Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Sinh khí mới từ chương trình 5S của PVFCCo

petrotimes.vn | 04/07/2024

Chương trình 5S tại Khối Văn phòng Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đang mang lại luồng sinh khí mới giúp hiệu quả làm việc được nâng cao đáng kể…!

Xuất phát từ Nhật Bản, mô hình 5S với các bước Seiri (Sàng lọc: S1) – Seiton (Sắp xếp: S2) – Seiso (Sạch sẽ: S3) – Seiketsu (Săn sóc: S4) – Shitsuke (Sẵn sàng: S5) được biết đến như một phương pháp để góp phần tạo dựng môi trường làm việc hiệu quả ở mỗi cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, tầm quan trọng của 5S không chỉ dừng lại ở đó, mà còn góp phần làm cho con người nâng cao tinh thần trách nhiệm, chuyên nghiệp trong tổ chức công việc, đồng thời giảm thiểu các yếu tố gây nên stress thường thấy ở nơi làm việc.

Ban lãnh đạo PVFCCo từ lâu đã nhận thức được tầm quan trọng của mô hình 5S và đã sớm áp dụng tại cơ sở sản xuất là Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Từ thực tế áp dụng và hiệu quả thu được tại Nhà máy, Tổng công ty quyết định triển khai chương trình này tại Khối Văn phòng Tổng công ty. Năm 2021, PVFCCo thành lập Tổ triển khai và giám sát việc thực hiện chương trình 5S tại Khối Văn phòng Tổng công ty, đồng thời ban hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình 5S tại Khối Văn phòng Tổng công ty.

Sinh khí mới từ chương trình 5S của PVFCCo
Công tác thực hiện 5S tại Khối Văn phòng Tổng công ty PVFCCo.

Mục tiêu của PVFCCo là thông qua việc triển khai 5S sẽ tạo môi trường làm việc Chuyên nghiệp – An toàn – Xanh – Sạch – Đẹp tại Khối Cơ quan Tổng công ty: nơi làm việc tốt hơn, sạch hơn, ngăn nắp hơn, các hồ sơ và công cụ làm việc được sàng lọc, sắp xếp một cách khoa học, qua đó nâng cao sự an toàn và hiệu quả cho công việc; đồng thời giảm thiểu lãng phí, giúp tiết kiệm chi phí cho hoạt động của tổ chức cũng như tổn hao về thể lực, trí lực và tinh thần của CBCNV.

Dĩ nhiên, mục đích cuối cùng của 5S không phải chỉ là tạo nên hình ảnh một văn phòng ngăn nắp, trật tự, sạch sẽ, bắt mắt về mặt hình thức bề nổi, mà là nâng cao hiệu quả công việc một cách thực chất. Lấy ví dụ, nếu chỉ sắp xếp tài liệu, hồ sơ một cách ngăn nắp trong tủ kính, nhưng bản thân hồ sơ không được sàng lọc để loại bỏ những hồ sơ thừa, không cần thiết lưu giữ, không được sắp xếp một cách khoa học (theo thời gian, theo chủ đề, theo đối tượng,…), không được dán nhãn với thông tin rõ ràng,… thì việc tìm kiếm mỗi khi cần sẽ mất rất nhiều thời gian, gây stress và không đạt được hiệu quả mà 5S mong muốn.

Sinh khí mới từ chương trình 5S của PVFCCo
PVFCCo tổ chức khen thưởng các tập thể và cá nhân thực hiện tốt 5S.

Công tác chuyển đổi số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai 5S. Với việc số hóa các văn bản giấy, hình ảnh các đống hồ sơ, văn bản ngổn ngang trên bàn làm việc, các dãy tủ hồ sơ chứa đầy tài liệu, chiếm không ít không gian trong văn phòng, trong các kho lưu trữ dần biến mất. Thay vào đó là các cơ sở dữ liệu số hóa, tập trung, được sắp xếp một cách khoa học để bất cứ ai có quyền truy cập đều có thể tìm ra tài liệu cần thiết một cách nhanh chóng nhất, thay cho cảnh thường thấy là nhân viên phòng ban này hỏi mượn tài liệu ở phòng ban khác, và nhân viên phòng ban kia thì mướt mồ hôi mới tìm ra trong kho lưu trữ hồ sơ bụi phủ dày cả tấc.

Để thực hiện tốt 5S và để 5S trở thành văn hóa nơi làm việc, Tổ triển khai 5S của PVFCCo đã tổ chức các lớp đào tạo cho CBCNV, phát động phong trào thực hiện 5S gắn với xây dựng văn hóa doanh nghiệp; tăng cường hướng dẫn và thực hành 5S tại các cấp; chú trọng áp dụng chuyển đổi số vào 5S; tổ chức và thực hiện nghiêm các hình thức đánh giá và báo cáo hàng tuần, hàng tháng kết hợp với các hình thức khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện công tác 5S.

Nhờ sự quyết tâm của Ban lãnh đạo và những giải pháp bài bản, chương trình 5S ở Khối Văn phòng PVFCCo đã và đang mang lại kết quả tích cực; nhận thức và ý thức thực hiện 5S của CBCNV không ngừng nâng cao.

Sinh khí mới từ chương trình 5S của PVFCCo
Lãnh đạo PVFCCo trao thưởng cho các cá nhân thực hiện tốt 5S.

Đánh giá gần đây của Tổ triển khai 5S cho thấy, công tác 5S của Khối Văn phòng Tổng công ty đã tạo nên sự chuyển biến rõ rệt và được duy trì tốt tại tất cả các ban/văn phòng; các khu vực làm việc và khu vực sinh hoạt chung tại tất cả các tầng đều sạch sẽ, thông thoáng… Đây là điều mà bất cứ ai đến văn phòng của PVFCCo đều có thể cảm nhận được ngay. Trên mỗi bàn làm việc, mọi thứ không chỉ được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp mà còn được trang trí những chậu cây xanh, những bình hoa tươi góp phần tạo khung cảnh đẹp mắt, tạo bầu sinh khí đầy năng lượng tích cực, khiến tinh thần thoải mái, phấn chấn. Từ đó, hiệu quả làm việc của Khối Văn phòng Tổng công ty được nâng cao một cách đáng kể.

Chương trình 5S đã trở thành chìa khóa góp phần tạo nên môi trường làm việc hiệu quả, văn minh và chuyên nghiệp tại PVFCCo. Không dừng lại ở đó, CBCNV PVFCCo được khuyến khích áp dụng 5S tại chính ngôi nhà của mình, tạo nên một tổ ấm vừa hiện đại, khoa học, vừa tràn đầy tình yêu thương. Làm sao để mỗi ngày mới tới, mỗi người đều có tâm trạng “buổi sáng mong tới nơi làm, buổi chiều mong được về nhà”. Đó chính là hạnh phúc, tuy đơn sơ nhưng đích thực!

L.Trúc

Lũ tháng 7 không ảnh hưởng vụ hè thu và thu đông

nongnghiep.vn| Ngày 03/7/2024

Các tỉnh ĐBSCL đang bước vào mùa lũ 2024. Dự báo lũ tháng 7 ở mức thấp, không ảnh hưởng tới sản xuất lúa vụ hè thu và thu đông.

Lũ tháng 7 trên sông Cửu Long dự báo ở mức thấp. Ảnh: Sơn Trang.

Lũ tháng 7 trên sông Cửu Long dự báo ở mức thấp. Ảnh: Sơn Trang.

Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, mực nước lũ tháng 7 vùng ĐBSCL dự báo ở mức thấp và có xu thế tăng. Đến ngày 31/7, mực nước lũ trên dòng chính ĐBSCL khu vực đầu nguồn được dự báo ở mức cao nhất đạt 2 m tại Tân Châu, 1,95 m tại Châu Đốc. Khu vực trung tâm ĐBSCL, mực nước dự báo ở mức 1,45 m tại Cần Thơ; 1,37 m tại Mỹ Thuận.

Mực nước nội đồng vùng thượng ĐBSCL trong tháng 7 chịu tác động chủ yếu bởi lũ đầu nguồn, triều cường, và một phần mưa nội vùng. Dự báo mực nước lớn nhất trên các trạm vùng thượng biến đổi ở mức 0,39 – 2,33 m, diễn biến mực nước có xu thế cao ở khu vực đầu nguồn ven sông chính, thấp dần về phía khu vực cuối nguồn xa sông chính và về phía bên trong nội đồng.

Mực nước ở mức cao từ 1,13 – 2,33 m tập trung ở các huyện An Phú, TX. Tân Châu, TP. Châu Đốc, huyện Phú Tân, TP. Long Xuyên, huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang; huyện Hồng Ngự, TP. Hồng Ngự, huyện Tân Hồng, huyện Tam Nông của tỉnh Đồng Tháp.

Mực nước nội đồng vùng giữa ĐBSCL trong tháng 7 chịu tác động chủ yếu bởi lũ đầu nguồn, triều cường và mưa nội vùng. Dự báo mực nước lớn nhất trên các trạm vùng giữa biến đổi ở mức 0,55 – 1,48 m. Diễn biến mực nước có xu thế cao ở khu vực ven sông chính, thấp dần về phía khu vực xa sông chính và bên trong nội đồng.

Mực nước ở mức cao từ 1,00 – 1,48 m tập trung ở các huyện Gò Công Đông, TP. Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang; huyện Chợ Lách, Châu Thành, TP. Bến Tre của tỉnh Bến Tre; huyện Cao Lãnh, Lai Vung thuộc tỉnh Đồng Tháp; huyện Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long; huyện Càng Long thuộc tỉnh Trà Vinh; các quận thuộc TP. Cần Thơ; TP. Ngã Bảy thuộc tỉnh Hậu Giang, huyện Long Phú thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Cũng trong tháng 7, mực nước nội đồng vùng ven biển ĐBSCL chịu tác động chủ yếu bởi thủy triều và mưa nội vùng. Dự báo mực nước lớn nhất trên các trạm vùng ven biển biến đổi ở mức 0,38 – 1,75 m. Diễn biến mực nước có xu thế cao ở khu vực ven cửa sông chính và ven biển Đông, thấp dần về phía khu vực xa sông chính, ven biển Tây và bên trong nội đồng.

Mực nước ở mức cao từ 1,00 – 1,75 m tập trung ở các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre; huyện Châu Thành, Duyên Hải thuộc tỉnh Bến Tre; huyện Trần Đề, Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng; TP. Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, huyện Đông Hải thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Do lũ tháng 7 dự kiến không cao nên hầu như không ảnh hưởng đến các khu vực sản xuất lúa hè thu và thu đông, ngoại trừ các diện tích sản xuất ngoài ô bao cần thu hoạch trước thời gian này.

Ứng với mức lũ cuối tháng 7 là 2 m tại Tân Châu, về cơ bản hệ thống ô bao, bờ bao đáp ứng bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên, các khu vực sản xuất nằm ngoài đê bao trên địa bàn các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Long An (đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Long An do diện tích sản xuất ngoài ô bao trên địa phương này còn khá nhiều) cần theo dõi chặt chẽ và có giải pháp ứng phó kịp thời.

Petrovietnam tập trung quản trị, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm

petrotimes.vn | 01/07/2024

Ngày 1/7/2024, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) Lê Mạnh Hùng đã chủ trì buổi giao ban giữa Hội đồng Thành viên và Ban điều hành về kết quả sản xuất kinh doanh tháng 6 và 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ của những tháng cuối năm.

Tham dự buổi giao ban có các đồng chí trong Hội đồng Thành viên, Ban Tổng Giám đốc, lãnh đạo các ban chuyên môn/Văn phòng Tập đoàn.

Trong nửa đầu năm 2024, Tập đoàn đã duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, liên tục, không để xảy ra tai nạn, sự cố gây gián đoạn sản xuất. Petrovietnam đã đảm bảo an ninh năng lượng, cung ứng đủ xăng dầu, điện, đạm và các sản phẩm khác phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Các giàn khoan, công trình khai thác dầu khí của Tập đoàn hoạt động với hệ số uptime tối ưu. Các nhà máy chế biến dầu khí hoạt động với công suất ổn định từ 112-116% công suất thiết kế. Các nhà máy điện luôn đảm bảo độ khả dụng cao.

Gia tăng trữ lượng trong 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt hơn 4,38 triệu tấn quy dầu. Hiện tại, Tập đoàn đang triển khai thi công khoan 05 giếng thăm dò trữ lượng. Chiến dịch thu nổ địa chấn 3D tại khu vực phát triển ngoài khơi của Lô B&48/95 và Lô 52/97 đã triển khai từ ngày 19/6/2024.

Petrovietnam tập trung quản trị, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm
Toàn cảnh buổi giao ban.

Trong 6 tháng đầu năm, Tập đoàn ghi nhận nhiều sự kiện nổi bật: Liên doanh Vietsovpetro khai thác thành công tấn dầu thứ 250 triệu trong lịch sử hoạt động, đánh dấu cột mốc 43 năm xây dựng và phát triển; có 2 phát hiện dầu khí mới tại mỏ Rồng và mỏ Bunga Aster. Mới đây, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã được chấp thuận kết quả nghiệm thu có điều kiện đối với Tổ máy 1, 2 và một số hạng mục dùng chung, làm cơ sở để chủ đầu tư tiến hành thủ tục công nhận ngày vận hành thương mại (COD) cho Nhà máy.

Trong công tác đầu tư, nửa đầu năm 2024, giá trị đầu tư toàn Tập đoàn đạt 11.134 tỷ đồng, vượt 1,1% so với cùng kỳ năm 2023. Giá trị giải ngân đầu tư đạt 14.449 tỷ đồng. Tổng giá trị an sinh xã hội 6 tháng đầu năm 2024 của Tập đoàn đạt 456,4 tỷ đồng.

Về các chỉ tiêu sản xuất, trong 6 tháng, toàn Tập đoàn có 09 chỉ tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch gồm: Khai thác dầu (vượt 4,6%); khai thác khí (vượt 6,7%); sản xuất điện (vượt 7,6%); sản xuất đạm urea (vượt 6%); sản xuất NPK (vượt 5,6%); sản xuất xăng dầu không gồm NSRP (vượt 19,5%); LPG (vượt 1,9%); condensate (vượt 1,2%); polypropylen (vượt 10,1%). Trong đó, 03 chỉ tiêu gồm sản xuất urea, sản xuất điện và sản xuất NPK tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2023.

Về các chỉ tiêu tài chính, 4/6 chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch quản trị 6 tháng. 4/6 chỉ tiêu tăng trưởng từ 0,3-25% so với cùng kỳ năm 2023 gồm: Doanh thu toàn Tập đoàn (tăng 15%); nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn (tăng 0,3%); doanh thu hợp nhất (tăng 14%); doanh thu Công ty mẹ Tập đoàn (tăng 25%).

Tại buổi giao ban, lãnh đạo Tập đoàn cùng các Ban chuyên môn đã trao đổi cụ thể về các vấn đề tồn đọng và giải đáp các kiến nghị, đề xuất của các ban về các giải pháp, kế hoạch triển khai nhiệm vụ tháng 7 và 6 tháng cuối năm 2024.

Petrovietnam tập trung quản trị, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng kết luận buổi giao ban.

Kết luận buổi giao ban, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đề nghị, kiên định mục tiêu, tập trung quản trị, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đã đặt ra theo kế hoạch quản trị của Tập đoàn.

Trong thời gian tới, đồng chí Lê Mạnh Hùng yêu cầu, cần nhận diện và đánh giá rõ các rủi ro có thể xảy ra để tập trung quản trị; Kiểm soát chặt chẽ tài chính và dòng tiền, có các giải pháp quản trị hiệu quả, phù hợp; Tăng cường, thúc đẩy công tác đầu tư, triển khai các giải pháp đã đề ra trong Hội nghị Đầu tư – Tài chính để công tác đầu tư có chuyển biến tích cực hơn, phấn đấu hoàn thành cao mục tiêu kế hoạch đầu tư; Nghiên cứu phương án M&A để đẩy mạnh đầu tư trong các dự án E&P và các dự án trọng điểm của Tập đoàn;… Lãnh đạo Tập đoàn, các ban chuyên môn theo lĩnh vực được phân công phụ trách cần tăng cường giám sát, đôn đốc, có các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao sản lượng khai thác dầu khí, sản lượng điện và sản lượng sản xuất các sản phẩm khác.

Đối với việc triển khai xây dựng chiến lược và quán triệt thực hiện Kết luận 76-KL/TW của Bộ Chính trị, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn yêu cầu các đồng chí được phân công, các ban đầu mối tích cực bám sát Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Công Thương để sớm đưa Kết luận 76 vào thực hiện cũng như tháo gỡ khó khăn của các chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.

H.A

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc với các đơn vị về cân đối cung cầu khí Đông – Tây Nam bộ

petrotimes.vn | 03/07/2024

Chiều ngày 2/7/2024, tại Cà Mau, đoàn công tác của lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã có buổi làm việc với các đơn vị trong chuỗi khí – điện – đạm về tình hình cung cầu khí khu vực Đông – Tây Nam bộ cùng các giải pháp cân đối, xử lý các khó khăn hiện tại.

Lãnh đạo Petrovietnam chủ trì buổi làm việc gồm có Chủ tịch HĐTV Lê Mạnh Hùng và Tổng Giám đốc Lê Ngọc Sơn; cùng sự tham dự của các đồng chí Thành viên HĐTV Bùi Minh Tiến, Phạm Tuấn Anh; Phó Tổng Giám đốc Lê Xuân Huyên và lãnh đạo các ban chuyên môn/Văn phòng Tập đoàn tham dự trực tiếp, trực tuyến tại đầu cầu Hà Nội.

Về phía các đơn vị trong chuỗi khí – điện – đạm tham dự và báo cáo tại buổi làm việc có lãnh đạo Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS), Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power), Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) và Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC).

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc với các đơn vị về cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Toàn cảnh buổi làm việc của lãnh đạo Petrovietnam với các đơn vị chuỗi khí – điện – đạm về cung cầu khí khu vực Đông – Tây Nam bộ.

Tại buổi làm việc, lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm; đặc biệt là những khó khăn, vướng mắc liên quan đến nguồn cung – cầu, giá khí phục vụ sản xuất kinh doanh và đề xuất những giải pháp để tháo gỡ khó khăn về nguồn khí, giá khí trong giai đoạn tới.

Các báo cáo của đơn vị cho thấy, bối cảnh chung là nguồn khí trong nước đang trong xu hướng suy giảm mạnh, việc phát triển mỏ Sư Tử Trắng pha 2B (đối với khu vực Đông Nam bộ) và gia hạn PM3-CAA và các mỏ nhỏ cận biên (đối với khu vực Tây Nam bộ) có vai trò quan trọng trong việc hạn chế mức độ suy giảm nguồn cung khí trong nước và đáp ứng nhu cầu.

Cụ thể, đối với khu vực Đông Nam bộ, nếu không có các hộ tiêu thụ quy mô lớn mới và các nhà máy điện huy động như mức 2023-2024 thì LNG từ 2 kho Thị Vải (3 triệu tấn) và Sơn Mỹ (6 triệu tấn) sẽ đáp ứng đủ nhu cầu khí. Đối với khu vực Tây Nam bộ, nếu phát triển các mỏ nhỏ cận biên thì nguồn cung khí cho các hộ tiêu thụ tại Cà Mau chỉ đáp ứng đủ đến năm 2030, do đó vấn đề đặt ra là cần có đánh giá tổng thể và có lộ trình phát triển nguồn khí trong dài hạn như: gia hạn PM3 – CAA, phát triển các mỏ nhỏ, mua khí từ Petronas, bổ sung nguồn LNG…

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc về tình hình cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Tổng Giám đốc PV GAS Phạm Văn Phong báo cáo về tình hình cung – cầu khí
Lãnh đạo Petrovietnam làm việc về tình hình cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Chủ tịch HĐQT PV Power Hoàng Văn Quang báo cáo về tình hình cung khí cho sản xuất điện và khó khăn từ huy động điện khí theo mùa

Báo cáo của các đơn vị cũng cho biết, việc huy động khí trong năm luôn có tính chu kỳ, trong đó việc huy động điện khí cao trong mùa khô, rất thấp trong mùa mưa dẫn đến việc điều độ nguồn khí cần phải có sự thích ứng, kể cả giai đoạn sản lượng khí LNG tăng dần trong dài hạn.

Về nhu cầu điện được dự báo tăng trưởng trong dài hạn và tăng trưởng công suất phát điện không theo kịp thì sẽ buộc phải tăng cường huy động các nhà máy điện khí do vậy việc phát triển nguồn khí, đặc biệt LNG là cần thiết, nhất là khi nguồn khí trong nước suy giảm. Tuy nhiên việc phát triển các dự án LNG đang gặp nhiều khó khăn liên quan cơ chế chính sách… Và bức tranh điều hành sản xuất kinh doanh của PV Power cũng rất khó khăn trước tình trạng thiếu khí và cơ chế huy động điện hiện nay.

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc về tình hình cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Chủ tịch HĐQT PVFCCo Nguyễn Xuân Hòa báo cáo về khó khăn của nguồn khí, giá khí cho sản xuất đạm
Lãnh đạo Petrovietnam làm việc về tình hình cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Tổng Giám đốc PVCFC Văn Tiến Thanh báo cáo, kiến nghị về nguồn khí PM3 – CAA, về chi phí vận chuyển (tariff)

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của PVFCCo và PVCFC cũng rơi vào khó khăn tương tự trước vấn đề nguồn nguyên liệu khí và giá khí đang có nhiều khó khăn, biến động. Theo các đơn vị, hiện giá khí cho sản xuất của hai nhà máy Đạm khá cao so với giá khí cho các nhà máy ở các nước lân cận, gây ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của các đơn vị.

Tại buổi làm việc, trước các vấn đề mà Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Lê Mạnh Hùng đặt ra liên quan đến việc đảm bảo đủ nguồn khí cho chuỗi khí – điện – đạm hoạt động hiệu quả, lãnh đạo Tập đoàn, lãnh đạo các ban chuyên môn liên quan đã thảo luận, trao đổi và đưa ra những phương hướng cân đối cung – cầu khí cho hai khu vực Đông – Tây Nam bộ.

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc về tình hình cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn phát biểu tại buổi làm việc.

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cho biết, hiện trạng cung khí cho cả hai khu vực Đông – Tây Nam bộ đang trên đà suy giảm và thiếu hụt, hoạt động chuỗi đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Giải pháp được đưa ra để đảm bảo nguồn cung khí đó là phát triển mỏ nhỏ và LNG. Về ngắn hạn, Tổng Giám đốc Petrovietnam đề nghị cần tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đảm bảo hiệu quả chung cho chuỗi, tránh những thiệt hại lớn. Về lâu dài cần kiến nghị các cấp thẩm quyền xây dựng cơ chế chính sách cho công nghiệp khí.

Lãnh đạo Petrovietnam làm việc với các đơn vị về cân đối cung cầu khí Đông - Tây Nam bộ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng kết luận buổi làm việc.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đề nghị, lãnh đạo, các ban chuyên môn Tập đoàn khẩn trương đánh giá bài bản về hiện trạng, những bất cập khó khăn của từng nhóm vấn đề về cân đối cung – cầu khí trong phạm vi cả nước. Từ đó, căn cứ vào định hướng Bộ Chính trị, chiến lược mà Tập đòan đang triển khai để xây dựng thành chiến lược phát triển cho chuỗi; tích cực làm việc với các cấp có thẩm quyền để tháo gỡ khó khăn, sớm ban hành các cơ chế chính sách liên quan đối với cả thượng, trung và hạ nguồn, đảm bảo chuỗi phát triển lâu dài; xây dựng danh mục, giải pháp về sản phẩm; thúc đẩy các giải pháp với hệ sinh thái bên ngoài (Petronas, EVN); tăng cường các giải pháp trong công tác quản trị…

Khánh thành nhà Văn hóa Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân

Sáng 29/6/2024, xã Bùi La Nhân tổ chức lễ khánh thành và bàn giao công trình nhà Văn hóa Sinh hoạt Cộng đồng. Công trình do Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tài trợ.

Tới dự có đại diện lãnh đạo Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Đoàn Quốc Quân. Ở huyện có các đồng chí Đặng Giang Trung – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy – Chủ tịch HĐND huyện; Trần Hoài Đức – Chủ tịch UBND huyện; Hoàng Xuân Hùng – Phó Chủ tịch UBND huyện; Cù Thị Mỹ Hiệp – Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy.

Chủ tịch UBND xã Bùi La Nhân Nguyễn Xuân Linh báo cáo quá trình thi công công trình.

Nhà Văn hoá Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân có diện tích trên 500m2, trong đó hội trường với 350 chỗ ngồi, và các phòng truyền thanh, thư viện, phòng đọc, phòng truyền thông. Nội thất trong hội trường và các phòng chức năng được trang bị đầy đủ. Tổng nguồn vốn đầu tư 5 tỷ đồng, do Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí  thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tài trợ.

Công trình Nhà Văn hoá Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân khánh thành đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu phục vụ các nhiệm vụ chính trị, sinh hoạt văn hóa của  của địa phương.

Ông Đoàn Quốc Quân – đại diện nhà tài trợ phát biểu chúc mừng, đánh giá: hiếm có công trình cấp xã được thiết kế, đầu tư xây dựng đẹp, kiên cố như công trình này. Đặc biệt các phòng chức năng được bố trị hợp lý, nội thất hiện đại, đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện chính trị, văn hóa của địa phương. Đại diện lãnh đạo Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí  thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng khẳng định: Đơn vị luôn khẳng định vị thế số 1 của các tập đoàn kinh tế trong cả nước, hàng năm đóng góp từ 28 – 30% tổng thu ngân sách Quốc gia. Hàng năm đơn vị trích hàng trăm tỷ đồng thực hiện các chương trình an sinh xã hội. Từ đó giúp đồng bào và địa phương ở những vùng khó khăn phát triển đi lên. 

Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch UBND huyện Trần Hoài Đức trân trọng cảm ơn sự tài trợ của Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nan. Công trình không chỉ là nơi để cấp ủy, chính quyền triển khai cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước, mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các tầng lớp nhân dân. Công trình cũng góp phần để huyện Đức Thọ hoàn thiện các tiêu chí xây dựng huyện đạt chuẩn NTM nâng cao. Chủ tịch UBND huyện mong muốn nhà tài trợ tiếp tục đồng hành, để huyện Đức Thọ có thêm những công trình như thế này được xây dựng trên địa bàn.

Lãnh đạo xã Bùi La Nhân nhận biểu tượng của nhà tài trợ

Đại diện nhà tài trợ, các đồng chí lãnh đạo huyện và xã Bùi La Nhân cắt băng khánh thành.

Khánh thành nhà Văn hóa Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân

Sáng 29/6/2024, xã Bùi La Nhân tổ chức lễ khánh thành và bàn giao công trình nhà Văn hóa Sinh hoạt Cộng đồng. Công trình do Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tài trợ.

Tới dự có đại diện lãnh đạo Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Đoàn Quốc Quân. Ở huyện có các đồng chí Đặng Giang Trung – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy – Chủ tịch HĐND huyện; Trần Hoài Đức – Chủ tịch UBND huyện; Hoàng Xuân Hùng – Phó Chủ tịch UBND huyện; Cù Thị Mỹ Hiệp – Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy.

Chủ tịch UBND xã Bùi La Nhân Nguyễn Xuân Linh báo cáo quá trình thi công công trình.

Nhà Văn hoá Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân có diện tích trên 500m2, trong đó hội trường với 350 chỗ ngồi, và các phòng truyền thanh, thư viện, phòng đọc, phòng truyền thông. Nội thất trong hội trường và các phòng chức năng được trang bị đầy đủ. Tổng nguồn vốn đầu tư 5 tỷ đồng, do Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí  thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tài trợ.

Công trình Nhà Văn hoá Sinh hoạt Cộng đồng xã Bùi La Nhân khánh thành đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu phục vụ các nhiệm vụ chính trị, sinh hoạt văn hóa của  của địa phương.

Ông Đoàn Quốc Quân – đại diện nhà tài trợ phát biểu chúc mừng, đánh giá: hiếm có công trình cấp xã được thiết kế, đầu tư xây dựng đẹp, kiên cố như công trình này. Đặc biệt các phòng chức năng được bố trị hợp lý, nội thất hiện đại, đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện chính trị, văn hóa của địa phương. Đại diện lãnh đạo Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí  thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng khẳng định: Đơn vị luôn khẳng định vị thế số 1 của các tập đoàn kinh tế trong cả nước, hàng năm đóng góp từ 28 – 30% tổng thu ngân sách Quốc gia. Hàng năm đơn vị trích hàng trăm tỷ đồng thực hiện các chương trình an sinh xã hội. Từ đó giúp đồng bào và địa phương ở những vùng khó khăn phát triển đi lên. 

Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch UBND huyện Trần Hoài Đức trân trọng cảm ơn sự tài trợ của Tổng công ty phân bón hóa chất dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nan. Công trình không chỉ là nơi để cấp ủy, chính quyền triển khai cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước, mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các tầng lớp nhân dân. Công trình cũng góp phần để huyện Đức Thọ hoàn thiện các tiêu chí xây dựng huyện đạt chuẩn NTM nâng cao. Chủ tịch UBND huyện mong muốn nhà tài trợ tiếp tục đồng hành, để huyện Đức Thọ có thêm những công trình như thế này được xây dựng trên địa bàn.

Lãnh đạo xã Bùi La Nhân nhận biểu tượng của nhà tài trợ

Đại diện nhà tài trợ, các đồng chí lãnh đạo huyện và xã Bùi La Nhân cắt băng khánh thành.

Giá bán phân bón liệu có giảm khi áp thuế giá trị gia tăng 5%

BNEWS Vào tháng 10 tới đây, Quốc hội dự kiến xem xét thông qua đề xuất chuyển phân bón về diện chịu thuế GTGT 5%. Vậy giá bán phân bón trong nước liệu có giảm khi doanh nghiệp được khấu trừ thuế đầu vào?

Theo Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của các luật về thuế, phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Sau 10 năm đi vào cuộc sống, Luật số 71 đã bộc lộ nhiều bất cập và trong kỳ hợp vào tháng 10 tới đây, Quốc hội dự kiến xem xét thông qua đề xuất chuyển phân bón về diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%. Tuy nhiên, vẫn còn những ý kiến trái chiều xung quanh đề xuất này cần được làm rõ để tạo sự đồng thuận cao nhất.

*Tác động của thuế GTGT với giá phân bón

Việc từ chỗ thuộc diện áp dụng thuế GTGT thuế suất 5% chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT từ năm 2014 tưởng như sẽ có lợi cho doanh nghiệp và nông dân nhưng thực tế lại khác mục đích ban đầu. Trước đây, sản xuất phân bón chịu thuế đầu vào chủ yếu là 10%, thuế đầu ra 5%, trong đó thuế đầu vào được khấu trừ và thậm chí hoàn thuế nếu mức thuế này cao hơn thuế đầu ra. Kể từ khi áp dụng quy định mới, doanh nghiệp không được khấu trừ thuế đầu vào nên phải hạch toán vào chi phí sản xuất phân bón. Điều này khiến chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phân bón tăng lên đáng kể và phản ánh vào giá bán cuối cùng cho nông dân.

Về lý thuyết, việc chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng chịu 5% thuế GTGT sang đối tượng không chịu thuế GTGT có thể dẫn đến hai khả năng trái ngược nhau và phụ thuộc vào tỷ trọng chi phí đầu vào chịu thuế GTGT 10% trong cơ cấu giá bán sản phẩm (chưa có thuế GTGT).
Cụ thể, nếu tỷ trọng này thấp, ví dụ là 10% trong khi 90% còn lại của giá bán được cấu thành từ các khoản không chịu thuế GTGT như nguyên liệu là phân bón nhập khẩu (ví dụ phân ure, kali, lân dùng để sản xuất phân tổng hợp NPK), tiền lương, khấu hao máy móc, lợi nhuận doanh nghiệp… thì việc không phải chịu thuế GTGT với mức 5% trên giá bán sẽ làm giá bán giảm đi so với khi phải chịu 5% thuế GTGT đầu ra và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào (vì thuế GTGT đầu vào không đáng kể). Trường hợp này có thể xảy ra với những doanh nghiệp sản xuất phân hỗn hợp NPK theo công nghệ “cuốc xẻng” chuyên sử dụng nguyên liệu đầu vào là các loại phân đơn nhập khẩu (không chịu thuế GTGT).
Ngược lại, nếu tỷ trọng này cao từ 50% giá bán trở lên (đây là tỷ trọng phổ biến ở các doanh nghiệp sản xuất phân bón tại Việt Nam hiện nay) thì phần thuế GTGT đầu vào lớn hơn khoản 5% thuế GTGT đầu ra, do đó việc miễn khoản 5% đầu ra nhưng không cho khấu trừ 10% đầu vào sẽ khiến giá thành phân bón tăng lên so với khi phân bón chịu thuế GTGT 5% (vì doanh nghiệp được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào). Theo đó, khi giá thành sản xuất tăng, doanh nghiệp sẽ phải tăng giá bán để đảm bảo hoạt động, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá cao hơn, cuối cùng chỉ hàng nhập khẩu được hưởng lợi.  Mặt khác, chí phí sản xuất tăng cũng khiến nhà đầu tư sẽ ngần ngại khi đầu tư sản xuất phân bón trong nước, đặc biệt là  các dự án có  công nghệ cao do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên liệu vật tư. Điều này dẫn tới tình trạng  ngành sản xuất phân bón trong nước mất động lực phát triển do sản phẩm trở nên kém cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, và có nguy cơ bị hàng nhập khẩu đánh bại ngay trên sân nhà.

*Lợi ích của áp thuế GTGT 5% với phân bón

Nếu đề xuất chuyển phân bón từ diện không chịu thuế GTGT sang diện chịu thuế GTGT 5% được Quốc hội thông qua, cả doanh nghiệp, nông dân và nhà nước đều được hưởng lợi.

Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất  phân bón từ nguyên liệu, vật tư trong nước sẽ được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra 5% thấp hơn thuế đầu vào 10%, khiến giá thành giảm đi và giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng.

Việc áp thuế GTGT 5% sẽ đưa phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu về mặt bằng chung do cùng chịu thuế suất 5%, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và ngoài nước, khắc phục được sự bất hợp lý đã diễn ra suốt 10 năm qua.

Ngoài ra, ngân sách trong nước bị hụt thu hiện nay sẽ được bù đắp một phần từ thuế nhập khẩu trong khi vẫn giữ mặt bằng giá bán trong nước.

*Giá bán phân bón trong nước sẽ giảm?

Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XV lần này, vẫn có những ý kiến lo ngại về việc áp thuế GTGT 5% với phân bón sẽ giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản xuất nhưng chưa chắc doanh nghiệp đã chịu giảm giá bán và nông dân không được hưởng lợi.

Trước các lo ngại này, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ quản lý Thuế Doanh nghiệp lớn Tổng cục Thuế cho biết, việc đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT 5% không chỉ giúp tăng thu ngân sách với thuế nhập khẩu, giữ ổn định mặt bằng giá bán trong nước mà còn là “cơ hội cho chính người nông dân yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc đúng theo Luật, được khấu trừ đầu vào, cần hạ mặt bằng giá bán sản phẩm”.

Tiến sỹ Phùng Hà, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã nhiều lần kiến nghị sửa đổi Luật 71 (phần liên quan đến phân bón) theo hướng chuyển phân bón từ mặt hàng không chịu thuế giá trị gia tăng sang mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng ở mức 5%. Hiệp hội Phân bón Việt Nam kỳ vọng trong kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XV vào tháng 10 tới đây sẽ thông qua việc sửa đổi Luật Thuế Giá trị gia tăng nhằm gỡ “nút thắt” chính sách đã 10 năm qua, để cả nhà nước, nông dân và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi.

Thực tế cho thấy, đã có nhiều ý kiến lo ngại tương tự khi Quốc hội quyết định giảm thuế GTGT từ 10% xuống 8%, có hiệu lực từ tháng 7/2023 đến hết năm 2023; mới đây tiếp tục gia hạn thuế suất 8% đến hết năm 2024.

Trên thực tế, thuế GTGT là thuế gián thu, các doanh nghiệp chỉ thu hộ Nhà nước từ người tiêu dùng, nên không lý gì khiến doanh nghiệp tăng giá chưa có thuế GTGT (là phần họ được hưởng) để “móc túi” khoản 2% thuế GTGT đó từ người mua. Nếu doanh nghiệp “tham bát bỏ mâm”, chính doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ được hàng do giá bán cao hơn các doanh nghiệp khác do cơ chế cạnh tranh tự nhiên buộc các doanh nghiệp phải đưa giá bán phân bón về một mặt bằng chung, cấu thành từ giá chưa có thuế GTGT (là phần của doanh nghiệp), cộng với thuế GTGT theo quy định (phần của Nhà nước). Đây chính là cơ sở để Chính phủ tiếp tục đề nghị Quốc hội xem xét kéo dài việc giảm thuế GTGT xuống 8% tới hết năm 2024.

Khác biệt ra sao giữa việc phân bón không chịu thuế và chịu thuế GTGT 5%?

(PetroTimes) – Theo Luật số 71/2014/QH13 (Luật thuế 71) sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế thì mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Hiện, Quốc hội đang xem xét đề xuất chuyển phân bón về diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5% và đang có nhiều ý kiến trái chiều về đề xuất này. Vậy bản chất vấn đề là thế nào?

Tác động của thuế GTGT đối với giá bán

Việc từ chỗ thuộc diện áp dụng thuế GTGT 5% chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT nghe qua tưởng như sẽ có lợi cho doanh nghiệp (DN) và nông dân, nhưng thực ra không hẳn. Trước đây, sản xuất phân bón chịu thuế đầu vào chủ yếu là 10%, thuế đầu ra 5%, tuy nhiên thuế đầu vào được khấu trừ và thậm chí hoàn thuế nếu mức thuế này cao hơn thuế đầu ra. Giờ đây, khi áp dụng theo Luật thuế 71 thì DN không được khấu trừ thuế đầu vào, mà phải hạch toán vào chi phí. Điều này khiến cho chi phí sản xuất kinh doanh của các DN phân bón có khả năng tăng lên đáng kể, kéo theo giá bán cuối cùng cho nông dân cũng tăng.

Kho sản phẩm Phân bón Phú Mỹ

Về lý thuyết, việc chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng chịu 5% thuế GTGT sang đối tượng không chịu thuế GTGT có thể dẫn đến hai khả năng trái ngược nhau: làm giảm giá bán; làm tăng giá bán tới người mua cuối cùng. Điều này phụ thuộc vào tỷ trọng chi phí đầu vào chịu thuế GTGT 10% trong cơ cấu giá bán sản phẩm (chưa có thuế GTGT).

Nếu tỷ trọng này thấp, ví dụ 10%, còn 90% còn lại của giá bán được cấu thành từ các khoản không chịu thuế GTGT như nguyên liệu là phân bón nhập khẩu (ví dụ như phân ure, Kali, lân dùng để sản xuất phân NPK), tiền lương, khấu hao máy móc, lợi nhuận DN…, thì việc không phải chịu thuế GTGT với mức 5% trên giá bán sẽ làm giá bán giảm đi so với khi phải chịu 5% thuế GTGT đầu ra và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào (vì thuế GTGT đầu vào không đáng kể).

Điều này xảy ra với những DN chuyên dùng nguyên liệu là các loại phân đơn nhập khẩu (không chịu thuế GTGT) để phối trộn một cách đơn giản và cho ra sản phẩm NPK mà người ta vẫn gọi là công nghệ “cuốc xẻng”.

Ngược lại, nếu tỷ trọng đó cao, từ 50% giá bán trở lên, mà đây lại là tình trạng phổ biến ở các DN sản xuất phân bón tại Việt Nam sử dụng nguyên liệu, vật tư, năng lượng, thiết bị,… chịu thuế GTGT đầu vào 10%, thì phần thuế GTGT đầu vào lớn hơn khoản 5% thuế GTGT đầu ra, do đó việc miễn khoản 5% đầu ra nhưng không cho khấu trừ 10% đầu vào sẽ khiến giá thành tăng lên so với khi phân bón chịu thuế GTGT 5% (vì DN được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào).

Giá thành tăng mà giá bán giữ nguyên thì DN chịu thiệt, còn nếu muốn giữ nguyên lợi nhuận thì DN phải tăng giá bán và người chịu thiệt là nông dân. Nếu chia sẻ thì cả hai cùng chịu thiệt, mỗi bên một ít. Chỉ hàng nhập khẩu là được lợi.

Mặt khác, do chi phí tăng cao, các nhà đầu tư sẽ ngần ngại khi đầu tư sản xuất phân bón trong nước, đặc biệt là các dự án có công nghệ cao do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên liệu vật tư. Điều này dẫn tới tình trạng ngành sản xuất phân bón trong nước mất động lực phát triển do sản phẩm trở nên kém cạnh tranh so với hàng nhập khẩu và có nguy cơ bị hàng nhập khẩu đánh bại ngay trên sân nhà.

Chuyện gì sẽ xảy ra khi áp thuế GTGT 5% đối với phân bón?

Nếu phân bón được chuyển từ diện không chịu thuế GTGT sang diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, thì tình hình sẽ đảo ngược hoàn toàn.

Khi đó, các DN nhập khẩu phân bón sẽ phải chịu thuế GTGT 5% ngay khi nhập hàng, khiến chi phí tăng thêm 5% so với trước kia, và giá bán tới nông dân cũng tăng tương ứng. Ngược lại, các DN sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước sẽ được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra 5% thấp hơn thuế đầu vào 10%, khiến giá thành giảm đi so với trước và giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng.

Khi phân bón được áp thuế GTGT 5%, giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng

Như vậy, việc áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu và giảm giá của hàng nội địa, đưa cả hai về một mặt bằng chung do cùng chịu thuế suất 5%, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và ngoài nước, khắc phục được sự bất hợp lý đã diễn ra suốt 10 năm nay: hàng nhập khẩu được lợi thế hơn hàng trong nước.

Ngoài ra, phần ngân sách bị hụt thu từ hàng trong nước sẽ được bù đắp một phần từ khoản thu thuế GTGT từ hàng nhập khẩu.

Giá bán tới nông dân liệu có giảm?

Có một số ý kiến lo ngại rằng việc áp thuế GTGT 5% cho phân bón giúp DN giảm giá thành, nhưng chưa chắc DN đã chịu giảm giá bán và nông dân vẫn không được hưởng lợi.

Thực ra, mối lo ngại này cũng không khác gì mối lo ngại rằng khi Quốc hội đồng ý giảm thuế GTGT từ 10% xuống 8% thì lấy gì đảm bảo rằng các DN cũng giảm giá bán tới người tiêu dùng? Song, thực tế thời gian qua cho thấy mối lo ngại này không có cơ sở.

Hội thảo hướng dẫn sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả do PVFCCo (Phân bón Phú Mỹ) tổ chức

Thuế GTGT là thuế gián thu, các DN chỉ thu hộ Nhà nước từ người tiêu dùng, nên không lý gì DN lại dại dột tăng giá chưa có thuế GTGT (là phần họ được hưởng) để móc túi khoản 2% thuế GTGT đó từ người mua. Nếu họ “tham bát bỏ mâm”, khả năng rất lớn là họ sẽ không tiêu thụ được hàng do giá bán cao hơn các DN khác. Cơ chế cạnh tranh buộc các DN phải đưa giá về một mặt bằng chung, cấu thành từ giá chưa có thuế GTGT (là phần của DN), cộng với thuế GTGT theo quy định (là phần của Nhà nước).

Chính vì thế, Chính phủ mới có cơ sở để tiếp tục đề nghị Quốc hội xem xét kéo dài việc giảm thuế GTGT xuống 8% tới hết năm 2024.

Khi kiên trì kiến nghị chuyển phân bón thành đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5% hoặc tốt hơn nữa là 0%, các đơn vị sản xuất phân bón trong nước và đại diện của họ là Hiệp hội Phân bón Việt Nam hẳn phải có cơ sở vững chắc. Khi Chính phủ trình Quốc hội dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT hẳn cũng đã xem xét, cân nhắc vấn đề một cách toàn diện, thấu đáo, cẩn trọng. Và trái bóng hiện đang ở trong chân các đại biểu Quốc hội, người sẽ nhấn nút biểu quyết thông qua dự luật…!

Khác biệt ra sao giữa việc phân bón không chịu thuế và chịu thuế GTGT 5%?

(PetroTimes) – Theo Luật số 71/2014/QH13 (Luật thuế 71) sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế thì mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Hiện, Quốc hội đang xem xét đề xuất chuyển phân bón về diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5% và đang có nhiều ý kiến trái chiều về đề xuất này. Vậy bản chất vấn đề là thế nào?

Tác động của thuế GTGT đối với giá bán

Việc từ chỗ thuộc diện áp dụng thuế GTGT 5% chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT nghe qua tưởng như sẽ có lợi cho doanh nghiệp (DN) và nông dân, nhưng thực ra không hẳn. Trước đây, sản xuất phân bón chịu thuế đầu vào chủ yếu là 10%, thuế đầu ra 5%, tuy nhiên thuế đầu vào được khấu trừ và thậm chí hoàn thuế nếu mức thuế này cao hơn thuế đầu ra. Giờ đây, khi áp dụng theo Luật thuế 71 thì DN không được khấu trừ thuế đầu vào, mà phải hạch toán vào chi phí. Điều này khiến cho chi phí sản xuất kinh doanh của các DN phân bón có khả năng tăng lên đáng kể, kéo theo giá bán cuối cùng cho nông dân cũng tăng.

Kho sản phẩm Phân bón Phú Mỹ

Về lý thuyết, việc chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng chịu 5% thuế GTGT sang đối tượng không chịu thuế GTGT có thể dẫn đến hai khả năng trái ngược nhau: làm giảm giá bán; làm tăng giá bán tới người mua cuối cùng. Điều này phụ thuộc vào tỷ trọng chi phí đầu vào chịu thuế GTGT 10% trong cơ cấu giá bán sản phẩm (chưa có thuế GTGT).

Nếu tỷ trọng này thấp, ví dụ 10%, còn 90% còn lại của giá bán được cấu thành từ các khoản không chịu thuế GTGT như nguyên liệu là phân bón nhập khẩu (ví dụ như phân ure, Kali, lân dùng để sản xuất phân NPK), tiền lương, khấu hao máy móc, lợi nhuận DN…, thì việc không phải chịu thuế GTGT với mức 5% trên giá bán sẽ làm giá bán giảm đi so với khi phải chịu 5% thuế GTGT đầu ra và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào (vì thuế GTGT đầu vào không đáng kể).

Điều này xảy ra với những DN chuyên dùng nguyên liệu là các loại phân đơn nhập khẩu (không chịu thuế GTGT) để phối trộn một cách đơn giản và cho ra sản phẩm NPK mà người ta vẫn gọi là công nghệ “cuốc xẻng”.

Ngược lại, nếu tỷ trọng đó cao, từ 50% giá bán trở lên, mà đây lại là tình trạng phổ biến ở các DN sản xuất phân bón tại Việt Nam sử dụng nguyên liệu, vật tư, năng lượng, thiết bị,… chịu thuế GTGT đầu vào 10%, thì phần thuế GTGT đầu vào lớn hơn khoản 5% thuế GTGT đầu ra, do đó việc miễn khoản 5% đầu ra nhưng không cho khấu trừ 10% đầu vào sẽ khiến giá thành tăng lên so với khi phân bón chịu thuế GTGT 5% (vì DN được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào).

Giá thành tăng mà giá bán giữ nguyên thì DN chịu thiệt, còn nếu muốn giữ nguyên lợi nhuận thì DN phải tăng giá bán và người chịu thiệt là nông dân. Nếu chia sẻ thì cả hai cùng chịu thiệt, mỗi bên một ít. Chỉ hàng nhập khẩu là được lợi.

Mặt khác, do chi phí tăng cao, các nhà đầu tư sẽ ngần ngại khi đầu tư sản xuất phân bón trong nước, đặc biệt là các dự án có công nghệ cao do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên liệu vật tư. Điều này dẫn tới tình trạng ngành sản xuất phân bón trong nước mất động lực phát triển do sản phẩm trở nên kém cạnh tranh so với hàng nhập khẩu và có nguy cơ bị hàng nhập khẩu đánh bại ngay trên sân nhà.

Chuyện gì sẽ xảy ra khi áp thuế GTGT 5% đối với phân bón?

Nếu phân bón được chuyển từ diện không chịu thuế GTGT sang diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, thì tình hình sẽ đảo ngược hoàn toàn.

Khi đó, các DN nhập khẩu phân bón sẽ phải chịu thuế GTGT 5% ngay khi nhập hàng, khiến chi phí tăng thêm 5% so với trước kia, và giá bán tới nông dân cũng tăng tương ứng. Ngược lại, các DN sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước sẽ được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra 5% thấp hơn thuế đầu vào 10%, khiến giá thành giảm đi so với trước và giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng.

Khi phân bón được áp thuế GTGT 5%, giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng

Như vậy, việc áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu và giảm giá của hàng nội địa, đưa cả hai về một mặt bằng chung do cùng chịu thuế suất 5%, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và ngoài nước, khắc phục được sự bất hợp lý đã diễn ra suốt 10 năm nay: hàng nhập khẩu được lợi thế hơn hàng trong nước.

Ngoài ra, phần ngân sách bị hụt thu từ hàng trong nước sẽ được bù đắp một phần từ khoản thu thuế GTGT từ hàng nhập khẩu.

Giá bán tới nông dân liệu có giảm?

Có một số ý kiến lo ngại rằng việc áp thuế GTGT 5% cho phân bón giúp DN giảm giá thành, nhưng chưa chắc DN đã chịu giảm giá bán và nông dân vẫn không được hưởng lợi.

Thực ra, mối lo ngại này cũng không khác gì mối lo ngại rằng khi Quốc hội đồng ý giảm thuế GTGT từ 10% xuống 8% thì lấy gì đảm bảo rằng các DN cũng giảm giá bán tới người tiêu dùng? Song, thực tế thời gian qua cho thấy mối lo ngại này không có cơ sở.

Hội thảo hướng dẫn sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả do PVFCCo (Phân bón Phú Mỹ) tổ chức

Thuế GTGT là thuế gián thu, các DN chỉ thu hộ Nhà nước từ người tiêu dùng, nên không lý gì DN lại dại dột tăng giá chưa có thuế GTGT (là phần họ được hưởng) để móc túi khoản 2% thuế GTGT đó từ người mua. Nếu họ “tham bát bỏ mâm”, khả năng rất lớn là họ sẽ không tiêu thụ được hàng do giá bán cao hơn các DN khác. Cơ chế cạnh tranh buộc các DN phải đưa giá về một mặt bằng chung, cấu thành từ giá chưa có thuế GTGT (là phần của DN), cộng với thuế GTGT theo quy định (là phần của Nhà nước).

Chính vì thế, Chính phủ mới có cơ sở để tiếp tục đề nghị Quốc hội xem xét kéo dài việc giảm thuế GTGT xuống 8% tới hết năm 2024.

Khi kiên trì kiến nghị chuyển phân bón thành đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5% hoặc tốt hơn nữa là 0%, các đơn vị sản xuất phân bón trong nước và đại diện của họ là Hiệp hội Phân bón Việt Nam hẳn phải có cơ sở vững chắc. Khi Chính phủ trình Quốc hội dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT hẳn cũng đã xem xét, cân nhắc vấn đề một cách toàn diện, thấu đáo, cẩn trọng. Và trái bóng hiện đang ở trong chân các đại biểu Quốc hội, người sẽ nhấn nút biểu quyết thông qua dự luật…!

Khác biệt ra sao giữa việc phân bón không chịu thuế và chịu thuế GTGT 5%?

(PetroTimes) – Theo Luật số 71/2014/QH13 (Luật thuế 71) sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế thì mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Hiện, Quốc hội đang xem xét đề xuất chuyển phân bón về diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5% và đang có nhiều ý kiến trái chiều về đề xuất này. Vậy bản chất vấn đề là thế nào?

Tác động của thuế GTGT đối với giá bán

Việc từ chỗ thuộc diện áp dụng thuế GTGT 5% chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT nghe qua tưởng như sẽ có lợi cho doanh nghiệp (DN) và nông dân, nhưng thực ra không hẳn. Trước đây, sản xuất phân bón chịu thuế đầu vào chủ yếu là 10%, thuế đầu ra 5%, tuy nhiên thuế đầu vào được khấu trừ và thậm chí hoàn thuế nếu mức thuế này cao hơn thuế đầu ra. Giờ đây, khi áp dụng theo Luật thuế 71 thì DN không được khấu trừ thuế đầu vào, mà phải hạch toán vào chi phí. Điều này khiến cho chi phí sản xuất kinh doanh của các DN phân bón có khả năng tăng lên đáng kể, kéo theo giá bán cuối cùng cho nông dân cũng tăng.

Kho sản phẩm Phân bón Phú Mỹ

Về lý thuyết, việc chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng chịu 5% thuế GTGT sang đối tượng không chịu thuế GTGT có thể dẫn đến hai khả năng trái ngược nhau: làm giảm giá bán; làm tăng giá bán tới người mua cuối cùng. Điều này phụ thuộc vào tỷ trọng chi phí đầu vào chịu thuế GTGT 10% trong cơ cấu giá bán sản phẩm (chưa có thuế GTGT).

Nếu tỷ trọng này thấp, ví dụ 10%, còn 90% còn lại của giá bán được cấu thành từ các khoản không chịu thuế GTGT như nguyên liệu là phân bón nhập khẩu (ví dụ như phân ure, Kali, lân dùng để sản xuất phân NPK), tiền lương, khấu hao máy móc, lợi nhuận DN…, thì việc không phải chịu thuế GTGT với mức 5% trên giá bán sẽ làm giá bán giảm đi so với khi phải chịu 5% thuế GTGT đầu ra và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào (vì thuế GTGT đầu vào không đáng kể).

Điều này xảy ra với những DN chuyên dùng nguyên liệu là các loại phân đơn nhập khẩu (không chịu thuế GTGT) để phối trộn một cách đơn giản và cho ra sản phẩm NPK mà người ta vẫn gọi là công nghệ “cuốc xẻng”.

Ngược lại, nếu tỷ trọng đó cao, từ 50% giá bán trở lên, mà đây lại là tình trạng phổ biến ở các DN sản xuất phân bón tại Việt Nam sử dụng nguyên liệu, vật tư, năng lượng, thiết bị,… chịu thuế GTGT đầu vào 10%, thì phần thuế GTGT đầu vào lớn hơn khoản 5% thuế GTGT đầu ra, do đó việc miễn khoản 5% đầu ra nhưng không cho khấu trừ 10% đầu vào sẽ khiến giá thành tăng lên so với khi phân bón chịu thuế GTGT 5% (vì DN được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào).

Giá thành tăng mà giá bán giữ nguyên thì DN chịu thiệt, còn nếu muốn giữ nguyên lợi nhuận thì DN phải tăng giá bán và người chịu thiệt là nông dân. Nếu chia sẻ thì cả hai cùng chịu thiệt, mỗi bên một ít. Chỉ hàng nhập khẩu là được lợi.

Mặt khác, do chi phí tăng cao, các nhà đầu tư sẽ ngần ngại khi đầu tư sản xuất phân bón trong nước, đặc biệt là các dự án có công nghệ cao do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên liệu vật tư. Điều này dẫn tới tình trạng ngành sản xuất phân bón trong nước mất động lực phát triển do sản phẩm trở nên kém cạnh tranh so với hàng nhập khẩu và có nguy cơ bị hàng nhập khẩu đánh bại ngay trên sân nhà.

Chuyện gì sẽ xảy ra khi áp thuế GTGT 5% đối với phân bón?

Nếu phân bón được chuyển từ diện không chịu thuế GTGT sang diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, thì tình hình sẽ đảo ngược hoàn toàn.

Khi đó, các DN nhập khẩu phân bón sẽ phải chịu thuế GTGT 5% ngay khi nhập hàng, khiến chi phí tăng thêm 5% so với trước kia, và giá bán tới nông dân cũng tăng tương ứng. Ngược lại, các DN sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước sẽ được hoàn một phần thuế GTGT do thuế đầu ra 5% thấp hơn thuế đầu vào 10%, khiến giá thành giảm đi so với trước và giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng.

Khi phân bón được áp thuế GTGT 5%, giá bán tới nông dân cũng có điều kiện giảm tương ứng

Như vậy, việc áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu và giảm giá của hàng nội địa, đưa cả hai về một mặt bằng chung do cùng chịu thuế suất 5%, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và ngoài nước, khắc phục được sự bất hợp lý đã diễn ra suốt 10 năm nay: hàng nhập khẩu được lợi thế hơn hàng trong nước.

Ngoài ra, phần ngân sách bị hụt thu từ hàng trong nước sẽ được bù đắp một phần từ khoản thu thuế GTGT từ hàng nhập khẩu.

Giá bán tới nông dân liệu có giảm?

Có một số ý kiến lo ngại rằng việc áp thuế GTGT 5% cho phân bón giúp DN giảm giá thành, nhưng chưa chắc DN đã chịu giảm giá bán và nông dân vẫn không được hưởng lợi.

Thực ra, mối lo ngại này cũng không khác gì mối lo ngại rằng khi Quốc hội đồng ý giảm thuế GTGT từ 10% xuống 8% thì lấy gì đảm bảo rằng các DN cũng giảm giá bán tới người tiêu dùng? Song, thực tế thời gian qua cho thấy mối lo ngại này không có cơ sở.

Hội thảo hướng dẫn sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả do PVFCCo (Phân bón Phú Mỹ) tổ chức

Thuế GTGT là thuế gián thu, các DN chỉ thu hộ Nhà nước từ người tiêu dùng, nên không lý gì DN lại dại dột tăng giá chưa có thuế GTGT (là phần họ được hưởng) để móc túi khoản 2% thuế GTGT đó từ người mua. Nếu họ “tham bát bỏ mâm”, khả năng rất lớn là họ sẽ không tiêu thụ được hàng do giá bán cao hơn các DN khác. Cơ chế cạnh tranh buộc các DN phải đưa giá về một mặt bằng chung, cấu thành từ giá chưa có thuế GTGT (là phần của DN), cộng với thuế GTGT theo quy định (là phần của Nhà nước).

Chính vì thế, Chính phủ mới có cơ sở để tiếp tục đề nghị Quốc hội xem xét kéo dài việc giảm thuế GTGT xuống 8% tới hết năm 2024.

Khi kiên trì kiến nghị chuyển phân bón thành đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5% hoặc tốt hơn nữa là 0%, các đơn vị sản xuất phân bón trong nước và đại diện của họ là Hiệp hội Phân bón Việt Nam hẳn phải có cơ sở vững chắc. Khi Chính phủ trình Quốc hội dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT hẳn cũng đã xem xét, cân nhắc vấn đề một cách toàn diện, thấu đáo, cẩn trọng. Và trái bóng hiện đang ở trong chân các đại biểu Quốc hội, người sẽ nhấn nút biểu quyết thông qua dự luật…!

VR 360