Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Xuất khẩu rau quả có thể đạt 1 tỷ USD năm nay

 

(Nguồn: VnEconomy)Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xuất khẩu rau quả những tháng đầu năm 2013 đã có những tín hiệu đáng mừng. Kim ngạch xuất khẩu quý 1 đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012. Trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đã đưa ra dự báo, nhu cầu tiêu thụ rau quả thế giới tiếp tục tăng từ 3,5-5% và ngành rau quả đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 1 tỷ USD trong năm 2013.  Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xuất khẩu rau quả những tháng đầu năm 2013 đã có những tín hiệu đáng mừng. Kim ngạch xuất khẩu quý 1 đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012.  Đến nay, rau quả Việt Nam đã có mặt ở 40 thị trường trên thế giới. Ông Huỳnh Quang Đấu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm rau quả An Giang phấn khởi cho biết, xuất khẩu 4 tháng đầu năm của công ty đạt 5 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ. Điều đáng mừng là số lượng và giá trị xuất khẩu đều tăng.  Tương tự, ông Trần Ngọc Hiệp, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Long Hoàng Hậu Bình Thuận chia sẻ, số lượng xuất khẩu 4 tháng đầu năm tăng 20% và tăng 30% về giá trị so với cùng kỳ năm trước, các thị trường xuất khẩu chính là EU, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Ông nhận định, thị trường xuất khẩu cho trái thanh long hiện đang thuận lợi và tiếp tục triển vọng trong những năm tiếp theo. Quan trọng là cần kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để tăng cơ hội xuất khẩu vào những thị trường khó tính.  Ông Nguyễn Văn Ngã, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 2 cho biết, trung bình mỗi tuần hiện có khoảng 3.000 tấn rau quả xuất sang thị trường EU. Tương tự, những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc cũng đã chấp nhận mặt hàng trái cây Việt Nam như chôm chôm, thanh long…  Đối với thanh long, từ khi Mỹ thực hiện kiểm dịch vào năm 2008 đến nay có khoảng 2.430 tấn xuất sang thị trường này; 1.223 tấn sang Nhật (tính từ 10/2009 đến nay) và 256 tấn vào thị trường Hàn Quốc (tính từ 2/2011).  Việt Nam cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tươi và Chi cục cũng yêu cầu các đơn vị nên lấy hàng từ vùng trồng theo mô hình GAP để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khó tính.  Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, rau quả Việt Nam có tiềm năng lớn về xuất khẩu và dự báo nhu cầu tiêu thụ rau quả thế giới  tiếp tục tăng từ 3,5-5%. Theo đó, ngành đặt mục tiêu xuất khẩu năm 2013 là 1 tỷ USD so với năm 2012 đạt 829 triệu USD. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn, doanh nghiệp cần nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm.  Với tư cách Phó chủ tịch Hiệp hội, ông Đấu cho rằng “5 năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả đều có sự tăng trưởng, nếu doanh nghiệp xuất khẩu đoàn kết vượt khó thì Việt Nam có thể đạt 1 tỷ USD trong năm nay. Vấn đề quan trọng hiện nay là làm cho nông dân có ý thức trong sản xuất phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường”. Tại đại hội Hiệp hội Rau quả Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2013-2018), hiệp hội cho rằng,  một số hạn chế hiện nay của ngành rau quả cần có giải pháp khắc phục. Như số liệu thống kê xuất nhập khẩu, từ trước đến nay hiệp hội chỉ nhận được từ Bộ Công Thương số liệu kim ngạch xuất khẩu rau quả theo thị trường, không có số liệu xuất khẩu theo khối lượng, mặt hàng hay giá xuất khẩu.  Việc thiếu số liệu làm cho công tác dự báo, dự đoán tình hình xuất khẩu và giá cả thị trường bị hạn chế. Về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, hiện các cơ sở trồng rau quả được chứng nhận VietGAP còn quá ít nên doanh nghiệp phải mua thêm hàng không có VietGAP.  Ngoài ra, doanh nghiệp rau quả hoạt động không ổn định, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, dễ bị tổn thương trong khủng hoảng kinh tế. Thời gian qua nhiều hội viên hiệp hội đã phá sản, thua lỗ, giải thể ngưng sản xuất, chuyển đổi ngành nghề. Các kiến nghị biện pháp phát triển ngành rau quả và bảo vệ quyền lợi hội viên tuy đã được Bộ ghi nhận nhưng mới có một số kiến nghị được giải quyết như mở cửa thị trường khó tính, bỏ thuế môi trường đối với túi nylong đựng hàng xuất khẩu… Để đạt mục tiêu xuất khẩu năm 2013, hiệp hội đề ra một số nhiệm vụ như tổ chức liên kết hội viên trong sản xuất, kinh doanh, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Tăng cường sinh hoạt nội bộ hội viên với các hình thức họp, tọa đàm, làm việc với các đoàn nhập khẩu trong và ngoài nước.  Công tác xúc tiến thương mại và tham gia các chương trình hội chợ trong và ngoài nước, đoàn khảo sát thị trường nước ngoài, quảng bá hàng nông lâm sản cũng sẽ được đẩy mạnh.  Dự kiến sản phẩm rau quả trái cây của Việt Nam sẽ được quảng bá đến các hội nghị tham tán Việt Nam ở các nước tổ chức tại Việt Nam và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Hiệp hội sẽ tổ chức nhiều hội chợ rau quả xuất khẩu trong và ngoài nước để quảng bá cho rau quả Việt Nam. Ngoài ra, cung cấp thông tin dự báo, làm việc với Bộ Công Thương về việc cung cấp số liệu xuất nhập khẩu rau quả…  

ĐBSCL sẽ hiện đại hoá công nghệ sau thu hoạch lúa

 

(Nguồn: Vietnamplus) Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang triển khai nhiều dự án nâng cao chất lượng lúa gạo nhằm tăng tính cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường thế giới, trước hết là hiện đại hóa công nghệ sau thu hoạch. Các dự án trên sẽ giúp Đồng bằng sông Cửu Long giảm chi phí sản xuất 30.000 đồng/tấn lúa, giúp tăng thu từ lúa trên 500 tỷ đồng mỗi năm. Giá trị tăng thêm của lượng lúa Hè Thu và Thu Đông do không còn bị hao hụt đạt khoảng 6.000 tỷ đồng. Từ nay đến năm 2020, các tỉnh sẽ trang bị thêm từ 20.000-25.000 máy gặt đập liên hợp và máy sấy lúa, bảo đảm cơ giới hóa các khâu gặt, sấy cho ít nhất 80% diện tích đất lúa. Từ nay đến năm 2015, các tỉnh bảo đảm thu hoạch lúa bằng máy đạt ít nhất 50% diện tích đất. Đến năm 2015, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long xây dựng thêm 70 hệ thống sấy hiện đại, công suất từ 10-30 tấn lúa/giờ, gắn với các trung tâm chế biến gạo xuất khẩu, bảo đảm sấy 4 triệu tấn lúa/năm, cộng với số máy sấy trong dân, sẽ bảo đảm sấy 80% lượng lúa Hè Thu, Thu Đông hàng năm.  Sức chứa của hệ thống kho lương thực tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang được nâng lên 3,98 triệu tấn. Hệ thống kho được xây dựng tại 52 địa điểm thuộc 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh.  Khi hoàn thành vào cuối năm 2013, hệ thống kho hoạt động theo cơ chế cơ giới hóa và tự động hóa nhằm nâng cao năng suất lao động và kiểm soát các thông số kỹ thuật trong quá trình bảo quản. Mức độ cơ giới hóa đạt 80% còn lại 20% được tự động hóa.  Việc nâng cấp, xây mới hệ thống kho nêu trên nhằm bảo đảm dự trữ, lưu thông 10 triệu tấn lúa/năm ở Đồng bằng sông Cửu Long trong khoảng thời gian tối đa là 6 tháng, bảo đảm thu mua hết lúa cho dân, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao hiệu quả sản xuất của người trồng lúa và nhà chế biến, xuất khẩu. Đến nay, việc cơ giới hóa thu hoạch lúa đáp ứng khoảng 800.000ha trong vụ Đông Xuân, tuy tăng gấp ba lần năm 2007 nhưng chỉ đáp ứng được 51% nhu cầu cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa Đông Xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trong vụ lúa Hè Thu, Thu Đông hàng năm, do thu hoạch trong mùa mưa, mặt ruộng thường bị sình lầy, tầm hoạt động của máy bị hạn chế nên diện tích thu hoạch lúa bằng máy đạt tỷ lệ thấp hơn vụ Đông Xuân.  Nhiều năm qua, mỗi năm Đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 2 vụ lúa Hè Thu và Thu Đông từ 2,2-2,3 triệu ha với tổng sản lượng thu hoạch từ 12-14 triệu tấn/năm. Lượng lúa hao hụt sau thu hoạch hai vụ này nhiều hơn vụ Đông Xuân (vì thu hoạch trong mùa mưa) với mức từ 10-12% do thiếu máy sấy./. Thế Đạt (TTXVN

Phân đạm cung vượt cầu: Nông dân được lợi gì?

 

(Nguồn: Lao động) Niên vụ hè thu 2013, lần đầu tiên thị trường phân đạm chứng kiến cảnh đảo chiều khi nguồn cung tăng mạnh, cầu được đáp ứng, chấm dứt cảnh “khan hàng, sốt giá”.

Thị trường được nhận định sẽ cạnh tranh mạnh khi có thêm nguồn cung là Nhà máy đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm) và đạm Ninh Bình (công suất dự kiến 560.000 tấn/năm) gia nhập thị trường. Song nông dân – người sử dụng cuối cùng – được hưởng lợi gì khi giá bán phân đạm hiện nay theo giá thế giới?

Vì sao “giá thế giới”?

Tại thời điểm này, nhu cầu phân bón phía Nam đã qua kỳ đỉnh điểm và vụ hè thu phía Bắc chưa rộ thì giá phân bón đến tay bà con nông dân đang dao động ở mức thấp. Thị trường trầm lắng do chưa vào vụ, nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là do cung lớn hơn cầu ở cả bình diện thế giới, lẫn trong nước, lượng tồn kho càng lúc càng cao.

Theo khảo sát của Hiệp hội Phân bón VN (FAV), trong khoảng 2 tuần trở lại đây, giá Urea tại chợ đầu mối TPHCM dao động từ 9.250 đ/kg- 9.600 đ/kg; trong đó, đạm Phú Mỹ (hạt trong) giá cao nhất từ 9.500-9.600 đ/kg; đạm Cà Mau (hạt đục) từ 9.300-9.320 đ/kg; đạm Ninh Bình từ 9.250-9.350 đ/kg; tại ĐBSCL: đạm Phú Mỹ là 9.700 đ/kg; đạm Cà Mau: 9.400 đ/kg. Giá urea tại phía Bắc: đạm Phú Mỹ: 10.450-10.500 đ/kg; đạm Hà Bắc: 10.500 -10.600 đ/kg, trong khi urea Ninh Bình vẫn giữ giá từ 9.200-9.300 đ/kg… Giá Urea nhập khẩu do nguồn cung lớn hơn cầu nên cũng chỉ còn dưới 400 USD/tấn, thậm chí một số nơi còn từ 365-380 USD/tấn. Lượng hàng Urêa nhập khẩu về VN chủ yếu qua đường tiểu ngạch Trung Quốc cũng giảm đáng kể do các đầu nậu không còn dám nhập nhiều do lo ngại không cạnh tranh được với hàng trong nước, ngay cả khi giá hạ.

Thị trường đang thuộc về người mua, nhưng giá thì vẫn theo quy luật cung cầu của thị trường thế giới. Điều này được các DN sản xuất trong nước lý giải là “Cả thế giới là một “bình thông nhau”. Nếu giá trong nước thấp hơn giá thế giới, như có thời điểm đạm Phú Mỹ đưa ra chính sách “một giá”, thì người hưởng lợi chưa chắc đã là bà con nông dân, mà các đầu mối trung gian sẽ gom hàng tích trữ hoặc XK ra bên ngoài để hưởng chênh lệch, dẫn đến thị trường “sốt ảo”. 

Trên nguyên tắc “bình thông nhau” của quy luật thị trường, từ quý II/2011, liên Bộ Công thương – Tài chính – NN-PTNT và Hiệp hội Phân bón VN đã đồng ý cho Đạm Phú Mỹ áp dụng chính sách giá bán sát với giá thị trường. Ông Cao Hoài Dương- TGĐ TCty Phân bón và hóa chất dầu khí (Đạm Phú Mỹ) cho biết: “Không thể “một mình một chợ” khi thị trường phân bón trong nước đã hội nhập sâu với thế giới. Nếu giá trong nước thấp, một lượng hàng đáng kể sẽ bị “chảy” ra khỏi Việt nam, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung trong nước. Với chính sách giá bán sát với giá thị trường cộng với nguồn cung trong nước gia tăng, từ đầu năm đến nay, giá rất ổn định, đạm Phú Mỹ chỉ dao động  dưới 10% (từ 9.200-10.000 đ/kg), luôn ở mức 1kg phân đạm thấp hơn 2kg lúa. Vì vậy, cái lợi của bà con nông dân khi cung đủ cầu là “cần là có với mức giá hợp lý”, không bị đầu cơ thổi giá như trước đây.

Mặt khác, với các DN mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối như Đạm Phú Mỹ, từ kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị, Nhà nước có thể thực hiện các chính sách điều tiết vĩ mô, đem lại lợi ích chung cho xã hội, trong đó có bà con nông dân và doanh nghiệp cũng có điều kiện để tích cực triển khai các chương trình an sinh xã hội với đối tượng thụ hưởng trực tiếp là bà con nông dân.

Cần giải pháp căn cơ hơn

Hiện nay cả nước có 4 nhà máy sản xuất phân đạm (đạm Hà bắc, Đạm Ninh Bình Đạm Phú Mỹ, Đạm Cà mau) với tổng công suất thiết kế lên đến 2,36 triệu tấn. Bốn nhà máy này thuộc 2 đơn vị chủ quản chính là Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và Tập đoàn Dầu khí Việt nam (Petrovietnam). Do đó, cần có giải pháp căn cơ hơn nếu muốn ổn định thị trường một cách lâu dài và qua đó tăng thêm lợi ích cho bà con nông dân. 

Theo Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký FAV- ông Nguyễn Đình Hạc Thúy: Ở nhiều thời điểm, giá phân đạm sản xuất trong nước còn cao hơn giá nhập khẩu, trong khi giá này phải cộng thêm các chi phí như thuế NK, thuế VAT, phí vận chuyển. Đó là chưa kể, hệ thống phân phối vẫn đa phần là tự phát, cùng với vai trò quyết định giá cả phần lớn nằm trong tay các nhà sản xuất lớn, nên không loại trừ có thời điểm để bán được hàng, nhà sản xuất sẵn sàng tăng chiết khấu cho đại lý, vô hình làm đẩy gánh nặng về giá cho người mua cuối cùng là nông dân.

Nhiều ý kiến cho rằng, cần xây dựng cơ chế để doanh nghiệp công khai, minh bạch chính sách giá bởi phân đạm là một trong những đầu vào thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp. Trường hợp Nhà nước vẫn chủ trương điều tiết giá theo thị trường, cần có chính sách điều tiết phù hợp lợi nhuận từ doanh nghiệp để hình thành Quỹ bình ổn phân bón. Mục tiêu là hỗ trợ trực tiếp nông dân trong việc đào tạo, nâng cao kiến thức trồng trọt, sản xuất lúa hàng hóa, hỗ trợ về thị trường tiêu thụ, hoặc thực hiện an sinh xã hội ở nông thôn. Dự kiến đầu tháng 6 tới, tại hội nghị toàn quốc về phân bón, Hiệp hội Phân bón VN (FAV) sẽ gửi kiến nghị lên Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan để có giải pháp cho thị trường này.
  VN đã tự chủ được hoàn toàn nguồn cung đạm Urea

Theo ông Phùng Hà- Cục trưởng Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) dự báo: Năm 2013, nhu cầu phân bón các loại của nước ta khoảng 10,3 triệu tấn, trong đó phân đạm urea 1,9- 2 triệu tấn, NPK 3,8 triệu tấn, phân lân 1,8 triệu tấn, SA 850.000 tấn, kali 950.000 tấn, DAP 900.000 tấn. Nếu tính riêng phân urê, tính đến thời điểm hiện tại, nước ta có Nhà máy đạm Cà Mau công suất 800.000 tấn/năm, Nhà máy đạm Phú Mỹ công suất 800.000 tấn/năm, Nhà máy đạm Ninh Bình công suất 560.000 tấn/năm. Nhà máy đạm Hà Bắc công suất 180.000 tấn/năm và hiện đang thực hiện dự án mở rộng lên 500.000 tấn/năm sẽ đi vào hoạt động năm 2014. Như thế, nếu các nhà máy phân đạm chạy hết công suất thiết kế, từ một nước luôn phải phụ thuộc phần lớn vào nguồn phân đạm urê nhập khẩu, VN đã có thể tự chủ hoàn toàn được loại phân bón quan trọng này.

Xuất khẩu gạo đồ, hướng đi mới của gạo VN

Nhiều doanh nghiệp chuyển sang sản xuất và xuất khẩu gạo đồ. Không chỉ bán được giá cao hơn, chế biến gạo đồ sẽ giải quyết được nhiều khó khăn trong sản xuất lúa gạo VN hiện tại.
Nhưng xuất khẩu gạo đồ không dễ vì thị trường hiện tại đang thuộc về Thái Lan và Ấn Độ, trong khi đầu tư vào công nghệ này cao hơn rất nhiều so với gạo trắng.
Giá cao, nguồn nguyên liệu ổn định
Trong cái nắng gay gắt đầu tháng 4, những công nhân lắp ráp và xây dựng tại nhà máy chế biến gạo đồ của Công ty TNHH lương thực VAP (Mộc Hóa, Long An) vẫn kiên trì làm việc để hoàn thành đúng tiến độ. Bên trong, dây chuyền hấp sấy, xay xát và đánh bóng gạo với công suất giai đoạn một là 500 tấn lúa/ngày cơ bản đã định hình. Dự kiến tháng 6 nhà máy chạy thử và tháng 7 hoạt động chính thức.
VAP là đơn vị liên doanh giữa Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) với hai đơn vị nước ngoài là Auro Capital và Phoenix Comodities với vốn đầu tư giai đoạn đầu khoảng 15 triệu USD. Đây là nhà máy sản xuất gạo đồ thứ ba của VN, sau nhà máy của Công ty cổ phần Vinh Phát (TP.HCM) tại An Giang và nhà máy của một công ty Thái Lan ở Tiền Giang.
Ông Arup Kumar Gupta – tổng giám đốc VAP, cho biết các đơn vị tham gia đều nhận thấy đây chính là thời điểm thuận lợi để đầu tư sản xuất gạo đồ tại VN, vì tuy là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng gạo đồ của VN hầu như không đáng kể.
“Lượng gạo thương mại toàn cầu khoảng 35-36 triệu tấn/năm, trong đó gạo đồ chiếm 5-6 triệu tấn. Tuy nhiên, nguồn cung loại gạo đồ chủ yếu đến từ Thái Lan và Ấn Độ với trên 70% tổng sản lượng” – ông Arup cho biết. Trong khi đó, VN đang có nhiều ưu thế so với hai nước xuất khẩu gạo đồ lớn nhất thế giới là Ấn Độ và Thái Lan. Gạo VN có chất lượng tốt với nhiều chủng loại trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu đã được hoàn thiện sau nhiều năm xuất khẩu. Do đó, có thể giá gạo của VN không thấp hơn nhưng khả năng giao hàng của VN ổn định, khác hẳn với chính sách xuất khẩu “giật cục” của Ấn Độ. Còn so với Thái Lan, giá gạo VN cạnh tranh hơn.
Theo các chuyên gia, đầu tư vào gạo đồ thể hiện sự phát triển của ngành hàng lúa gạo VN và là xu hướng tất yếu trong chiến lược xuất khẩu lúa gạo VN. Nhiều năm trở lại đây, VN luôn trong tình trạng sản xuất dư thừa năm sau cao hơn năm trước. Trong khi đó, nhiều nước sản xuất khác như Campuchia, Myanmar, Pakistan… nổi lên như những nhà cung cấp lúa gạo đầy tiềm năng và họ cũng chọn phân khúc gạo trắng làm sản phẩm chủ yếu. Thực tế trong vài năm trở lại đây cho thấy gạo trắng VN ngày càng khó cạnh tranh với gạo từ các nước này khi giá giảm liên tục. Do đó, đa dạng hóa sản phẩm là hướng đi cần thiết để “giảm tải” cho gạo trắng cũng như nâng cao giá trị xuất khẩu gạo VN.
Nhiều rủi ro về thị trường
Theo một số chuyên gia, gạo đồ chỉ cần một loại lúa nguyên liệu đồng nhất, không phân biệt phẩm cấp theo phần trăm tấm như gạo trắng, nên các nhà máy có thể sử dụng loại lúa IR50404 hạt dài để chế biến, giải quyết một phần đầu ra cho loại lúa mà các cơ quan chức năng khuyến cáo hạn chế sử dụng nhiều năm qua chưa có kết quả. Hơn nữa, chế biến gạo đồ có thể sử dụng được lúa ướt mua trực tiếp từ đồng ruộng, giúp người dân đỡ công sấy và bảo quản, nhất là lúc thu hoạch vụ hè thu vào mùa mưa ở ĐBSCL.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Thọ Trí – phó tổng giám đốc Vinafood 2 – cho rằng thị trường gạo đồ đang thuộc về các tập đoàn đa quốc gia, không dễ dàng gì thâm nhập và lấy của họ. Điều này cũng giải thích vì sao Vinafood 2 lại chọn con đường liên doanh chế biến xuất khẩu gạo đồ thay vì tự mình làm toàn bộ, dù đây là đơn vị đang chiếm tới 40% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước.Trong liên doanh này, Vinafood 2 tập trung lo phần nguyên liệu trong nước đảm bảo số lượng và chất lượng, còn đầu ra sẽ do các đối tác đảm nhận.
“Việc chọn cách liên doanh với các đối tác mạnh về tài chính đồng thời cũng là những công ty đã có thị trường về mặt hàng này để đầu tư cũng là cách để Vinafood 2 hạn chế rủi ro về thị trường, đầu ra của sản phẩm” – ông Trí nói. Theo ông Trí, thị trường gạo đồ chủ yếu là khu vực người theo đạo hồi Tây Phi, Trung Đông, Nam Mỹ và một số quốc gia châu Á. Với sự góp mặt của Phoenix Commodities, tập đoàn kinh doanh nông sản quy mô toàn cầu, đầu ra gạo đồ của VAP đã được đảm bảo.
Là đơn vị đầu tiên của VN xuất khẩu gạo đồ từ năm 2010, đến nay gạo đồ của công ty đã được xuất khẩu đến nhiều nước tại khu vực Trung Đông, châu Phi… với giá bán thường cao hơn gạo trắng cùng loại 40-50 USD/tấn.
Nhưng theo ông Trần Ngọc Trung – tổng giám đốc Công ty cổ phần Vinh Phát, đầu tư vào gạo đồ có nhiều khó khăn hơn so với gạo trắng do chi phí đầu tư cao và việc tìm thị trường xuất khẩu loại gạo này khó khăn nên nhiều công ty chưa mạnh dạn đầu tư.

Gạo đồ là loại gạo thu từ thóc được ngâm nước nóng hoặc sấy trong hơi nước rồi phơi khô, sau đó gia công chế biến qua các công đoạn như xay, xát, đánh bóng.
Theo Hiệp hội Lương thực VN, trong ba tháng đầu năm nay VN đã xuất khẩu được gần 16.400 tấn gạo đồ, chiếm khoảng 1,13% tổng lượng gạo xuất khẩu của VN.

 

TRẦN MẠNH – Tuổi Trẻ
 

Ký kết phối hợp hoạt động nhân đạo

 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chụp ảnh lưu niệm với đại diện chín đơn vị tham gia ký kết phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Ảnh: NGUYỄN KHANG (TTXVN) Sáng 6-4, tại Hà Nội, T.Ư Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài, Ðài Truyền hình Việt Nam, Ðài Tiếng nói Việt Nam, Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, Công ty truyền thông đa phương tiện Latsata, Công ty TNHH Miwon tổ chức ký chương trình phối hợp hoạt động nhân đạo giai đoạn 2013-2018. Tới dự lễ ký và tham gia ký, có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam; Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Trần Bình Minh, Tổng Giám đốc Ðài Truyền hình Việt Nam; Ðinh Văn Cương, Phó trưởng ban Kinh tế T.Ư; đại diện một số bộ, ban, ngành và tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Chương trình phối hợp hoạt động nhằm phát huy thế mạnh của mỗi tổ chức trong công tác nhân đạo, nâng cao hiệu quả trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, tham gia xóa đói, giảm nghèo, giáo dục truyền thống nhân ái của dân tộc, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội của Ðảng và Nhà nước. Trong đó, tập trung trước mắt thực hiện hiệu quả dự án “Ngân hàng bò”; xây dựng nông thôn mới và cuộc vận động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”. Tại lễ ký, Ngân hàng Nhà nước đã ủng hộ sáu tỷ đồng cho dự án “Ngân hàng bò” và hoạt động nhân đạo; Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel ủng hộ 3,5 tỷ đồng và Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam ủng hộ 2,1 tỷ đồng cho dự án “Ngân hàng bò”; Tổng công ty Cổ phần dịch vụ kỹ thuật Dầu khí ủng hộ 1,5 tỷ đồng xây dựng nhà trẻ tại Hòa Bình; Công ty TNHH Miwon ủng hộ học bổng “Thắp sáng tương lai” và các hoạt động nhân đạo khác năm tỷ đồng trong năm năm; Coca-Cola Việt Nam ủng hộ 2,1 tỷ đồng; một số tổ chức kiều bào ủng hộ người nghèo tại Việt Nam 100 triệu đồng… Phát biểu ý kiến tại lễ ký, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao việc T.Ư Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng các cơ quan, đơn vị tổ chức lễ ký phối hợp công tác nhân đạo giai đoạn 2013-2018. Sự tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp, các tổ chức, các nhà hảo tâm trong nước và quốc tế với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam sẽ góp phần cùng Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta tiếp tục chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của những người có hoàn cảnh khó khăn. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: Nhân đạo là bản chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được lưu truyền, bồi đắp từ đời này qua đời khác trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tiếp nối truyền thống đó, Ðảng và Nhà nước ta luôn đề cao truyền thống nhân đạo, quán triệt tư tưởng nhân đạo vào các đạo luật, cơ chế chính sách, các hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam để làm vai trò nòng cốt, cầu nối, điều phối các hoạt động nhân đạo và Bác là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội. Thông qua Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, những người có hoàn cảnh khó khăn ở mọi tầng lớp, lứa tuổi, ở mọi miền của đất nước, đã nhận được sự trợ giúp nhân đạo, đáng trân trọng của các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Chỉ riêng phong trào “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam” Xuân Quý Tỵ 2013, mặc dù trong điều kiện kinh tế khó khăn, các cấp Hội trong cả nước đã vận động gần 2.500 doanh nghiệp, hơn 4.000 cơ quan, đơn vị ủng hộ và đã trao 1.506.298 suất quà tặng các hộ nghèo, nạn nhân chất độc da cam, hỗ trợ nhiều hộ nghèo trong toàn quốc với tổng giá trị đạt hơn 447 tỷ đồng. Dự án “Ngân hàng bò” trong ba năm qua, đã vận động và trao tặng 7.028 con bò sinh sản cho các hộ nghèo tại 108 huyện (có 33/62 huyện nghèo trong cả nước đã được hỗ trợ với giá trị đạt hơn 52 tỷ đồng). Chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu gọi các tổ chức, các nhà hảo tâm tiếp tục nêu cao tấm lòng nhân ái, tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo của Hội Chữ thập đỏ, hưởng ứng cuộc vận động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”. Các cơ quan thông tin đại chúng cần tích cực tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của các việc làm từ thiện, nhân đạo, biểu dương các tổ chức và cá nhân tham gia tích cực và có nhiều đóng góp trong hoạt động nhân đạo.

Không còn “sốt” giá phân bón trong vụ Hè Thu 2013

 

Mạnh tay “trảm” phân bón kém chất lượng

Sau một thời gian tạm lắng, gần đây thị trường phân bón, các mặt hàng VTNN kém chất lượng đã bắt đầu hoạt động trở lại, thậm chí có Cty SX phân bón còn bị một số đối tượng làm giả gây lo ngại cho bà con nông dân trước vụ lúa HT sắp tới.
Thanh tra than mỏng
Để bà con yên tâm bắt tay vào SX vụ HT, thanh tra nông nghiệp trong vùng bán đảo Cà Mau đã không ngừng tăng cường công tác kiểm tra các đơn vị kinh doanh phân bón trên địa bàn, nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại cho nông dân trong SX.
Vùng bán đảo Cà Mau có diện tích đất SX nông nghiệp hơn 1 triệu ha, do đó lượng phân bón bà con nông dân cần trong từng vụ mùa SX là rất lớn. Trong những năm qua đã có không ít trường hợp người dân bị “tiền mất tật mang” do mua nhằm phân bón giả hay phân bón kém chất lượng bón cho cây lúa.
Ông Phạm Thế Tài, Chánh Thanh tra Sở NN-PTNT Cà Mau cho biết, công tác thanh tra, xử lý đơn vị kinh doanh phân bón, các mặt hàng VTNN kém chất lượng còn gặp phải một số khó khăn nhất định. Tuy nhiên, với vai trò và trách nhiệm của mình, thời gian qua đơn vị đã tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh, mua bán phân bón, VTNN trên địa bàn tỉnh, kiên quyết không để cho phân bón dỏm có điều kiện hoạt động, gây thiệt hại cho nông dân.

Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng nông thôn mới

 

(Nguồn: Nhân dân) – Để góp phần giúp các cơ quan chức năng chuẩn bị cho việc tổng kết năm năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành T.Ư Đảng (khóa X) ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; hai năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Báo Nhân Dân, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân Việt Nam và Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam tiếp tục tổ chức cuộc thi viết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn năm 2013 với chủ đề Xây dựng nông thôn mới. Bắt đầu từ số báo hôm nay, chúng tôi lần lượt đăng tải bài gửi tham gia dự thi. Rất mong nhận được sự cộng tác của cộng tác viên và bạn đọc. Đến nay, việc xây dựng nông thôn mới (NTM) đã bộc lộ nhiều bất cập, vì chúng ta thúc đẩy phát triển nhưng ít chú ý đến quản lý sự phát triển đó. Do đó, để bảo đảm sự phát triển bền vững, nông thôn cần bước sang giai đoạn mới. Đó là sự phát triển phải được quản lý và điều phối chặt chẽ xã hội, kinh tế, nguồn lực, tài nguyên, môi trường, chất lượng sản phẩm, tài chính… Nghị quyết 26, khóa X của Đảng có tính đột phá về tư tưởng trong phát triển nông thôn so với các chiến lược chính sách trước đó. Lần đầu tiên, một văn kiện của Đảng khẳng định phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết cũng khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn trên cơ sở kinh tế thị trường định hướng XHCN, và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Về quy hoạch, hiện nước ta thiếu chiến lược phát triển nông nghiệp và quy hoạch cấp vùng, do vậy sự liên kết kinh tế, giữa đô thị và nông thôn, công nghiệp và dịch vụ với nông nghiệp trong không gian vùng không có định hướng rõ ràng. Không gian hành chính theo tỉnh, quyết định chủ yếu theo cấp tỉnh, đã khó bảo đảm không gian kinh tế vùng trong phát triển nông thôn như mong muốn của Nghị quyết 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Tam nông). Chương trình xây dựng nông thôn mới thực hiện chỉ ở cấp xã, mà không có những chương trình hỗ trợ cấp vùng, đã làm cho việc xây dựng các xã nông thôn mới khó khăn. Khi tiến hành quy hoạch nông thôn mới cấp xã, nếu thiếu quy hoạch chung định hướng cấp vùng, tỉnh, huyện thì quy hoạch các xã cũng sẽ thiếu tính kết nối và ít khả thi, nhất là về phát triển kinh tế. Vì vậy, cần thiết quy hoạch mạng lưới cụm nông công nghiệp hiện đại làm động lực cho phát triển nông nghiệp tại các vùng. Ở đó cần có những vùng sản xuất nông nghiệp quản lý hiện đại, sản xuất có quản lý tốt kết nối công nghiệp, dịch vụ, thị trường. Quy hoạch nông thôn mới cấp xã, hiện nay đồng loạt làm ở nhiều địa phương, gây ra khan hiếm tư vấn, có nhiều tư vấn kém chất lượng, nhiều tư vấn chỉ chuyên ngành thực hiện trợ giúp các xã mà đôi khi cũng không hiểu rằng quy hoạch xây dựng NTM khác với quy hoạch chuyên ngành, bởi vì nó bao hàm tính chất tổng thể, thể hiện cả chiến lược phát triển nông thôn của xã đó, mà đôi khi từng nhà tư vấn còn thiếu hụt. Do đó, trước mắt cần xây dựng thể chế NTM, quy định luật chơi mới trong nông thôn giữa các cộng đồng dân cư, giữa các cộng đồng nghề nghiệp, giữa Nhà nước và cộng đồng, giữa Nhà nước và tư nhân, vai trò của hệ thống dịch vụ công. Những nội dung này được đề cập trong Nghị quyết 26 Tam nông, nhưng đến thời điểm hiện nay ít được thực hiện trong Chương trình xây dựng nông thôn mới. Khi Việt Nam xây dựng được thể chế mới trong nông thôn, thì xây dựng nông thôn mới không là chương trình dự án của Nhà nước, mà là một quá trình xã hội, do các tác nhân nông thôn tự đầu tư, hành động theo định hướng, điều phối của Nhà nước. Vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, hộ nông dân cần được coi trọng và được thể chế hóa trong các văn bản chính sách, pháp luật. Vai trò cộng đồng cần được coi trọng, cần ra chính sách để cộng đồng thật sự quyết định trong thiết kế, triển khai các hoạt động xây dựng NTM hiện nay. Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nêu rõ, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại. Vậy nội dung xây dựng nền nông nghiệp hiện đại cả về ứng dụng công nghệ, quản lý tốt về sản xuất theo vùng, quy mô trang trại, hộ nông dân, quản lý chất lượng, bảo hiểm, tiếp cận thị trường, sẽ được thực hiện như thế nào? Khi triển khai NTM, liệu các quy hoạch cấp xã hiện nay có bảo đảm xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, khi mà các quy hoạch phần lớn các xã hiện nay không có nghiên cứu về thị trường, nguồn lực đầu tư. Trong quá trình xây dựng NTM, vai trò của dịch vụ công rất quan trọng, vậy chương trình NTM sẽ đổi mới tổ chức, đánh giá về chất lượng dịch vụ công thế nào để có một nền dịch vụ công hiệu quả phù hợp với xây dựng NTM. Huy động vốn đầu tư: chương trình xây dựng NTM là một chương trình khung xây dựng định hướng, nền tảng cho toàn bộ xã hội, các chương trình đầu tư của Nhà nước, dân cư, doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển nông thôn. Hiện nay, phần lớn các địa phương chưa thật sự chú trọng điều này, hoạt động xây dựng NTM ở các địa phương vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn Nhà nước, chưa tạo được một động lực đầu tư của nhân dân, toàn xã hội. Thiết kế định hướng xây dựng NTM vẫn chủ yếu của các ngành, đoàn thể mà chưa chú ý đến sự tham gia của khối kinh tế tư nhân, hộ nông dân. Một khi chiến lược hoạt động kinh tế của các tác nhân phi nhà nước ở nông thôn chưa được tìm hiểu, được tính đến trong thiết kế hoạt động xây dựng NTM ở các cấp, thì hoạt động xây dựng NTM sẽ vẫn chỉ dựa vào vốn đầu tư của Nhà nước. Chúng ta cần tạo ra một môi trường an toàn đầu tư trong nông nghiệp nông thôn, nhất là về quy hoạch tổng thể, sử dụng đất, hạ tầng. Không một doanh nghiệp, hộ nông dân nào nghĩ đến đầu tư dài hạn, nếu vùng nguyên liệu luôn được quy hoạch thay đổi, chính sách hỗ trợ quy hoạch của Nhà nước không rõ ràng. Một vấn đề trước mắt và lâu dài là cần nâng cao năng lực cư dân nông thôn: khi xác định nâng cao năng lực cư dân nông thôn, cho những thế hệ hiện nay và cả mai sau, một câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ nâng cao năng lực gì, để làm gì. Nâng cao năng lực cho cư dân nông thôn, không những chỉ cho nông thôn, mà còn cung cấp cho toàn xã hội, do đó việc đào tạo cư dân nông thôn có sự quan hệ mật thiết với nhu cầu CNH, đô thị hóa, hiện đại hóa dịch vụ, hiện đại hóa nông nghiệp. Có nghĩa là chúng ta đào tạo để cho một bộ phận lớn dân cư sẽ rời khỏi nông nghiệp, rời nông thôn ra đô thị sinh sống. Mặt khác, trong tương lai, cần có chính sách để ngay từ bây giờ, xây dựng đội ngũ nông dân trẻ, có trình độ đủ sức làm chủ nền nông nghiệp hiện đại cả về công nghệ và quản lý. Như tình trạng hiện nay, thanh niên rời nông thôn thì nguy cơ tương lai sẽ không có đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, hiện đại cho nền nông nghiệp hiện đại. Những kỹ năng, kiến thức đào tạo đó, phải thiết kế dựa trên định hướng công nghiệp hóa cả về nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Tránh tình trạng, chúng ta lại đào tạo những gì chúng ta có, đào tạo mà không biết những nhân lực đó sẽ đảm nhiệm vai trò gì trong tương lai. Hiện nay, ngân sách đào tạo tương đối lớn, các địa phương đều có nhiều ngân sách đào tạo và nhiều nơi tăng cường giải ngân, đào tạo để mà đào tạo. Việc cấp thiết hiện nay là đổi mới cách thức tổ chức, cung cấp kinh phí cho đào tạo. Về vai trò khoa học công nghệ: Khi xây dựng NTM, khó nhất như Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã nhiều lần phát biểu, đó là cách làm, phương pháp làm. Do đó, có thể thấy, vai trò của các nhà nghiên cứu trong việc thử nghiệm, nghiên cứu, xây dựng các phương pháp, cách làm. Trong thời gian vừa qua, sự đóng góp của các cơ quan nghiên cứu, viện nghiên cứu cho các vấn đề đặt ra của Nghị quyết 26 Tam nông về xây dựng NTM còn chưa tương xứng. Có thể các nhà nghiên cứu chưa thật sự hiểu tầm quan trọng của việc xây dựng NTM, thực hiện nghiên cứu còn chưa chú trọng đến định hướng, chính sách của Nhà nước, nhu cầu thị trường, nhu cầu của xã hội. Cũng có thể, do nguồn kinh phí, sự khuyến khích của Nhà nước cho nghiên cứu các vấn đề đặt ra của xã hội NTM chưa được quan tâm. Hy vọng rằng, với việc phát triển Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ NTM, khoa học công nghệ sẽ đóng góp nhiều hơn cho việc xây dựng NTM. Bên cạnh đó, vai trò tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài: chúng ta cần thiết đưa các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo cán bộ, đầu tư theo định hướng của các địa phương, trung ương trong xây dựng NTM. Tất cả những vấn đề nêu trên đều nằm trong Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM (theo Quyết định 800 của Thủ tướng Chính phủ) đã ra đời với mục tiêu tạo ra những thay đổi mang tính đột phá vì sự phát triển bền vững của nông thôn nước ta trong những năm trước mắt và lâu dài.

Đồng bằng Sông Cửu Long: Phân bón giả hoành hành

 

  Người dân “đánh bạc” với việc sử dụng phân bón
  (Nguồn: Đại đoàn kết) Người dân lo lắng   Thời gian qua, người dân mua phân bón theo kiểu “hên xui”, nghe, tin theo đại lý chứ không có cách nào để kiểm định được chất lượng. Chỉ sau khi bón xuống ruộng lúc đó mới biết được hiệu quả thực sự. Việc mua phải phân bón giả, bị “lừa tiền” chỉ là chuyện nhỏ, nhưng cái quan trọng là năng suất vụ mùa đó bị ảnh hưởng.   Anh Hồ Hoàng Vũ (ở ấp Đông Mỹ, xã Động Thuận, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ) cho biết: Người dân chúng tôi lâu nay hoàn toàn tin tưởng vào các đại lý, còn việc phân bón kém chất lượng thì nhìn ngoài không biết được, chỉ biết sau khi bón lên cây. Theo tôi, các ngành chức năng cần quản lý kiểm tra chặt chẽ thị trường, đừng để người dân phải lãnh hậu quả…   Ông Lê Văn Chiêu (ở xã Vị Tân, TP.Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang) trồng trên 6 công mía cho biết: Hiện nay trên thị trường có rất nhiều nhãn hiệu phân bón nên nông dân chúng tôi không thể phân biệt được thật, giả. Chờ đến khi bón cây thấy không phát triển thì lúc đó chỉ có ngậm đắng…!   Do các đại lý nhỏ lẻ mọc ra ngày một nhiều, tràn lan, len lỏi ở các địa bàn nông thôn của ĐBSCL nên việc quản lý, kiểm tra rất khó khăn. Tuy nhiên theo nhiều ý kiến của các nhà quản lý thì cần phải xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón này thật nặng. Nhưng để xử phạt được, ngoài Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phân bón, còn cần phải có văn bản hướng dẫn một cách cụ thể mới có thể thực hiện được.   Cần quản lý chặt thị trường, xử lý mạnh tay với phân bón giả, kém chất lượng   Mới đây trong buổi sơ kết sản xuất lúa Đông Xuân 2012 – 2013 và triển khai vụ Hè Thu và Thu Đông 2013 của khu vực ĐBSCL diễn ra tại Cần Thơ, ông Trần Quang Củi – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Kiên Giang đưa ra cảnh báo: Gần đây, bà con nông dân đang có xu hướng sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu nhiều hơn. Bên cạnh đó tình trạng chất lượng phân bón, thuốc trừ sâu kém chất lượng vẫn còn phức tạp. Do đó, đề nghị Bộ NN&PTNT cần tăng cường quản lý và xử lý nghiêm tình trạng làm giả, kém chất lượng…   Tiến sĩ Lê Văn Bảnh – Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho rằng: Cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra để làm rõ phân, thuốc nào là rởm, giả và kém chất lượng gây thiệt hại cho bà con khi sử dụng. Cần phải kiểm tra phân, thuốc, lấy mẫu, khi có kết quả xác định phân, thuốc kém chất lượng phải xử lý thật nặng, chứ đừng như trong thời gian qua, số tiền xử phạt lại chẳng thấm vào đâu so với lợi nhuận mà doanh nghiệp sản xuất phân bón giả thu được, cũng như chi phí phục vụ cho việc kiểm tra, giám định và tiêu hủy. Đơn cử như vừa qua trường hợp ngành chức năng của Cần Thơ phạt lô phân, thuốc khoảng 4 triệu đồng, nhưng kinh phí dự tính để tiêu hủy số phân thuốc kém chất lượng này lên đến 40 – 50 triệu đồng. Đại biểu HĐND TP Cần Thơ từng chất vấn người đứng đầu ngành công thương thành phố chung quanh việc xử lý phân bón, thuốc trừ sâu giả, kém chất lượng nhưng câu trả lời nhận được là rất khó khăn và chưa nhiều.   Cũng tại buổi sơ kết sản xuất lúa Đông Xuân 2012 – 2013, trước tình các địa phương phản ánh về tình hình phân bón, thuốc trừ sâu, BVTV giả, kém chất lượng, ông Vũ Văn Tám – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT khuyến cáo các địa phương: “Trong vụ Hè Thu và Thu Đông 2013, Sở NN&PTNT các tỉnh, thành vùng ĐBSCL cần phối hợp chặt với cơ quan chức năng quản lý tốt hơn chất lượng vật tư đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu để đảm bảo chất lượng, qua đó giúp bà con nông dân an tâm, hướng đến lợi nhuận cao trong sản xuất lúa. Về cơ cấu giống và các giải pháp kỹ thuật giao cho Cục Trồng trọt bám sát để chỉ đạo cho các địa phương, song song đó phải tập trung kiểm soát chất lượng vật tư đầu vào. Vấn đề chất lượng giống, phân bón, thuốc BVTV… đã có chỉ đạo nhưng bộ máy còn hạn chế, do đó các địa phương cần nỗ lực vượt khó để làm tốt, trong đó tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm…”.   Do lượng phân bón tiêu thụ nhiều tầng nấc từ công ty đến các đại lý trung gian lớn, nhỏ ở khắp các địa phương nên đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lý. Để kiểm tra chất lượng, giá cả, điều cốt lõi là cần có sự phối hợp chặt giữa các cấp, các ngành. Đại bộ phận người nông dân cho rằng Nhà nước cần phải siết chặt quản lý giá cả, chất lượng phân bón đặc biệt xử lý mạnh tay đối với các trường hợp làm giả, để người dân yên tâm sản xuất.   Quốc Trung 

Thị trường phân bón vụ HT ít biến động

 

Thời điểm hiện nay, nông dân trên địa bàn tỉnh Bình Định đang vào chính vụ sản xuất Hè Thu (HT) 2013.

So với mọi năm, giá các mặt hàng phân bón trên địa bàn tỉnh ít có sự biến động lớn, nguồn cung tương đối dồi dào, giá ổn định…Theo Sở NN-PTNT Bình Định, trong vụ HT năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch gieo sạ 35.200 ha lúa. Khác với mọi năm, trong vụ HT này, giá phân bón trên địa bàn toàn tỉnh khá ổn định, nguồn cung tương đối dồi dào làm cho nông dân yên tâm sản xuất.

Ông Trần Ngự Vũ, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Kim Vũ Bích, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, cho biết: Nguyên nhân làm giá phân bón đầu vụ sản xuất HT năm nay ổn định là do nguồn cung của các nhà máy phân bón trong nước tương đối dồi dào, nhu cầu tiêu thụ của nông dân đầu vụ chưa cao, trong khi giá phân bón trên thị trường thế giới ít có sự biến động lớn.

VR 360