Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Công ty Bảo hiểm PVI Thanh Hóa chi trả bồi thường bảo hiểm An Nông Việt cho nông dân

Chi trả tiền Bảo hiểm An Nông Việt tại Thanh Hóa

 

Ngày 02/11, Công ty Bảo hiểm PVI Thanh Hoá phối hợp với Công ty CP Phân bón & Hóa chất Dầu khí Miền Bắc và lãnh đạo địa phương 2 xã Xuân Lập và Xuân Giang- huyện Thọ Xuân triển khai chi trả tiền bảo hiểm theo chương trình Bảo Hiểm An Nông Việt cho14 hộ gia đình bị thiệt hại bởi ảnh hưởng của đợt mưa lũ đầu tháng 9/2012 trên địa bàn 2 xã với tổng số tiền bồi thường là 7.215.000 đồng

Việc thực hiện chi trả bảo hiểm đợt này có ý nghĩa rất lớn đối với bà con nông dân nhất là trong hoàn cảnh thiên tai, mưa lũ và thời tiết diễn biến bất thường như hiện nay. Thông qua chương trình này, bà con nông dân sẽ hiểu rõ hơn về lợi ích từ chương trình Bảo Hiểm An Nông Việt mà Tổng Công ty Phân bón & Hóa chất dầu khí đã nỗ lực triển khai thí điểm trong thời gian qua.

Được biết, trong đợt mưa lũ tháng 9 vừa qua, trên địa bàn huyện Thọ Xuân có 2 xã là Xuân Giang và Xuân Lập có nhiều hộ bị thiệt hại về cây lúa nằm trong chương trình bảo hiểm An Nông Việt. Công ty Bảo hiểm PVI tổ chức thanh toán bồi thường cho những hộ gia đình bị tổn thất từ 70% diện tích lúa trở lên. Xã Xuân Giang 2 trường hợp, xã Xuân Lập 12 trường hợp. Tổng số tiền bồi thường hơn 7 triệu đồng.

Chương trình bảo hiểm an nông việt có đối tượng được bảo hiểm là cây lúa sử dụng phân Đạm Phú Mỹ của PVFCCo, đối tượng thụ hưởng bảo hiểm (người được bảo hiểm) là người sử dụng phân Đạm Phú Mỹ để trồng lúa, phí bảo hiểm do PVFCCo hỗ trợ toàn bộ, chương trình được thực hiện thông qua hệ thống kênh phân phối sản phẩm của PVFCCo và hệ thống các đại lý bảo hiểm của PVI. Khi tham gia chương trình, người nông dân sẽ được PVFCCo hỗ trợ chi phí mua bảo hiểm, được bồi thường khi có rủi ro xảy ra (thiên tai lũ lụt, sâu bệnh…), được tư vấn hỗ trợ về quản lý rủi ro cũng như kỹ thuật canh tác sản xuất nhằm đạt được hiệu quả cao.

Dưới đây là một số hình ảnh:

Chi đoàn PVFCCo Central tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”

Tiếp tục hưởng ứng và thực hiện phong trào “Tuổi trẻ hành động vì biên giới, hải đảo”nhằm trang bị kiến thức và sự hiểu biết về chủ quyền biển đảo cho toàn thể CBNV và ĐVTN,góp phần nâng cao nhận thức vào việc bảo vệ, giữ gìn biển, đảo của Tổ quốc,đồng thời, để chuẩn bị tốt cho Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” do Đoàn Thanh niên Tổng Công ty phát động trong thời gian tới. Được sự cho phép của Chi bộ và Ban lãnh đạo Công ty, sáng ngày 04/11/2012 tại Thành phố Quy Nhơn, Chi đoàn PVFCCo Central đã tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”.

Hội thi đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát từ Chi bộ, Ban Lãnh đạo Công ty và sự cố vấn của đồng chí Huỳnh Văn Lợi – Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định. Cùng với sự tham dự và động viên của đồng chí Lê Anh Quốc –  Bí thư BCH Đoàn thanh niên Tổng Công ty và sự hưởng ứng, cổ vũ nhiệt tình của toàn thể ĐVTN, CBNV cùng các Chi đoàn bạn, Hội thi đã diễn ra thành công tốt đẹp.

Đây là chương trình có ý nghĩa thiết thực nhằmtuyên truyền, giáo dục tư tưởng, nâng cao nhận thức về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, thắp sáng thêm ngọn lửa tình yêu biển, đảo, đồng thời tạo sân chơi bổ ích cho ĐVTN được giao lưu, học hỏi và tăng thêm tinh thần đoàn kết, gắn bógiữa các ĐVTN.

Một số hình ảnh tại Hội thi:

Đạt giải nhất của Hội thi – Đội Đảo Phan Vinh

Chi đoàn PVFCCo Central tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”

Tiếp tục hưởng ứng và thực hiện phong trào “Tuổi trẻ hành động vì biên giới, hải đảo”nhằm trang bị kiến thức và sự hiểu biết về chủ quyền biển đảo cho toàn thể CBNV và ĐVTN,góp phần nâng cao nhận thức vào việc bảo vệ, giữ gìn biển, đảo của Tổ quốc,đồng thời, để chuẩn bị tốt cho Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” do Đoàn Thanh niên Tổng Công ty phát động trong thời gian tới. Được sự cho phép của Chi bộ và Ban lãnh đạo Công ty, sáng ngày 04/11/2012 tại Thành phố Quy Nhơn, Chi đoàn PVFCCo Central đã tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”.

Hội thi đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát từ Chi bộ, Ban Lãnh đạo Công ty và sự cố vấn của đồng chí Huỳnh Văn Lợi – Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định. Cùng với sự tham dự và động viên của đồng chí Lê Anh Quốc –  Bí thư BCH Đoàn thanh niên Tổng Công ty và sự hưởng ứng, cổ vũ nhiệt tình của toàn thể ĐVTN, CBNV cùng các Chi đoàn bạn, Hội thi đã diễn ra thành công tốt đẹp.

Đây là chương trình có ý nghĩa thiết thực nhằmtuyên truyền, giáo dục tư tưởng, nâng cao nhận thức về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, thắp sáng thêm ngọn lửa tình yêu biển, đảo, đồng thời tạo sân chơi bổ ích cho ĐVTN được giao lưu, học hỏi và tăng thêm tinh thần đoàn kết, gắn bógiữa các ĐVTN.

Một số hình ảnh tại Hội thi:

Đạt giải nhất của Hội thi – Đội Đảo Phan Vinh

PVFCCo tổ chức thành công Đại hội đại biểu Công đoàn lần thứ III, nhiệm kỳ 2012 – 2017

Chiều ngày 2/11, tại Tp.HCM, hòa trong không khí thi đua sôi nổi của giai cấp Công nhân ngành Dầu khí phấn đấu thực hiện hoàn thành kế hoạch năm 2012, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày truyền thống ngành Dầu khí, 21 năm Ngày thành lập Công đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đã tổ chức thành công Đại hội Đại biểu Công Đoàn Tổng công ty lần thứ III, nhiệm kỳ 2012- 2017.

Đến tham dự, về phía Công đoàn Dầu khí Việt Nam có đồng chí Hà Duy Dĩnh – ủy viên BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Công đoàn Dầu khí Việt Nam cùng các đồng chí lãnh đạo Công đoàn Dầu khí Việt Nam, các đơn vị trong ngành: PVD, PVGas, Petrosetco…; về phía Tổng công ty có đồng chí Bùi Minh Tiến – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty; đồng chí Cao Hoài Dương – Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ Tập đoàn, Phó Bí thư Đảng ủy TCT, Tổng Giám đốc Tổng công ty; đồng chí Trần Thị Phương Thảo – Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty và 150 Đại biểu là các công đoàn viên ưu tú đại diện cho gần 2000 công đoàn viên trong toàn Tổng công ty.

Tại Đại hội, BCH Công đoàn Tổng công ty đã trình bày và thông qua Báo cáo thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ II (2008 – 2012); Phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ III (2012 – 2017); Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra khóa II và phương hướng hoạt động của Ủy ban Kiểm tra khóa III (2012 – 2017). Ban điều hành Đại hội đã báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp cho Dự thảo Văn kiện Đại hội Công đoàn Dầu khí Việt Nam lần thứ V và Dự thảo Văn kiện Đại hội Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

Phát biểu tại Đại Hội, đồng chí Hà Duy Dĩnh đã ôn lại kỷ niệm những ngày đầu tiên Công đoàn PVFCCo đi vào hoạt động. Đồng chí đánh giá cao những thành tựu đạt được của Công đoàn PVFCCo qua những phong trào, hoạt động lớn do Công đoàn tổ chức thực hiện trong những năm qua như: Phong trào thi đua yêu nước, phong trào lao động giỏi, phong trao phát huy sáng kiến và hoạt động an sinh xã hội mà Công đoàn là đơn vị khởi xướng. Các hoạt động của Công đoàn PVFCCo đã góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, công tác sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Đồng thời, đồng chí đề nghị BCH Công đoàn PVFCCo trong nhiệm kỳ mới tiếp tục tăng cường các công tác thi đua học tập theo gương Bác Hồ kính yêu và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội trong cả nước để gây dựng một môi trường nhân ái trách nhiệm, đầy tình thương góp phần tăng cường vai trò của Công đoàn trong việc xây dựng thành công văn hóa PVFCCo.

Tại Đại hội, đồng chí Bùi Minh Tiến đã gửi lời cảm ơn và biểu dương những đóng góp của BCH Công Đoàn đồng thời lưu ý một số điểm trọng tâm cho BCH nhiệm kỳ mới như đổi mới hình thức sinh hoạt đa dạng phong phú nhằm giáo dục tinh thần yêu nước và gắn bó với công việc cho người lao động, phát huy tinh thần năng động sáng tạo, trách nhiệm sẻ chia và phong trào sáng kiến, cải tiến trong SXKD cũng như trong khâu quản lý phân phối sản phẩm.

Với tinh thần nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá những mặt làm được và chưa làm được trong nhiệm kỳ vừa qua, đúc rút những bài học kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Công đoàn Dầu khí Việt Nam và sự hỗ trợ, tạo điều kiện của chính quyền, trong nhiệm kỳ tới Công đoàn PVFCCo đoàn kết một lòng, phấn đấu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh.

Đại hội cũng đã tiến hành trao bằng khen cho các tập thể, công đoàn viên có thành tích xuất sắc và nhiều đóng góp cho hoạt động của Công đoàn Tổng công ty. Tại Đại hội đã lựa chọn, bầu ra BCH Công đoàn Tổng công ty nhiệm kỳ 2012-2017 và 08 đồng chí tham dự đại hội đại biểu Công đoàn Dầu khí Việt Nam lần thứ V. Ban chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ 2012 – 2017 gồm những đồng chí sau:

Đồng chí Nguyễn Đình Hùng
Đồng chí Mai Minh Phương
Đồng chí Hoàng Thị Thu Hằng
Đồng chí Tống Xuân Phong
Đồng chí Bùi Quang Phú Điền
Đồng chí Phạm Hồng Khánh
Đồng chí Phạm Mạnh Thuân
Đồng chí Nguyễn Tiến Sỹ
Đồng chí Trương Thế Vinh
Đồng chí Phạm Ngọc Thiệp
Đồng chí Chử Lan Phương
Đồng chí Nguyễn Thị Hà
Đồng chí Nguyễn Anh Hùng
Đồng chí Dương Thị Lưu Tình
Đồng chí Dương Hữu Thọ

Dưới đây là một số hình ảnh tại Đại hội:

Đồng chí Hà Duy Dĩnh phát biểu tại Đại hội:

Lợi ích từ xây dựng cánh đồng mẫu lớn

(Nguồn: Nhân dân) Tổ chức sản xuất theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” cho cây lúa hay những đối tượng cây, con khác sẽ giúp nông dân nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng để giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

Những thông tin lạc quan về kết quả canh tác lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (CÐML) ở An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích nhân rộng ra nhiều nơi khác là những tín hiệu rất tích cực. Ðây là tiền đề mà cũng chắc chắn sẽ sớm trở thành động lực to lớn thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam, nhất là nghề trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) tiến nhanh hơn trên con đường  công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên để đạt được những điều mong muốn đó, các nhà khoa học, nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và cả những nông dân tại từng địa phương phải không ngừng sáng tạo, chủ động ứng dụng những thành tựu mới phù hợp các quá trình điều hành, phục vụ sản xuất. Mà quan trọng hơn là phải nhạy bén, khéo léo, sáng tạo tích hợp những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng thành công nhiều nơi vào đồng ruộng của mình một cách linh hoạt và phù hợp, để có kết quả sản xuất cao nhất, sản phẩm đạt độ đồng đều cao, chất lượng tốt, nhằm góp phần tạo thế đứng vững chắc cho thương hiệu ở những thị trường đang hướng đến.

Thật ra, bản chất của cánh đồng mẫu lớn là không mới mà đã có từ lâu, đó là mô hình sản xuất lớn mang tính tập thể theo quy hoạch và theo kế hoạch, là bài học “vỡ lòng” cho việc quản lý sản xuất nông nghiệp có từ thời bao cấp. Nay được tổ chức, quản lý thực hiện theo cung cách làm ăn mới, nhằm hướng đến sản xuất hàng hóa chất lượng cao, sản lượng lớn, ổn định để nắm thế chủ động khi tham gia thị trường. Bởi muốn cạnh tranh thắng lợi trên thương trường quốc tế khi hội nhập sâu hơn, hạt gạo Việt Nam phải làm chủ được thị trường, tức phải có khối lượng hàng hóa lớn, đồng đều, có chất lượng tốt, ổn định và giá cả thuyết phục được khách hàng. Muốn thế, gạo của ta phải có thương hiệu uy tín, tức là từng chủng loại gạo theo yêu cầu thị trường phải có sản lượng lớn, chất lượng đồng nhất (cao hoặc thấp) và ổn định. Chỉ có sản xuất theo mô hình CÐML mới có thể đáp ứng tốt các yêu cầu này, chính vì thế CÐML đang rất được chú ý và hiện nó là mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp để tập hợp những nông dân cá thể, quy mô sản xuất nhỏ lẻ thành một cộng đồng lớn hơn, nhằm tạo ra nguồn sản phẩm uy tín với khách hàng.

Ðể hình thành được CÐML trong điều kiện đồng đất bị chia cắt không nhất thiết phải phá bờ, lấp mương hay phải tập trung ruộng đất và làm ăn tập thể theo như quan niệm cũ. Cần hình thành những mối liên kết mới bền chặt, phù hợp ngay trên đồng đất và hiện trạng sản xuất hiện hữu. Nhưng phải trên cơ sở “liên kết bốn nhà” bền vững và có thực chất, mới có thể tận dụng tối đa những lợi thế do các mối liên kết đó mang lại, nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất khi tổ chức sản xuất cây, con nào đó. Ðiều quan trọng là nhất thiết phải cần có những bước chuẩn bị về mặt tư tưởng, nhận thức cho cán bộ và nông dân; cần có quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất phù hợp; tạo dựng được mối liên kết “bốn nhà”. Và khi đã vào CÐML, dù sản xuất cây, con gì thì ngay trên đồng ruộng tự thân mỗi nông dân phải hướng vào lợi ích chung của tập thể, của cộng đồng, không được “đánh lẻ”, phá vỡ liên kết vì những lợi ích riêng tư cục bộ. Mà phải ý thức rõ ràng đối tượng mình cùng cộng đồng đang tập trung sản xuất là bán cho ai, khách hàng có những yêu cầu gì, sẽ đáp ứng những yêu cầu đó bằng cách nào, khi nào và được lợi ích gì cho bản thân và cho cộng đồng, tập thể? Trong quá trình hình thành và khi đã đi vào hoạt động ổn định, CÐML luôn rất cần mọi thành viên bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, nghiêm túc thực hiện hợp đồng, cam kết và các quy định đã thống nhất, nhằm vươn tới những mục tiêu đã đề ra.

Muốn khẳng định lợi ích của nông dân khi tham gia vào xây dựng vùng sản xuất lúa thành CÐML, các nhà quản lý cần năng động, nhạy bén chọn những tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp để áp dụng vào địa phương mình… Ðặc biệt là cần hướng dẫn ghi chép quy trình sản xuất và chi phí đầu tư vào sổ theo dõi (theo tiêu chuẩn VietGap) để nông dân tự tính toán được giá thành, lợi nhuận  mỗi vụ. Ðối với các loại cây, con khác cũng như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, để hình thành CÐML là một quá trình vận động phát triển, đòi hỏi có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần và đủ, không chạy theo phong trào! Ở An Giang, khởi đầu khi nông dân vào CÐML thì tất cả chi phí đầu vào, từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu… nông dân được mua ứng trước với giá gốc và thanh toán không tính lãi sau khi bán lúa; được bao tiêu sản phẩm hoặc mượn kho trữ gạo một tháng mà không phải trả phí. Nhờ vậy, chi phí sản xuất 1 kg lúa ở CÐML vụ đông xuân 2011 vừa rồi thấp hơn 1.000 đồng/kg so với những nơi khác.

Cái khó hiện nay là khá nhiều hộ dân trong vùng đang sản xuất theo mô hình đa canh, đa cây, con, nhưng lại nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, với tôm – lúa – cá – cua đan xen, gồm nhiều chủng loại giống cây, con khác nhau, mùa vụ khó tập trung, khó tạo thành khối lượng hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều, ổn định nên không ai đặt hàng và tự sản tự tiêu là chính, vì thế cảnh trúng mùa, rớt giá thường xuyên diễn ra. Ðối với cây lúa, nếu thực hiện được mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trên cơ sở xây dựng sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân với nhau và với doanh nghiệp, nhà khoa học, để tuy là “hộ dù nhỏ nhưng nhờ cùng liên kết để có cả cánh đồng lúa lớn” cùng canh tác một loại giống hoặc một nhóm giống có chung đặc tính, đồng nhất về mặt chất lượng gạo để có sản phẩm cạnh tranh, sẽ là hướng đi đúng, có ý nghĩa đối với nông dân khi hội nhập sâu hơn.

Khi đã hình thành được CÐML thông qua các mối liên kết bền vững thật sự và ổn định sản xuất với mô hình này, nông dân cần được doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm; nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật sẽ hướng dẫn từ khâu chọn giống đồng nhất, làm đất, xử lý giống, gieo cấy… đến thu hoạch, phơi phóng và các kỹ thuật canh tác lúa theo các quy trình canh tác lúa tiên tiến như “ba giảm, ba tăng”  hay quy trình “một phải, năm giảm” hoặc tiêu chuẩn VietGap, Global Gap… Ngoài ra còn có thể chọn các thành tựu, tiến bộ kỹ thuật khác để ứng dụng vào quá trình sản xuất của địa phương mình nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong quá trình xây dựng và thực hiện sản xuất theo CÐML, nông dân cũng tự nâng cao được trình độ về nhiều mặt, biết chủ động áp dụng cơ giới hóa, biết cách tính toán để giảm giá thành, giảm các chi phí trung gian, và được bao tiêu sản phẩm (hoặc gửi lưu kho chờ giá), sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất sẽ ngày càng được nâng cao và đời sống vật chất, tinh thần chắc chắn sẽ sớm có thay đổi tích cực. Các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đi vào bài bản, được kiểm soát tốt và hỗ trợ kịp thời cho nông dân yên tâm sản xuất. Mặt khác, nhà doanh nghiệp sẽ nắm được sản lượng lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao, đồng đều, thuận lợi trong việc chủ động nguồn hàng xuất khẩu để xây dựng thương hiệu uy tín, tạo sức cạnh tranh và bán được giá cao.

Về lâu dài, CÐML không chỉ áp dụng cho riêng cây lúa, mà cần suy nghĩ vận dụng thêm cho nhiều cây, con khác trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân có tích lũy, xây dựng thành công nông thôn mới.

NGUYỄN VĂN THƯỚC

Lợi ích từ xây dựng cánh đồng mẫu lớn

(Nguồn: Nhân dân) Tổ chức sản xuất theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” cho cây lúa hay những đối tượng cây, con khác sẽ giúp nông dân nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng để giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

Những thông tin lạc quan về kết quả canh tác lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (CÐML) ở An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích nhân rộng ra nhiều nơi khác là những tín hiệu rất tích cực. Ðây là tiền đề mà cũng chắc chắn sẽ sớm trở thành động lực to lớn thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam, nhất là nghề trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) tiến nhanh hơn trên con đường  công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên để đạt được những điều mong muốn đó, các nhà khoa học, nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và cả những nông dân tại từng địa phương phải không ngừng sáng tạo, chủ động ứng dụng những thành tựu mới phù hợp các quá trình điều hành, phục vụ sản xuất. Mà quan trọng hơn là phải nhạy bén, khéo léo, sáng tạo tích hợp những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng thành công nhiều nơi vào đồng ruộng của mình một cách linh hoạt và phù hợp, để có kết quả sản xuất cao nhất, sản phẩm đạt độ đồng đều cao, chất lượng tốt, nhằm góp phần tạo thế đứng vững chắc cho thương hiệu ở những thị trường đang hướng đến.

Thật ra, bản chất của cánh đồng mẫu lớn là không mới mà đã có từ lâu, đó là mô hình sản xuất lớn mang tính tập thể theo quy hoạch và theo kế hoạch, là bài học “vỡ lòng” cho việc quản lý sản xuất nông nghiệp có từ thời bao cấp. Nay được tổ chức, quản lý thực hiện theo cung cách làm ăn mới, nhằm hướng đến sản xuất hàng hóa chất lượng cao, sản lượng lớn, ổn định để nắm thế chủ động khi tham gia thị trường. Bởi muốn cạnh tranh thắng lợi trên thương trường quốc tế khi hội nhập sâu hơn, hạt gạo Việt Nam phải làm chủ được thị trường, tức phải có khối lượng hàng hóa lớn, đồng đều, có chất lượng tốt, ổn định và giá cả thuyết phục được khách hàng. Muốn thế, gạo của ta phải có thương hiệu uy tín, tức là từng chủng loại gạo theo yêu cầu thị trường phải có sản lượng lớn, chất lượng đồng nhất (cao hoặc thấp) và ổn định. Chỉ có sản xuất theo mô hình CÐML mới có thể đáp ứng tốt các yêu cầu này, chính vì thế CÐML đang rất được chú ý và hiện nó là mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp để tập hợp những nông dân cá thể, quy mô sản xuất nhỏ lẻ thành một cộng đồng lớn hơn, nhằm tạo ra nguồn sản phẩm uy tín với khách hàng.

Ðể hình thành được CÐML trong điều kiện đồng đất bị chia cắt không nhất thiết phải phá bờ, lấp mương hay phải tập trung ruộng đất và làm ăn tập thể theo như quan niệm cũ. Cần hình thành những mối liên kết mới bền chặt, phù hợp ngay trên đồng đất và hiện trạng sản xuất hiện hữu. Nhưng phải trên cơ sở “liên kết bốn nhà” bền vững và có thực chất, mới có thể tận dụng tối đa những lợi thế do các mối liên kết đó mang lại, nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất khi tổ chức sản xuất cây, con nào đó. Ðiều quan trọng là nhất thiết phải cần có những bước chuẩn bị về mặt tư tưởng, nhận thức cho cán bộ và nông dân; cần có quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất phù hợp; tạo dựng được mối liên kết “bốn nhà”. Và khi đã vào CÐML, dù sản xuất cây, con gì thì ngay trên đồng ruộng tự thân mỗi nông dân phải hướng vào lợi ích chung của tập thể, của cộng đồng, không được “đánh lẻ”, phá vỡ liên kết vì những lợi ích riêng tư cục bộ. Mà phải ý thức rõ ràng đối tượng mình cùng cộng đồng đang tập trung sản xuất là bán cho ai, khách hàng có những yêu cầu gì, sẽ đáp ứng những yêu cầu đó bằng cách nào, khi nào và được lợi ích gì cho bản thân và cho cộng đồng, tập thể? Trong quá trình hình thành và khi đã đi vào hoạt động ổn định, CÐML luôn rất cần mọi thành viên bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, nghiêm túc thực hiện hợp đồng, cam kết và các quy định đã thống nhất, nhằm vươn tới những mục tiêu đã đề ra.

Muốn khẳng định lợi ích của nông dân khi tham gia vào xây dựng vùng sản xuất lúa thành CÐML, các nhà quản lý cần năng động, nhạy bén chọn những tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp để áp dụng vào địa phương mình… Ðặc biệt là cần hướng dẫn ghi chép quy trình sản xuất và chi phí đầu tư vào sổ theo dõi (theo tiêu chuẩn VietGap) để nông dân tự tính toán được giá thành, lợi nhuận  mỗi vụ. Ðối với các loại cây, con khác cũng như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, để hình thành CÐML là một quá trình vận động phát triển, đòi hỏi có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần và đủ, không chạy theo phong trào! Ở An Giang, khởi đầu khi nông dân vào CÐML thì tất cả chi phí đầu vào, từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu… nông dân được mua ứng trước với giá gốc và thanh toán không tính lãi sau khi bán lúa; được bao tiêu sản phẩm hoặc mượn kho trữ gạo một tháng mà không phải trả phí. Nhờ vậy, chi phí sản xuất 1 kg lúa ở CÐML vụ đông xuân 2011 vừa rồi thấp hơn 1.000 đồng/kg so với những nơi khác.

Cái khó hiện nay là khá nhiều hộ dân trong vùng đang sản xuất theo mô hình đa canh, đa cây, con, nhưng lại nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, với tôm – lúa – cá – cua đan xen, gồm nhiều chủng loại giống cây, con khác nhau, mùa vụ khó tập trung, khó tạo thành khối lượng hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều, ổn định nên không ai đặt hàng và tự sản tự tiêu là chính, vì thế cảnh trúng mùa, rớt giá thường xuyên diễn ra. Ðối với cây lúa, nếu thực hiện được mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trên cơ sở xây dựng sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân với nhau và với doanh nghiệp, nhà khoa học, để tuy là “hộ dù nhỏ nhưng nhờ cùng liên kết để có cả cánh đồng lúa lớn” cùng canh tác một loại giống hoặc một nhóm giống có chung đặc tính, đồng nhất về mặt chất lượng gạo để có sản phẩm cạnh tranh, sẽ là hướng đi đúng, có ý nghĩa đối với nông dân khi hội nhập sâu hơn.

Khi đã hình thành được CÐML thông qua các mối liên kết bền vững thật sự và ổn định sản xuất với mô hình này, nông dân cần được doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm; nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật sẽ hướng dẫn từ khâu chọn giống đồng nhất, làm đất, xử lý giống, gieo cấy… đến thu hoạch, phơi phóng và các kỹ thuật canh tác lúa theo các quy trình canh tác lúa tiên tiến như “ba giảm, ba tăng”  hay quy trình “một phải, năm giảm” hoặc tiêu chuẩn VietGap, Global Gap… Ngoài ra còn có thể chọn các thành tựu, tiến bộ kỹ thuật khác để ứng dụng vào quá trình sản xuất của địa phương mình nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong quá trình xây dựng và thực hiện sản xuất theo CÐML, nông dân cũng tự nâng cao được trình độ về nhiều mặt, biết chủ động áp dụng cơ giới hóa, biết cách tính toán để giảm giá thành, giảm các chi phí trung gian, và được bao tiêu sản phẩm (hoặc gửi lưu kho chờ giá), sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất sẽ ngày càng được nâng cao và đời sống vật chất, tinh thần chắc chắn sẽ sớm có thay đổi tích cực. Các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đi vào bài bản, được kiểm soát tốt và hỗ trợ kịp thời cho nông dân yên tâm sản xuất. Mặt khác, nhà doanh nghiệp sẽ nắm được sản lượng lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao, đồng đều, thuận lợi trong việc chủ động nguồn hàng xuất khẩu để xây dựng thương hiệu uy tín, tạo sức cạnh tranh và bán được giá cao.

Về lâu dài, CÐML không chỉ áp dụng cho riêng cây lúa, mà cần suy nghĩ vận dụng thêm cho nhiều cây, con khác trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân có tích lũy, xây dựng thành công nông thôn mới.

NGUYỄN VĂN THƯỚC

Chi đoàn PVFCCo SE tổ chức thăm hỏi gia đình Nhân viên bảo vệ Chi nhánh Lâm Đồng

Ngày 31/10/2012, Chi đoàn Công ty CP Phân bón và Hóa chất Dầu khí Đông Nam Bộ phối hợp cùng Chi nhánh Lâm Đồng Công ty (CNLĐ) đã trực tiếp đến thăm hỏi, động viên và trao số tiền 21 triệu đồng hỗ trợ gia đình anh Nguyễn Thành Đồng – Nhân viên Công ty cung cấp dịch vụ bảo vệ đang làm việc tại CNLĐ. Được biết, con trai anh là cháu Nguyễn Hoàng Thiên Phát – 12 tháng tuổi bị dị tật mắt bẩm sinh, hiện đang điều trị tại Bệnh viện mắt Tp.HCM.

Số tiền hỗ trợ trên là hành động hết sức thiết thực, thể hiện sự quan tâm của toàn thể CBCNV Công ty. Hy vọng trong thời gian tới, gia đình anh sẽ có thêm điều kiện để tiếp tục giúp cháu điều trị tốt hơn, mang lại ánh sáng cho cháu.

PVN khai thác hơn 21 triệu tấn quy dầu

(Nguồn: Petrotimes) – Tại cuộc họp báo tháng 10 diễn ra mới đây, Bộ Công Thương cho biết Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu sản xuất kinh doanh tháng 10 và 10 tháng.

PVN khai thác hơn 21 triệu tấn quy dầu

(Nguồn: Petrotimes) – Tại cuộc họp báo tháng 10 diễn ra mới đây, Bộ Công Thương cho biết Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu sản xuất kinh doanh tháng 10 và 10 tháng.

VR 360