Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Giá phân bón giảm mạnh

 

Do nhu cầu yếu, giá phân urê tại thị trường phía Nam hiện đã giảm 120.000 – 140.000 đồng/bao 50kg so với tháng 9/2011, Thanh Niên đưa tin.

Tại miền Bắc, tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu phân bón qua cửa khẩu Lào Cai diễn biến chậm, nhu cầu tiêu thụ hầu như không có. Lượng hàng nhập khẩu chủ yếu là các hợp đồng nhỏ lẻ mặt hàng Amonium Sulphate (SA). 

Giá các mặt hàng nhìn chung ở mức ổn định. Hoạt động tái xuất phân Diamino phosphate (DAP) nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn ra với mức giá 600-620 USD/tấn FOB. Hiện đang có nhiều thông tin giá DAP sẽ xuống khá mạnh, có thể mức giảm lên đến 100 USD/tấn nhưng vẫn không có người mua.

Tại thị trường phía Nam, nhu cầu tiêu thụ phân bón cũng rất chậm do đợt lũ lớn vừa rồi đã mang lại lượng phù sa dồi dào. Giá phân urê hiện đã giảm khoảng 120.000 – 140.000 đồng/bao 50 kg so với tháng 9/2011.

Theo ông Đỗ Văn Hùng, Tổng giám đốc Công ty phân bón Việt Mỹ, thị trường phân bón hiện nay ảm đạm chủ yếu do chịu ảnh hưởng từ giá thế giới khi giá thế giới đã giảm 50 – 70 USD/tấn và chưa có dấu hiệu phục hồi. Nhu cầu tiêu thụ phân bón trong nước cũng thấp do thời tiết. 

Giá phân bón giảm mạnh nên nhiều doanh nghiệp nhập khẩu phân bón đang chịu lỗ do đã nhập khẩu một lượng không nhỏ khi giá đang cao. Nhiều nhà nhập khẩu phải bán lỗ để thu hồi vốn. 

Nguồn Thanhnien

Doanh nghiệp phân bón gặp khó

 

Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, giá nhiều loại phân bón đã giảm bình quân 1.000 đồng/kg.

Cung dư, giá giảm

Ông Đỗ Văn Hùng – Tổng giám đốc Công ty phân bón Việt Mỹ, cho biết: “Lượng hàng giao dịch thấp do thời gian vừa qua thời tiết lạnh và đúng vào dịp tết nguyên đán nên nhu cầu tiêu thụ trên các thị trường giảm hẳn”.

Tại miền Bắc, tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu phân bón qua cửa khẩu Lào Cai diễn biến chậm, nhu cầu tiêu thụ hầu như không có. Lượng hàng nhập khẩu chủ yếu là các hợp đồng nhỏ lẻ mặt hàng Amonium Sulphate (SA). Giá các mặt hàng nhìn chung ở mức ổn định. Hoạt động tái xuất phân Diamino phosphate (DAP) nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn ra với mức giá 600-620 USD/tấn FOB. Hiện đang có nhiều thông tin giá DAP sẽ xuống khá mạnh, có thể mức giảm lên đến 100 USD/tấn nhưng thực tế hiện vẫn hầu như không có người mua. Tại thị trường phía Nam, nhu cầu tiêu thụ phân bón cũng rất chậm do đợt lũ lớn vừa rồi đã mang lại lượng phù sa dồi dào. Theo chủ một đại lý chuyên bán phân bón nhập khẩu ở An Giang, giá phân bón giảm liên tục khiến các nhà nhập khẩu khó tính toán việc lên kế hoạch nhập hàng. Giá phân urê hiện đã giảm khoảng 120.000 – 140.000 đồng/bao/50 kg so với tháng 9.2011.

 

Ấn Độ và bài toán cho xuất khẩu gạo Việt Nam

 

(TBKTSG Online) – Được đánh giá là “ứng cử viên sáng giá” cho vị trí nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới vài tháng trước, Việt Nam hiện được cho là khó có khả năng chen chân với Ấn Độ cho vị trí trên vì nước này đã vượt Thái Lan để trở thành nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

Theo số liệu được công bố tính từ tháng 10-2011 đến hết tháng 1-2012, Ấn Độ đã xuất khẩu 2,7 triệu tấn gạo trong khi Thái Lan và Việt Nam chỉ mới xuất khẩu lần lượt 2 triệu tấn và 1,5 triệu tấn gạo. Trong thời gian này, trung bình mỗi tháng Ấn Độ xuất khẩu từ 650.000 đến 700.000 tấn còn Việt Nam riêng tháng đầu năm 2012 chỉ xuất khẩu được 280.000 tấn.

Gạo cấp thấp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Ấn Độ trong thời gian qua. Ngoài ra, Ấn Độ còn có gạo thơm và hiện đang cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực xuất khẩu gạo đồ với Thái Lan.

Theo thông tin của Reuters, dự trữ gạo của Ấn Độ hiện cũng lên đến 31,8 triệu tấn, tương đương với sản lượng thương mại gạo toàn cầu. Cùng với việc chính phủ Thái Lan tuyên bố tiếp tục chính sách trợ giá mua lúa cho nông dân thêm 1 vụ nữa, khả năng Ấn Độ chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu gạo trong năm nay là có thể xảy ra.

Cùng thời điểm này năm 2011, xuất khẩu gạo của Việt Nam rất thuận lợi với lượng hợp đồng dồi dào ký với các nước nhập khẩu như Indonesia và Bangladesh, mặc dù Philippines – nước nhập khẩu gạo lớn nhất năm 2010 – thay đổi chính sách nhập khẩu. Lượng hợp đồng khi ấy đảm bảo cho giá gạo không xuống thấp, mặc dù nước ta chuẩn bị thu hoạch vụ Đông Xuân, vụ lớn nhất trong năm với lượng gạo hàng hóa ước tính khoảng 3 triệu tấn.

Thậm chí Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) trong quí 1-2011 đã kiên quyết giữ giá sàn ở mức cao đối với 2 phẩm cấp gạo xuất khẩu chủ lực là 520 đô la Mỹ/tấn gạo 5% tấm và 490 đô la Mỹ/tấn gạo 25% tấm mặc dù giá bán thực tế không đến mức ấy…

Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi 180 độ ngay đầu năm 2012 khi VFA một lần nữa dùng đến giá sàn, nhưng lần này là hạ giá sàn để thu hút người mua. Theo số liệu của VFA, lượng hợp đồng doanh nghiệp, chủ yếu là Tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) đã ký được chỉ mới có 1,2 triệu tấn để xuất khẩu cho 6 tháng đầu năm. Hiện nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng không đưa ra được giá gạo chào bán vì hầu như không có giao dịch.

Theo nhận định của một vị lãnh đạo VFA, khả năng doanh nghiệp ký được thêm hợp đồng trong 6 tháng đầu năm là rất thấp. Trong khi đó, mùa lũ kéo dài cuối năm 2011 đã bồi đắp lượng phù sa lớn cho vùng ĐBSCL cùng với giá lúa cao đã khiến nhiều nông dân phấn khởi trồng lúa, khiến sản lượng gạo hàng hóa cho vụ Đông Xuân năm nay có thể đạt 3,5 triệu tấn, theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong số đó, khoảng 50-60% là gạo từ giống lúa IR50404 phẩm cấp thấp. 

Việc VFA tuyên bố mua tạm trữ lúa gạo từ ngày 15-3 được xem là giải pháp tình thế để giữ giá lúa. Giải pháp căn cơ cho vấn đề hiện nay là đầu ra cho xuất khẩu, trong bối cảnh gạo cấp thấp của Việt Nam không thể cạnh tranh được với Ấn Độ đối với  Châu Phi, thị trường vốn nhập khoảng 20% sản lượng xuất khẩu năm 2011 của Việt Nam.

Theo lãnh đạo VFA, Việt Nam chỉ hy vọng xuất khẩu sẽ sôi động trở lại sau khi các thị trường nhập khẩu lớn tại Châu Á như Indonesia, Malaysia… mở cửa trở lại từ tháng 6-2012 trở đi. Trong bối cảnh này, một số chuyên gia cho rằng xuất khẩu gạo thơm có thể giúp tạo hướng đi khác cho xuất khẩu gạo Việt Nam nhưng theo đánh giá của VFA, xuất khẩu gạo thơm trong năm khó có thể có đột biến.

Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu gần 500.000 tấn gạo thơm đến các thị trường nhưng chủ yếu là Trung Quốc, trong khi sản lượng giao dịch toàn cầu của loại gạo này chỉ vào khoảng 2 triệu tấn. Điều này báo hiệu xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn ở phía trước.

Ngành nông nghiệp dự báo lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2012 sẽ đạt khoảng 6,5 đến 7 triệu tấn gạo trong năm 2012. Nếu điều này không trở thành hiện thực thì xuất khẩu gạo của Việt Nam khó theo kịp với xuất khẩu gạo của Ấn Độ vì vào cuối năm 2011, Cơ quan xếp hạng tín dụng CRISIL (Ấn Độ) dự báo sản lượng gạo xuất khẩu của nước này trong niên vụ 2011-2012 sẽ tăng lên mức 7 triệu tấn, so với mức 2,2 triệu tấn trong niên vụ 2010-2011.

Phương án phân phối hợp lý cho đạm Cà Mau

Trong những ngày đầu năm mới Nhâm Thìn, lô hàng thương phẩm đầu tiên của Nhà máy Ðạm Cà Mau đã xuất xưởng. Ðây là dự án sản xuất phân đạm thứ hai của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sau Nhà máy Ðạm Phú Mỹ thuộc Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo), một thành viên của PVN. Hai nhà máy này mỗi năm có khả năng cung cấp 1,6 triệu tấn phân u-rê, đáp ứng gần 80% nhu cầu thị trường trong nước.

Ðây là hai dự án thuộc nhóm dự án có tầm quan trọng quốc gia, vốn đầu tư lớn, nhằm sử dụng hiệu quả và nâng cao giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí quý báu của đất nước, đồng thời hiện thực hóa chính sách tam nông và chiến lược an ninh lương thực của Ðảng và Chính phủ, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Với hai nhà máy này và một loạt dự án khác, từ chỗ phải nhập khẩu toàn bộ phân u-rê, chúng ta đã có thể đáp ứng đủ nhu cầu phân đạm và tiến tới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. 

Ngay khi lô hàng thương phẩm đầu tiên xuất xưởng, PVN đã quyết định giao cho PVFCCo tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của Nhà máy Ðạm Cà Mau. Theo lãnh đạo PVN, vấn đề phân phối sản phẩm của Nhà máy Ðạm Cà Mau đã được tập đoàn sớm xem xét từ khi nhà máy còn đang trong quá trình thi công. Nhiều phương án được đưa ra cân nhắc. Cuối cùng, phương án được chọn lựa là trong thời gian đầu khi nhà máy đi vào hoạt động, toàn bộ sản phẩm sẽ được tiêu thụ thông qua hệ thống phân phối của PVFCCo. Trong thời gian đó, PVFCCo sẽ hỗ trợ Ðạm Cà Mau thiết lập hệ thống phân phối của mình, và sẽ dần chuyển giao việc phân phối về cho Ðạm Cà Mau.

Về mặt kinh tế, đây là một lựa chọn rất hợp lý. Trong kinh doanh, hệ thống phân phối đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, nếu không nói là quyết định. Hệ thống phân phối không thể được tạo dựng trong ngày một ngày hai. PVFCCo đã phải mất bảy năm với những khoản đầu tư khổng lồ mới tạo dựng xong hệ thống phân phối phủ khắp toàn quốc, bao gồm bốn công ty con là đầu mối tại các vùng miền, gần 100 đại lý cấp 1 và gần 3.000 cửa hàng bán lẻ. Bên cạnh đó là hệ thống kho trung chuyển tại các vùng miền với sức chứa hơn 200 nghìn tấn, đủ khả năng tồn trữ, cung ứng hàng một cách nhanh chóng, kịp thời nhất.

Phân bón là hàng hóa mang tính thời vụ rất cao, nếu không có hệ thống kho đầu mối tại các vùng nông nghiệp trọng điểm, kèm theo đó là hệ thống kho của các đại lý, cửa hàng bán lẻ luôn dự trữ hàng sẵn sàng, thì không thể đồng loạt cung ứng kịp thời cho nông dân trên cả nước khi mùa vụ tới. Không có trong tay một hệ thống như thế, Ðạm Cà Mau rất khó tiêu thụ hết khối lượng sản phẩm của mình và sẽ ảnh hưởng lớn đến công suất hoạt động của nhà máy, tới tỷ suất khấu hao, thời gian hoàn vốn. Theo tính toán và thực tiễn kinh doanh của PVFCCo, chi phí vận chuyển sản phẩm từ nhà máy tới tay nông dân (người tiêu thụ cuối cùng) sẽ đạt mức tối ưu khi vận chuyển các lô hàng lớn từ Nhà máy tới các kho đầu mối, từ đó phân phối về các đại lý cấp 1, và cuối cùng từ đại lý cấp 1 về các cửa hàng bán lẻ. Do vị trí địa lý của Nhà máy Ðạm Cà Mau, phương thức phân phối như thế này là hợp lý nhất.

Bên cạnh thị trường trong nước, PVFCCo đã sớm triển khai chiến lược mở rộng ra nước ngoài nhằm sẵn sàng cho việc thị trường phân đạm trong nước chuyển đổi từ trạng thái cung không đủ cầu sang cung vượt cầu, sau khi một loạt dự án xây mới, mở rộng các nhà máy phân đạm đi vào hoạt động từ năm 2012. Việc thống nhất đầu mối phân phối sản phẩm Ðạm Phú Mỹ và Ðạm Cà Mau tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương đó.  Quyết định của PVN giao cho PVFCCo phân phối sản phẩm Ðạm Cà Mau đã được Bộ Công thương và Bộ Tài chính xem xét mọi khía cạnh, từ khả năng ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh, tới việc quản lý giá đầu vào, đầu ra sao cho bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nông dân và doanh nghiệp.

PVN là tập đoàn kinh tế nhà nước, một trong các đơn vị chủ lực của nền kinh tế quốc dân, mọi hoạt động của tập đoàn và các công ty thành viên không nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, mà nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – chính trị – xã hội do Ðảng và Chính phủ giao phó. Việc PVN và các đơn vị thành viên đáp ứng gần 80% nhu cầu trong nước về phân u-rê, với hệ thống phân phối rộng khắp, chính sách giá cả vừa linh hoạt vừa thống nhất sẽ góp phần quyết định trong việc ổn định thị trường phân bón trong nước, mang lại lợi ích cho cả nông dân và doanh nghiệp.

THANH HÀ

Phương án phân phối hợp lý cho đạm Cà Mau

Trong những ngày đầu năm mới Nhâm Thìn, lô hàng thương phẩm đầu tiên của Nhà máy Ðạm Cà Mau đã xuất xưởng. Ðây là dự án sản xuất phân đạm thứ hai của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sau Nhà máy Ðạm Phú Mỹ thuộc Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo), một thành viên của PVN. Hai nhà máy này mỗi năm có khả năng cung cấp 1,6 triệu tấn phân u-rê, đáp ứng gần 80% nhu cầu thị trường trong nước.

Ðây là hai dự án thuộc nhóm dự án có tầm quan trọng quốc gia, vốn đầu tư lớn, nhằm sử dụng hiệu quả và nâng cao giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí quý báu của đất nước, đồng thời hiện thực hóa chính sách tam nông và chiến lược an ninh lương thực của Ðảng và Chính phủ, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Với hai nhà máy này và một loạt dự án khác, từ chỗ phải nhập khẩu toàn bộ phân u-rê, chúng ta đã có thể đáp ứng đủ nhu cầu phân đạm và tiến tới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. 

Ngay khi lô hàng thương phẩm đầu tiên xuất xưởng, PVN đã quyết định giao cho PVFCCo tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của Nhà máy Ðạm Cà Mau. Theo lãnh đạo PVN, vấn đề phân phối sản phẩm của Nhà máy Ðạm Cà Mau đã được tập đoàn sớm xem xét từ khi nhà máy còn đang trong quá trình thi công. Nhiều phương án được đưa ra cân nhắc. Cuối cùng, phương án được chọn lựa là trong thời gian đầu khi nhà máy đi vào hoạt động, toàn bộ sản phẩm sẽ được tiêu thụ thông qua hệ thống phân phối của PVFCCo. Trong thời gian đó, PVFCCo sẽ hỗ trợ Ðạm Cà Mau thiết lập hệ thống phân phối của mình, và sẽ dần chuyển giao việc phân phối về cho Ðạm Cà Mau.

Về mặt kinh tế, đây là một lựa chọn rất hợp lý. Trong kinh doanh, hệ thống phân phối đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, nếu không nói là quyết định. Hệ thống phân phối không thể được tạo dựng trong ngày một ngày hai. PVFCCo đã phải mất bảy năm với những khoản đầu tư khổng lồ mới tạo dựng xong hệ thống phân phối phủ khắp toàn quốc, bao gồm bốn công ty con là đầu mối tại các vùng miền, gần 100 đại lý cấp 1 và gần 3.000 cửa hàng bán lẻ. Bên cạnh đó là hệ thống kho trung chuyển tại các vùng miền với sức chứa hơn 200 nghìn tấn, đủ khả năng tồn trữ, cung ứng hàng một cách nhanh chóng, kịp thời nhất.

Phân bón là hàng hóa mang tính thời vụ rất cao, nếu không có hệ thống kho đầu mối tại các vùng nông nghiệp trọng điểm, kèm theo đó là hệ thống kho của các đại lý, cửa hàng bán lẻ luôn dự trữ hàng sẵn sàng, thì không thể đồng loạt cung ứng kịp thời cho nông dân trên cả nước khi mùa vụ tới. Không có trong tay một hệ thống như thế, Ðạm Cà Mau rất khó tiêu thụ hết khối lượng sản phẩm của mình và sẽ ảnh hưởng lớn đến công suất hoạt động của nhà máy, tới tỷ suất khấu hao, thời gian hoàn vốn. Theo tính toán và thực tiễn kinh doanh của PVFCCo, chi phí vận chuyển sản phẩm từ nhà máy tới tay nông dân (người tiêu thụ cuối cùng) sẽ đạt mức tối ưu khi vận chuyển các lô hàng lớn từ Nhà máy tới các kho đầu mối, từ đó phân phối về các đại lý cấp 1, và cuối cùng từ đại lý cấp 1 về các cửa hàng bán lẻ. Do vị trí địa lý của Nhà máy Ðạm Cà Mau, phương thức phân phối như thế này là hợp lý nhất.

Bên cạnh thị trường trong nước, PVFCCo đã sớm triển khai chiến lược mở rộng ra nước ngoài nhằm sẵn sàng cho việc thị trường phân đạm trong nước chuyển đổi từ trạng thái cung không đủ cầu sang cung vượt cầu, sau khi một loạt dự án xây mới, mở rộng các nhà máy phân đạm đi vào hoạt động từ năm 2012. Việc thống nhất đầu mối phân phối sản phẩm Ðạm Phú Mỹ và Ðạm Cà Mau tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương đó.  Quyết định của PVN giao cho PVFCCo phân phối sản phẩm Ðạm Cà Mau đã được Bộ Công thương và Bộ Tài chính xem xét mọi khía cạnh, từ khả năng ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh, tới việc quản lý giá đầu vào, đầu ra sao cho bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nông dân và doanh nghiệp.

PVN là tập đoàn kinh tế nhà nước, một trong các đơn vị chủ lực của nền kinh tế quốc dân, mọi hoạt động của tập đoàn và các công ty thành viên không nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, mà nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – chính trị – xã hội do Ðảng và Chính phủ giao phó. Việc PVN và các đơn vị thành viên đáp ứng gần 80% nhu cầu trong nước về phân u-rê, với hệ thống phân phối rộng khắp, chính sách giá cả vừa linh hoạt vừa thống nhất sẽ góp phần quyết định trong việc ổn định thị trường phân bón trong nước, mang lại lợi ích cho cả nông dân và doanh nghiệp.

THANH HÀ

Điểm danh những “đại gia” tiền mặt ở Việt Nam

 

Trong bối cảnh nhiều DN quay quắt vì thiếu tiền và “hấp hối” vì dựa vào tín dụng thì khối lượng tiền mặt nắm giữ của các “ông lớn” sau đây đáng để bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải mơ ước.
 

 Bích Diệp
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các DN)

Điểm danh những “đại gia” tiền mặt ở Việt Nam

 

Trong bối cảnh nhiều DN quay quắt vì thiếu tiền và “hấp hối” vì dựa vào tín dụng thì khối lượng tiền mặt nắm giữ của các “ông lớn” sau đây đáng để bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải mơ ước.
 

 Bích Diệp
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các DN)

Nhà máy Đạm Cà Mau: 4.000 tấn sản phẩm trong 3 ngày

Sau hơn 3 ngày Nhà máy Đạm Cà Mau cho ra những dòng sản phẩm thương mại đầu tiên, tính đến 18h ngày 1/2/2012, nhà máy đã sản xuất đạt gần 4.000 tấn sản phẩm.

Hiện nay, sản phẩm tiếp tục được kiểm tra, hiệu chỉnh để cho ra sản phẩm urê đạt chất lượng tốt nhất. Theo kế hoạch trong năm 2012, Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ sản xuất khoảng 610.000 tấn urê đáp ứng đủ phân bón cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dự kiến, năm 2013, nhà máy sẽ sản xuất 800.000 tấn urê hạt đục, đạt 100% công suất thiết kế.

Nhà máy Đạm Cà Mau: 4.000 tấn sản phẩm trong 3 ngày

Sau hơn 3 ngày Nhà máy Đạm Cà Mau cho ra những dòng sản phẩm thương mại đầu tiên, tính đến 18h ngày 1/2/2012, nhà máy đã sản xuất đạt gần 4.000 tấn sản phẩm.

Hiện nay, sản phẩm tiếp tục được kiểm tra, hiệu chỉnh để cho ra sản phẩm urê đạt chất lượng tốt nhất. Theo kế hoạch trong năm 2012, Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ sản xuất khoảng 610.000 tấn urê đáp ứng đủ phân bón cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dự kiến, năm 2013, nhà máy sẽ sản xuất 800.000 tấn urê hạt đục, đạt 100% công suất thiết kế.

DPM được lựa chọn vào danh sách tính chỉ số VN-30 và mã cổ phiếu tiêu biểu của Aseanexchanges.org

Chiều ngày 3/2/2012, Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (HOSE) đã tổ chức lễ công bố chỉ số VN-30 của HOSE, trong đó DPM là một trong những mã cổ phiếu được lựa chọn vào danh sách tính chỉ số VN-30. HOSE cho biết sẽ áp dụng chỉ số mới VN-30 vào đầu tuần sau bên cạnh chỉ số VN-index.

Tại buổi lễ, bà Nguyễn Thị Hiền – Phó Chủ tịch HĐQT PVFCCo – đã đại diện nhận kỷ niệm chương DPM được lựa chọn vào chỉ số VN-30 kỳ đầu tiên. Đây là danh sách 30 cổ phiếu đại diện cho 9 ngành tiêu biểu, chiếm 80% giá trị vốn hóa thị trường, có tính đại diện cho cả thị trường, được lựa chọn theo các tiêu chí vốn hóa, lượng cổ phiếu lưu hành tự do và thanh khoản. DPM cũng được lựa chọn là 1 trong 15 mã cổ phiếu tiêu biểu của sàn Hose được đăng tải trên website Aseanexchanges.org (http://aseanexchanges.org/Aseanstars.aspx), được lựa chọn dựa trên tiêu chí vốn hóa và tính thanh khoản trên thị trường.

VR 360