế GTGT không được khấu trừ tính vào chi phí của doanh nghiệp phân bón theo Luật Thuế 71 từ năm 2015 đến nay đã lên tới gần 10.000 tỷ đồng.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam Phùng Hà: “Doanh nghiệp Việt “đắn đo” đầu tư công nghệ, sản phẩm mới do không được hoàn thuế GTGT” (Ảnh: Phương Thảo)

“Khi không được nhận lại thuế GTGT, doanh nghiệp sản xuất phân bón có 2 lựa chọn hoặc khoản lợi nhuận trước thuế hàng năm sẽ giảm tương ứng hoặc điều chỉnh giá bán đầu ra khiến giá phân bón tới tay người tiêu dùng tăng cao”, TS. Phùng Hà phân tích.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam còn đề cập tới tác động của Luật Thuế 71 hiện hành đối với mặt hàng phân bón ảnh hưởng nặng nề đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, vì việc không áp thuế GTGT có lợi cho các nhà xuất khẩu phân bón vào Việt Nam.

Việc đầu tư sản xuất phân bón công nghệ cao, phân bón thế hệ mới cũng bị giảm động lực khi áp dụng Luật Thuế 71, bởi các doanh nghiệp nội phải “đắn đo” do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, trang thiết bị.

Do đó, TS. Phùng Hà cho rằng chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế GTGT sang đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%, nhìn một cách tổng sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích xã hội ở mức tối đa.

“Bất kể một chính sách nào nói chung và thuế nói riêng khó có thể mang lại lợi ích một lúc cho toàn bộ các bên liên quan, quan trọng là tính toán dựa trên lợi ích lâu dài, tổng thể và khả năng điều hòa lợi ích của cơ quan quản lý”, TS. Phùng Hà nhìn nhận.

Người nông dân được lợi gì khi áp thuế GTGT phân bón?

Làm rõ hơn cơ sở kiến nghị áp thuế GTGT phân bón ở mức 5%, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, hiện đang có hai luồng ý kiến trái ngược nhau: Sửa đổi thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón là hết sức cần thiết và sửa đổi thuế GTGT sẽ chỉ có lợi cho doanh nghiệp còn người nông dân thì sẽ phải chịu thiệt.

Khi thay đổi chính sách thuế GTGT sẽ tác động chủ yếu đến 3 đối tượng: Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng (người nông dân). Theo tính toán của Hiệp hội, nếu sửa đổi luật theo hướng áp thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ hài hòa lợi ích của cả ba đối tượng này. Đặc biệt, người nông dân sẽ được hưởng lợi về lâu dài.

Cụ thể, ông Ngọc chỉ ra, Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu vào ngân sách. Theo thống kê của cơ quan quản lý, số thu về thuế GTGT phân bón luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam chỉ ra 3 cơ sở để chứng minh người nông dân không bị chịu thiệt nếu áp thuế GTGT 5% đối với phân bón (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón sẽ được hưởng lợi từ việc hoàn thuế đầu vào theo công thức sau: Số thuế GTGT cần nộp = số thuế GTGT đầu ra – số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

Như vậy, doanh nghiệp có nguồn vốn để mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Hơn nữa, áp thuế GTGT phân bón còn tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

“Câu hỏi quan trọng nhất là người nông dân được lợi gì khi thuế GTGT phân bón thay đổi. Xét trong thời gian dài, người nông dân sẽ được hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT 5%, bởi doanh nghiệp sản xuất phân bón được khấu trừ thuế đầu vào nên chi phí đầu tư giảm, giá thành sản xuất sẽ giảm đi.

Doanh nghiệp có động lực đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất các loại phân bón có hàm lượng kỹ thuật cao, thế hệ mới sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, do đó tăng hiệu quả công tác trồng trọt một cách bền vững.

Nhà nước thu được một khoản thuế từ mặt hàng phân bón nên có thêm điều kiện để tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học… giúp người nông dân tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích, tăng sự cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trong nước”, TS. Nguyễn Trí Ngọc phân tích.

Như vậy, qua phân tích của hai lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam có thể thấy, phân bón chịu thuế GTGT sẽ đảm bảo được hài hòa lợi ích của 3 nhà, trong đó người nông dân có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.

Phương Thảo

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón

(PetroTimes) – Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Đình Cư đưa ra công thức hạch toán cho thấy với phương án áp thuế GTGT 5% đối với phân bón, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ, trong khi người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất.

Tại tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đến ngành phân bón” chiều 17/10, ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam nhìn nhận hầu hết các đại biểu Quốc hội, người tiêu dùng bình thường sẽ hiểu nếu áp thêm thuế GTGT thì sản phẩm bị tăng giá bán.

Nghiên cứu các đối tượng chịu ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với phân bón, ông Cư cho biết, đối với nhà nông, giá mua phân bón có thể tăng với hàng nhập khẩu vì áp thêm 5% thuế GTGT đầu vào.

Ngươc lại, với người nông dân sử dụng phân bón trong nước sẽ không bị tăng giá, thậm chí có thể giảm đi, bởi nhà sản xuất trong nước được hoàn thuế đầu vào, có cơ sở giảm chi phí sản xuất. Đặc biệt, người nông dân có cơ hội trong dài hạn giảm chi phí sản xuất do giá thành phân bón giảm.

Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu, tăng cường được việc quản lý thuế, tạo môi trường thuế bình đẳng.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp là đối tượng phải nộp thuế GTGT 5% đầu ra nhưng được khấu trừ đầu vào, từ đó, tách chi phí thuế ra khỏi giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, là cơ sở để giảm giá bán tới tay người tiêu dùng. Theo số liệu thống kê không đầy đủ, thuế GTGT đối với phân bón chiếm bình quân chỉ 6-7% giá vốn sản xuất, nên quy đổi ra giá bán sẽ vẫn cao hơn mức áp thuế 5%.

Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng lưu ý vấn đề chung hiện nay là hoàn thuế GTGT đang còn ách tắc lớn ở nhiều ngành, quá trình giải quyết rất chậm, nên nếu áp thuế GTGT, khi chậm hoàn thuế sẽ ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.

Đưa ra phương án tính toán cụ thể trong sơ đồ hạch toán giá thành và thuế GTGT, ông Nguyễn Đình Cư lấy giả thiết giá vốn hàng bán, chi phí giá thành sản xuất là 100.000 đồng/tấn phân bón; thuế GTGT đầu vào 7.000 đồng/tấn; doanh nghiệp bán ra thị trường tới tay người nông dân với giá 110.000 đồng/tấn, khấu trừ chi phí và thuế đầu vào, lợi nhuận hiện tại không chịu thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp đạt 3.000 đồng/tấn.

Ở phương án đề xuất áp thuế suất 5% với mức giá phân bón bán ra thị trường hiện tại 110.000 đồng/tấn, thì giá bán khi chưa tính mức thuế này là 110.000:105% còn 104.762 đồng/tấn. Mức 5% thuế GTGT của giá bán này được tính 5.238 đồng/tấn. Như vậy, số thuế nhà sản xuất phân bón nội địa phải nộp tính theo công thức thuế suất đầu ra trừ đầu vào còn âm 1.762 đồng/tấn và sẽ được khấu trừ.

Từ phương án định lượng cụ thể nêu trên, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam khẳng định với phương án thuế GTGT 5%, lợi nhuận doanh nghiệp có thể tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ. Trong khi đó, người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất do áp dụng thuế GTGT. Ngân sách nhà nước sẽ giảm thuế 1.762 đồng/tấn, nhưng sẽ được bù đắp bởi thuế nhập khẩu phân bón.

IPSC: Nông dân có thể giảm 453 tỷ đồng chi phí phân bón nội địa

Tính toán phân tích định lượng tác động áp thuế GTGT 5% đối với phân bón của Dự án tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (USAID/IPSC) cũng có kết luận tương tự như Hội Tư vấn thuế Việt Nam.

Theo báo cáo này, cơ cấu chi phí sản xuất phân bón sẽ gồm: 74% nguyên vật liệu, 6% chi phí khấu hao tài sản cố định, 7% chi phí dịch vụ mua ngoài, 6% chi phí bằng tiền khác, 7% chi phí không chịu thuế GTGT.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ước tính thay đổi giá bán của phân bón sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5% của IPSC

Ước tính thay đổi của giá bán sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5%, Dự án IPSC tính toán giá phân bón sản xuất trong nước: Urê giảm 2%, DAP giảm 1,13%, Lân giảm 0,87%, NPK tăng 0,09%. Ngược lại, giá phân bón nhập khẩu: Urê, NPK, DAP (trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp) và SA, Kali (đầu vào cho sản xuất phân bón) có thể tăng 5%.

Đối với người nông dân sử dụng chủ yếu phân bón trong nước, giá bán các loại phân bón giữ nguyên hoặc giảm, sẽ giúp chi phí sử dụng phân bón trong nước ước giảm 453 tỷ đồng.

Báo cáo phân tích của IPSC cho rằng khi được áp thuế GTGT đầu ra, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước được khấu trừ thuế GTGT đầu vào sẽ giảm áp lực khi đầu tư/sửa chữa, đầu tư công nghệ mới, xanh hóa sản xuất. Đây cũng là mức thuế ưu đãi hơn so với mức thuế GTGT hiện tại 10%.

Hiện Việt Nam phải nhập khẩu DAP 64 do trong nước chưa sản xuất được, để đáp ứng nhu cầu này trong tương lai cạnh tranh với hàng nhập khẩu, IPSC nhìn nhận việc được khấu trừ thuế GTGT sẽ giúp doanh nghiệp nâng cấp công nghệ mang tính chiều sâu.

Đa phần các nhà máy Urê ở Việt Nam được xây dựng trên 10 năm, do đó, nhu cầu về nâng cấp công nghệ/máy móc thiết bị là cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa.

Phương Thảo

PVFCCo: Thương hiệu mạnh, tăng trưởng xanh

(PetroTimes) – Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) với sản phẩm Phân bón Phú Mỹ vừa vinh dự được trao giải thưởng “Thương hiệu mạnh – Tăng trưởng xanh” trong Chương trình Thương hiệu mạnh Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức, dành cho cộng đồng các doanh nghiệp trong nước.
PVFCCo: Thương hiệu mạnh, tăng trưởng xanh
Đại diện PVFCCo nhận danh hiệu “Thương hiệu mạnh – Tăng trưởng xanh” tại Lễ trao giải.

Thương hiệu Phân bón Phú Mỹ đã khắc sâu trong tâm trí của bà con nông dân, được yêu mến và liên tục nằm trong nhóm dẫn đầu lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp suốt nhiều năm qua. Đồng thời, nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững, các hoạt động và sự phát triển của PVFCCo đều gắn với chuyển đổi xanh, phát triển mô hình sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và ưu tiên sử dụng năng lượng sạch cũng như trong kinh doanh, PVFCCo luôn hướng tới việc hướng dẫn khách hàng sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả.

Thời gian qua, PVFCCo đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thích ứng và phát triển bền vững trong giai đoạn mới như tái khởi động dự án hợp tác sản xuất hơi cao áp (HP) bằng lò hơi biomass (công suất 37 tấn/giờ); tối ưu hóa nguồn khí nhiên liệu bằng giải pháp chuyển đổi máy phát turbine khí với nguồn điện lưới EVN; thu hồi năng lượng nước của dòng condensate xưởng NH3;…

PVFCCo: Thương hiệu mạnh, tăng trưởng xanh
PVFCCo đã tích cực triển khai nhiều giải pháp công nghệ tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ nhằm thích ứng và phát triển bền vững.

PVFCCo cũng đã đưa vào chiến lược dài hạn nghiên cứu triển khai các dự án thay thế nguồn khí nguyên/nhiên liệu bằng Hydro xanh, NH3 xanh, biomass… đối với Nhà máy Đạm Phú Mỹ.

Song song với đó, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu và đóng góp thiết thực vào chương trình giảm lượng phát thải khí nhà kính, hướng đến mục tiêu “Net Zero”, PVFCCo đã xây dựng Kế hoạch số 1776/KH-PBHC ngày 02/11/2022 về việc tổ chức triển khai chương trình trồng 300.000 cây xanh trong toàn Tổng công ty giai đoạn 2022-2025. Thực hiện kế hoạch này, thời gian qua, PVFCCo đã triển khai nhiều chương trình trồng cây xanh tại Nhà máy, các đơn vị trong toàn Tổng công ty cũng như ở nhiều địa phương trên cả nước.

PVFCCo: Thương hiệu mạnh, tăng trưởng xanh
PVFCCo triển khai chương trình trồng 300.000 cây xanh trong toàn Tổng công ty giai đoạn 2022-2025.

Có thể nói, danh hiệu “Thương hiệu mạnh – Tăng trưởng xanh” một lần nữa khẳng định vị thế của PVFCCo cũng như là động lực để PVFCCo tiếp tục xây dựng, làm mới thương hiệu và phát triển bền vững gắn với tăng trưởng xanh.

Thương hiệu mạnh – Tăng trưởng xanh

PVFCCo với sản phẩm Phân bón Phú Mỹ vừa vinh dự được trao giải thưởng “Thương hiệu mạnh – tăng trưởng xanh” trong Chương trình Thương hiệu Mạnh Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức, dành cho cộng đồng các doanh nghiệp trong nước.
Thương hiệu Phân bón Phú Mỹ đã khắc sâu trong tâm trí của bà con nông dân, được yêu mến và liên tục nằm trong nhóm dẫn đầu trong lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp suốt nhiều năm qua. Đồng thời, nhận thức đươc tầm quan trọng của phát triển bền vững, các hoạt động và sự phát triển của PVFCCo đều gắn với chuyển đổi xanh, phát triển mô hình sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng, ưu tiên sử dụng năng lượng sạch cũng như trong kinh doanh luôn hướng tới việc hướng dẫn khách hàng sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả.
Danh hiệu này một lần nữa khẳng định vị thế của PVFCCo cũng như là động lực để PVFCCo tiếp tục xây dựng, làm mới thương hiệu và phát triển bền vững gắn với tăng trưởng xanh.

Thương hiệu mạnh – Tăng trưởng xanh

PVFCCo với sản phẩm Phân bón Phú Mỹ vừa vinh dự được trao giải thưởng “Thương hiệu mạnh – tăng trưởng xanh” trong Chương trình Thương hiệu Mạnh Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức, dành cho cộng đồng các doanh nghiệp trong nước.
Thương hiệu Phân bón Phú Mỹ đã khắc sâu trong tâm trí của bà con nông dân, được yêu mến và liên tục nằm trong nhóm dẫn đầu trong lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp suốt nhiều năm qua. Đồng thời, nhận thức đươc tầm quan trọng của phát triển bền vững, các hoạt động và sự phát triển của PVFCCo đều gắn với chuyển đổi xanh, phát triển mô hình sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng, ưu tiên sử dụng năng lượng sạch cũng như trong kinh doanh luôn hướng tới việc hướng dẫn khách hàng sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả.
Danh hiệu này một lần nữa khẳng định vị thế của PVFCCo cũng như là động lực để PVFCCo tiếp tục xây dựng, làm mới thương hiệu và phát triển bền vững gắn với tăng trưởng xanh.
VR 360