Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Trailer Ký sự “Hành trình Người đi tìm lửa”

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam (27/11/1961 – 27/11/2021), loạt phim ký sự “Hành trình Người đi tìm lửa” do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Hành Nam phối hợp Trung tâm phim tài liệu – Đài truyền hình Việt Nam thực hiện.

Ký sự “Hành trình Người đi tìm lửa” sẽ cho khán giả thấy được quá trình đầy gian khó của các thế hệ người lao động Dầu khí đi tìm nguồn “vàng đen” làm giàu cho đất nước.

Từ dấu chân phía trước; đến những năm tháng vất vả nơi những khoan trường đầu tiên.

Từ ngọn lửa của niềm tin tháng 5 năm 1984; đến giây phút vỡ òa khi nhận được câu trả lời từ thềm lục địa, khi Việt Nam chính thức có tên trong danh sách các nước xuất khẩu dầu thô trên thế giới.

Không chỉ là một tập thể – đó còn là chân dung 6 vạn người lao động hôm nay; đó là khi dòng khí đầu tiên vào bờ và một nền công nghiệp lọc – hóa dầu hình thành, kiện toàn chuỗi giá trị ngành, giúp mỗi vùng đất chuyển mình, thay da đổi thịt; là khi người Việt Nam thực hiện giấc mơ cơ khí chế tạo và làm chủ những giàn khoan tiên đầu tiên của người Việt Nam; đến những công trình xứng danh kỳ tích nơi những vùng nước sâu, xa bờ; là khi sắc áo người lao động dầu khí Việt Nam có mặt trên khắp địa cầu; khi ngành Dầu khí không chỉ đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng mà còn góp phần vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo, gìn giữ dáng hình Tổ quốc trên biển Đông.

Tất cả được thể hiện trong 20 tập phim sẽ lần lượt được công chiếu vào lúc 7h45 các ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần, bắt đầu từ ngày 01/11/2021 trên kênh VTV1 – Đài truyền hình Việt Nam, phát lại vào khung giờ buổi tối và trên các nền tảng mạng xã hội.

 

Giá urê, ammonia thế giới lại tăng cao kỷ lục

Congthuong.vn | 27/10/2021

Theo bản tin Argus, Công ty Yara đã tăng giá bán ammonia tại Floria – Mỹ lên 825$/tấn CFR cho lượng hàng giao tháng 11/2021. Như vậy, so với giá cũ thì mức tăng này lên tới 160$/tấn – một kỷ lục tăng giá trong thời gian ngắn. Việc tăng giá ammonia do nguồn cung sụt giảm tại châu Âu trong khi nhu cầu khu vực Bắc Mỹ vẫn còn cao. Có nguồn tin cho biết Công ty CF của Mỹ đã chào giá ammonia giao tại khu vực bắc Dakota và Iowa lên đến 1.200 $/tấn.

Đối với urê, sau 1 tuần giao dịch chậm thì tuần này giá urê lại tăng lên kỷ lục mới. Tại Ethiopia, Tông công ty nông nghiệp EABC đã phải trì hoãn gói thầu mua 800 ngàn tấn urê và 1.2 triệu tấn NPS cho mùa vụ 2022 vì lý do giá đã tăng quá nhanh và mạnh. Còn tại Nepal, nhà cung cấp Swiss Singapore đã trúng gói thầu 25.000 tấn urê của Công ty KSCL với mức giá lên đến 949$/tấn CIP. Như vậy, giá thành urê nhập khẩu tại Nepal tương đương 22.000 VND/kg.

Ảnh minh họa

Tại khu vực Đông Nam Á, các quốc gia nhập khẩu 100% phân urê như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề của cơn sốt giá phân bón toàn cầu.

Trong cơn sốt toàn cầu, nhìn lại thị trường và giá phân bón tại Việt Nam, mặt bằng giá trong nước đang có phần thấp hơn so với giá thế giới, cụ thể, giá bán lẻ urê tại khu vực Nam Bộ khoảng 16.000 – 17.000 đ/kg. Có thể nói, do hoàn toàn chủ động được nguồn cung urê từ 4 nhà máy sản xuất nội địa, thậm chí có phần dư để xuất khẩu, nên Việt Nam đã phần nào giảm thiểu được tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng phân bón đến sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp cũng đang tích cực triển khai hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả nhằm giảm chi phí vật tư đầu vào trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

pv

Giải bài toán sản lượng khai thác dầu khí

pvn.vn | 27/10/2021

Từ năm 2015 đến nay, sản lượng khai thác thực tế cũng như kế hoạch khai thác dầu khí trong nước liên tục sụt giảm, năm sau thấp hơn năm trước. Vậy nguyên nhân do đâu? Và làm thế nào để giải bài toán sản lượng khai thác sụt giảm từng năm?

Thực trạng tìm kiếm – thăm dò – khai thác

Hiện nay, phần lớn các mỏ dầu khí đang khai thác ở nước ta đều được đưa vào khai thác trong giai đoạn từ 1986 – 2015. Trong đó, các mỏ có đóng góp sản lượng lớn đều đã khai thác được 15 – 35 năm, đang ở giai đoạn khai thác cuối đời mỏ, độ ngập nước cao và tiếp tục tăng liên tục theo thời gian. Độ ngập nước trung bình của các mỏ này hiện đã ở mức 50% – 90% dẫn đến sản lượng suy giảm tự nhiên khoảng 15% – 25%/năm. Đây cũng là thực tế chung ở giai đoạn cuối đời của các mỏ trên thế giới.  

 Các công trình dầu khí trên biển – Ảnh Vương Thái

Trong khi đó, trong những năm gần đây do nhiều hạn chế về mặt cơ chế, chính sách liên quan, cũng như điều kiện ngành Dầu khí trong tình hình mới có nhiều thay đổi, khiến hoạt động tìm kiếm thăm dò (TKTD), gia tăng trữ lượng giảm đi rất nhiều so với giai đoạn trước, nguồn bổ sung vào khai thác hằng năm cũng hạn chế, dẫn đến đà suy giảm sản lượng là tất yếu. Theo thống kê từ năm 2015 đến nay, sản lượng dầu trong nước liên tục sụt giảm, từ mức 16,9 triệu tấn năm 2015; xuống 15,2 triệu tấn năm 2016; 13,4 triệu tấn năm 2017; 12 triệu tấn năm 2018; 11 triệu tấn năm 2019; 9,7 triệu tấn năm 2020 và dự báo tiếp tục giảm trong các năm tiếp theo. 

Các công trình dầu khí trên biển – Ảnh Vương Thái

Để hạn chế mức độ suy giảm sản lượng tự nhiên từ các giếng hiện hữu. Hàng năm các nhà thầu dầu khí và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đều nỗ lực tìm kiếm giải pháp khoan bổ sung các giếng khoan đan dày. Tuy nhiên, số lượng giếng khoan đan dày là rất hạn chế và sản lượng thường không cao do vị trí để khoan đan dày không nhiều, các vị trí có tiềm năng cho sản lượng cao đã được khoan và khai thác ngay từ giai đoạn đầu của mỏ. Vì vậy, sản lượng của các giếng khoan đan dày thường chỉ đóng góp ở mức dưới 10% sản lượng chung của cả mỏ. Ngoài ra, các giải pháp khác để hạn chế đà suy giảm sản lượng như sửa chữa, can thiệp giếng, nâng cao và tối ưu hệ số sử dụng thiết bị cũng đều được triển khai tích cực. Tuy nhiên, các giải pháp này cũng chỉ đóng góp nhỏ 1% – 2% sản lượng của toàn mỏ. Điều đó cho thấy, dù cố gắng, hàng năm sản lượng của các mỏ hiện hữu vẫn suy giảm từ 10% – 15%. Mặc dù vậy, mức độ hạn chế suy giảm sản lượng ở Việt Nam vẫn đạt mức tối ưu hơn so với mức trung bình của thế giới.  

Người lao động Dầu khí làm việc trên công trình biển

Trước đà suy giảm sản lượng của các mỏ hiện hữu và công tác phát triển các mỏ mới gặp nhiều hạn chế, việc duy trì và hoàn thành kế hoạch sản lượng khai thác là thách thức rất lớn. Trong nhiều năm qua, Tập đoàn tập trung đầu tư nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh hoạt động sáng kiến, sáng chế, với nhiều giải pháp kỹ thuật – công nghệ tiên tiến, sử dụng thiết bị công nghệ hiện đại vào sản xuất, áp dụng nhiều giải pháp nâng cao thu hồi dầu. Như tại Vietsovpetro, bằng biện pháp bơm ép nước để bảo tồn áp suất vỉa, đơn vị đã tăng hệ số thu hồi dầu khí từ 18% lên trên 40% đối với thân dầu trong đá móng, đây là hệ số thu hồi cao nhất trên thế giới. Bằng trí tuệ, với quyết tâm, nỗ lực và sự sáng tạo, chuyên nghiệp của tập thể cán bộ kỹ sư, người lao động Dầu khí, hằng năm, Tập đoàn vẫn hoàn thành kế hoạch khai thác dầu khí được Chính phủ giao.

 Người lao động Vietsovpetro làm việc trên giàn

Kế hoạch sản lượng khai thác dầu hàng năm được xây dựng dựa trên những yếu tố cơ bản: Sản lượng từ các mỏ, giếng hiện hữu; Sản lượng từ các công trình mới, giếng mới theo kế hoạch; Sản lượng từ công tác sửa chữa và can thiệp giếng. Tương tự, kế hoạch sản lượng khai thác khí hằng năm sẽ dựa trên khả năng khai thác của mỏ; đồng thời phụ thuộc vào Hợp đồng mua bán khí giữa chủ mỏ và các hộ tiêu thụ, cũng như thực tế tiêu thụ khí.

Ngoài sản lượng khai thác dầu suy giảm do gặp những khó khăn nêu trên, kế hoạch khai thác khí của Petrovietnam dự kiến cũng sẽ giảm trong năm tới, do tình hình tiêu thụ khí hết sức khó khăn, đặc biệt là tiêu thụ khí cho điện giảm sút mạnh, trong khi điện là nguồn chính tiêu thụ khí, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tiêu thụ khí. Trong 9 tháng đầu năm 2021, huy động khí cho điện giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, bằng khoảng 72% so với cùng kỳ và bằng 70% kế hoạch của Petrovietnam. So với kế hoạch của Bộ Công Thương giao, huy động khí Đông Nam bộ chỉ đạt khoảng 84%, Tây Nam bộ khoảng 70%. Việc giảm huy động khí cho phát điện, còn ảnh hưởng đến sản lượng khai thác dầu, khi khí đồng hành tại các mỏ khai thác dầu không được huy động, ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch khai thác chung của cả mỏ.

Do kế hoạch sản lượng khai thác dầu khí hàng năm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và dòng tiền của dự án cũng như từng nhà thầu tham gia. Vì vậy, kế hoạch sản lượng khai thác của từng Lô hợp đồng Dầu khí luôn được xem xét kỹ lưỡng, thận trọng từ cấp chuyên gia tới cấp quản lý của Người điều hành, cấp quản lý của các bên tham gia và cuối cùng là của Tập đoàn. 

Với nhiều nguyên nhân, sản lượng khai thác thực tế cũng như kế hoạch khai thác dầu khí trong nước liên tục sụt giảm là tất yếu. Mặc dù kế hoạch sản lượng hàng năm được xây dựng chi tiết và thận trọng. Thêm vào đó, hoạt động dầu khí nói chung và đặc biệt hoạt động dầu khí ngoài biển có nhiều rủi ro bao gồm rủi ro về địa chất, rủi ro về điều kiện thời tiết … dẫn đến sản lượng khai thác thực tế có những thay đổi so với kế hoạch. Thực tế, cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí cũng cho phép thay đổi giữa kế hoạch được phê duyệt và sản lượng thực tế ở mức 10%. Ngoài ra, để phục vụ mục đích lập dự toán NSNN cho năm sau, việc lập kế hoạch khai thác thường được thực hiện sớm vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7 năm trước, khi chương trình công tác của từng Lô hợp đồng chưa được các bên tham gia thống nhất dẫn đến độ chính xác sẽ không cao bằng dự báo vào tháng 12 hàng năm, khi chương trình công tác của từng Lô hợp đồng đã rõ ràng.

Giải pháp để duy trì và gia tăng sản lượng khai thác

Để hoàn thành các chỉ tiêu thăm dò khai thác dầu khí giai đoạn 2020-2025, các giải pháp về kỹ thuật – công nghệ, tài chính – đầu tư, cơ chế – chính sách, tổ chức và đào tạo đã và đang được Petrovietnam triển khai một cách hợp lý, đồng bộ. Tuy nhiên, với tình trạng các mỏ đang khai thác trên đà suy giảm, để có thể duy trì và nâng cao sản lượng dầu khí, giải pháp duy nhất vẫn là phải phát triển và đưa được các mỏ mới vào khai thác. Để thực hiện được điều này, đảm bảo tính bền vững lâu dài cần khuyến khích đầu tư hơn nữa vào công tác tìm kiếm – thăm dò – khai thác, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác TKTD để tạo nguồn trữ lượng mới, giúp công tác phát triển khai thác được liên tục và ổn định. 

Do công tác TKTD có nhiều rủi ro, tỷ lệ thành công của các giếng khoan thăm dò chỉ ở mức 20%. Nếu quy trình thủ tục phê duyệt dự án TKTD thực hiện như các dự án đầu tư phát triển khác, như hiện nay, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước như Petrovietnam và PVEP gần như không thể triển khai các dự án TKTD. Vì vậy, cần có cơ chế để căn cứ vào đó xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm, phù hợp với nhu cầu thực tế mà Petrovietnam có thể phê duyệt các dự án TKTD và không phụ thuộc vào mức vốn đầu tư vào dự án.

Ông Vũ Quang Nam, nguyên Phó Tổng giám đốc Petrovietnam, Phó Chủ nhiệm CLB Doanh nghiệp Dầu khí cho biết: Nếu ngành Dầu khí không có vốn thì không làm được gì cả, vì cần vốn rất lớn. Như tìm kiếm thăm dò một giếng thông thường mất khoảng 10 – 15 triệu USD. Ngoài ra, ngành Dầu khí khác với các ngành khác bởi có rủi ro trong tìm kiếm thăm dò. Thế giới có thống kê nếu khoan từ 6 – 10 giếng mà thành công được 1 giếng thì đã là thắng lợi rồi. Do đó, phải hiểu những rủi ro trong ngành này, phải chấp nhận có thể mất ở chỗ này, nhưng được ở chỗ khác. Nhưng tóm lại là phải có vốn đầu tư và có cơ chế để Dầu khí có thể hoạt động được. Như vấn đề về ngân sách để lại đầu tư cho dầu khí. Trước đây khi khai thác dầu khí xong, sẽ trích thẳng một tỷ lệ phần trăm nhất định 10 – 15% để lại cho dầu khí đầu tư TKTD, sau đó sẽ hạch toán sau. Còn hiện nay, tất cả sẽ nộp vào ngân sách Nhà nước sau đó ngân sách mới trích lại để đầu tư cho ngành Dầu khí. “Miếng bánh” ngân sách đặt trước bài toán cân đối sẽ rất khó khăn với dầu khí trong việc bố trí vốn để tái đầu tư. Thực tế, nguồn vốn để thực hiện công tác TKTD dò gặp khó khăn, và suy giảm nghiêm trọng trong những năm qua, giai đoạn 2016 – 2020 chỉ đạt khoảng 28 – 30% so với giai đoạn 2011 – 2015. Từ đó có thể khẳng định, cơ chế – chính sách đối với hoạt động TKTD đã có một bước lùi nhất định.

Theo Hội Dầu khí Việt Nam, do thiếu vốn thăm dò nên xảy ra sự mất cân đối trầm trọng giữa gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác, xảy ra hiện tượng “tiêu lạm vào dự trữ”. Nhiều mỏ dầu truyền thống chủ lực đóng góp sản lượng quan trọng cho Petrovietnam, sau 20-30 năm khai thác như Bạch Hổ, Sư Tử, Rạng Đông, Lan Tây cung cấp trên 500 triệu tấn dầu quy đổi đã qua giai đoạn khai thác đỉnh, sản lượng khai thác hiện nay đang suy giảm, đòi hỏi phải đầu tư thêm các giải pháp công nghệ tận thu hồi dầu, khoan bổ sung để tận khai thác, trong khi các mỏ mới được đưa vào khai thác chậm do thiếu vốn và các thủ tục đầu tư. Hiện Luật Dầu khí và các điều khoản trong Hợp đồng (mẫu) phân chia sản phẩm không còn phù hợp và không khuyến khích đầu tư vào các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và các mỏ đang ở thời kỳ khai thác tận thu. Các hoạt động tìm kiếm – thăm dò – khai thác dầu khí ngày càng bị thu hẹp, sản lượng suy giảm nhanh, giá thành tấn dầu thăm dò và khai thác cao, an ninh Biển Đông diển biến phức tạp, có nguy cơ làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, cần có những điều khoản phù hợp, đủ hấp dẫn các nhà đầu tư trong bối cảnh hiện nay.

Bên cạnh các giải pháp để đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng, trong ngắn hạn và trung hạn cần thúc đẩy giải quyết những vấn đề hiện hữu khác như: Xử lý các khó khăn vướng mắc liên quan đến 2 dự án trọng điểm về dầu khí là Dự án khí Lô B và Dự án khí Cá Voi Xanh để có thể đưa hai mỏ này vào khai thác theo kế hoạch; Sớm phê duyệt cơ chế hoạt động cho Lô dầu khí 01/97&02/97 và điều kiện hợp đồng cho Lô dầu khí 01/17&02/17 để có thể tiếp tục đầu tư gia tăng sản lượng từ các Lô này; cần thay đổi các điều kiện phân chia giữa Nhà nước và Nhà thầu để đưa vào phát triển các phát hiện có hiệu quả kinh tế cận biên; Phân cấp cho Petrovietnam phê duyệt một số những thay đổi kỹ thuật so với kế hoạch phát triển mỏ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (khoan đan dày, khoan cắt thân, mở vỉa bổ sung …);

Ngoài ra, trong tình hình huy động khí cho điện giảm sút mạnh hiện nay ảnh hưởng đến việc phát triển các mỏ khí cũng như các dự án nhập khẩu khí, phát triển điện khí theo chiến lược năng lượng quốc gia, EVN cần cam kết bao tiêu khí dài hạn để có thể phát triển các mỏ khí mới; Ưu tiên huy động điện từ khí để gia tăng khai thác và gia tăng sản lượng condensate đi kèm.

Tất nhiên, nguồn thu của Petrovietnam không hoàn toàn phục thuộc vào dầu thô mà còn có nhiều lĩnh vực khác. 60 năm xây dựng, trưởng thành, Petrovietnam đã phát triển đồng bộ các khâu, xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm – thăm dò – khai thác dầu khí đến phát triển công nghiệp khí – điện – chế biến và dịch vụ dầu khí. Bên cạnh khai thác Dầu khí, các mảng khác cũng phát triển lớn mạnh, khẳng định vai trò, vị thế trên thị trường trong nước cũng như quốc tế, đóng góp ngày càng quan trọng trong cơ cấu nguồn thu của Tập đoàn. Tuy nhiên, lĩnh vực thượng nguồn là thăm dò, khai thác (TDKT) luôn xem là lĩnh vực cốt lõi, được Petrovietnam ưu tiên hàng đầu để đảm bảo sự phát triển bền vững chuỗi giá trị, hỗ trợ cho các lĩnh vực hoạt động khác của Tập đoàn.

Tại Hội nghị thăm dò khai thác Petrovietnam năm 2021, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, TDKT luôn được chú trọng và ưu tiên hàng đầu tại Petrovietnam. Tập đoàn luôn sẵn sàng về nguồn lực và tiềm lực để thực hiện các kế hoạch TDKT mang tính đột phá và quyết liệt. Tuy nhiên, sự phát triển của tìm kiếm thăm dò dầu khí hiện đang đối mặt với rất nhiều khó khăn chủ quan và khách quan. Bên cạnh những khó khăn về điều kiện kỹ thuật, địa chất, tình hình triển khai thực địa, khó khăn trong cơ chế chính sách pháp luật về dầu khí đang ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động TDKT. Tiềm năng trữ lượng dầu khí Việt Nam còn rất lớn, để nguồn tài nguyên này có thể góp phần vào phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, công tác tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác cần được triển khai thuận lợi, thông suốt để làm động lực cho các nhà đầu tư, tăng cường các hoạt động TDKT dầu khí, qua đó tạo ra các nguồn thu mới cho đất nước.

Cảnh báo về cuộc chiến phân bón thế giới

diendandoanhnghiep.vn| Ngày 07/10/2021

Thiếu nguyên liệu đầu vào, đứt gãy chuỗi logistic, nguồn cung khan hiếm, tăng giá kỷ lục với phân urê và các loại phân bón khác, được các chuyên gia lo ngại cảnh báo là “chiến tranh phân bón thế giới”

Theo các bản tin của Argus và Fertecon (các Công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế), thị trường NPK đang dồn sự chú ý vào châu Âu khi mà hàng loạt Nhà máy tại lục địa này tuyên bố tạm dừng sản xuất do các nguyên liệu chính là ammonia, phosphate, khí đốt khan hiếm và tăng giá cao.

Khu vực châu Âu chiếm phần lớn sản lượng sản xuất, xuất khẩu NPK của thế giới, nên việc dừng sản xuất này đã lập tức làm nguồn cung giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó, nhu cầu đang tăng lên ở khu vực châu Phi, Đông Nam Á, Ấn Độ và nhiều nơi khác trên thế giới do bước vào vụ sản xuất mới khiến giá mặt hàng này dự đoán còn tiếp tục tăng cao.

Theo các bản tin của Argus và Fertecon (các Công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế), thị trường NPK đang dồn sự chú ý vào châu Âu khi mà hàng loạt Nhà máy tại lục địa này tuyên bố tạm dừng sản xuất do các nguyên liệu chính là ammonia, phosphate, khí đốt khan hiếm và tăng giá cao.

Tại châu Á, việc Trung Quốc dự kiến dừng xuất khẩu NP/NPK cho đến giữa năm 2022 đã dấy lên làn sóng lo ngại thiếu hụt NPK, nhất là tại các quốc gia Đông Nam Á. Trong sản lượng xuất khẩu 1.1 triệu tấn NPK hàng năm của Trung Quốc thì Thái Lan và Philipines là 2 nước nhập khẩu nhiều nhất, chiếm gần 70%. Sau động thái dừng xuất khẩu của Trung Quốc, giá NPK 15-15-15/16-16-16 sản xuất tại Nga chào bán về Đông Nam Á đã tăng thêm 40$/tấn, đạt mức giá 600$/tấn CFR. Các nhà quan sát cho rằng mức nâng giá này chủ yếu thăm do thị trường và đánh giá phản ứng của người mua để chuẩn bị cho một mức tăng tiếp theo.

Nguồn cung giảm trong khi cầu tăng nên mặc dù giá tăng, các nước sản xuất nông nghiệp lớn buộc phải tích trữ NPK. Tại Thái Lan, trong tháng 8, nước này đã nhập khẩu 161.600 tấn NPK – tăng 44% so với cùng kỳ năm ngoái; còn trong tháng 9, Brasil đã nhập khẩu lượng NP/NPK lên tới hơn 348.000 tấn, tăng 125% so với cùng kỳ năm 2020 về lượng và về giá tăng hơn 125USD so với giá tháng 4/2021.

Kali cũng là mặt hàng tăng giá mạnh tại tất cả các khu vực do nguồn cung thắt chặt. Giá MOP tăng mạnh nhất tại Đông Nam Á khi đã tăng 50 USD/tấn so với tuần trước lên mức 550-570 USD/tấn CFR – tăng gần gấp đôi chỉ trong vòng 4 tháng khi mà hồi tháng 5 giá mặt hàng này là 285 USD/tấn CFR. Tại Hoa Kỳ giá tăng 28 USD/tấn so với tuần trước lên mức 602-620 USD/tấn FOB Nola, tại châu Âu giá MOP miểng đã tăng từ mức 460-480 Euro/tấn CFR lên mức 460-500 Euro/tấn CFR.

Brazil là nước mua nhiều kali miểng nhất, với giá cao nhất thế giới hiện nay, xung quanh mức 750-760$/tấn CFR và dự báo sẽ đạt 800$/tấn vào cuối tháng 10/2021. Việc không chắn chắn về các lệnh trừng phạt với Belarus, nguồn cung khí đốt eo hẹp tiếp tục chi phối các giao dịch và giá trên thị trường. Giá Kali được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong quý 4/2021 trong bối cảnh nhu cầu tăng mạnh tại tất cả các thị trường do chuẩn bị bước vào vụ chính.

Giá DAP thế giới cũng liên tục tăng lên mức cao. Tại Hoa Kỳ và Brazil giá mặt hàng này neo ở mức 665-675 USD/tấn FOB Nola khi nguồn cung giao ngay ngày càng giảm. Giá tại Ấn Độ tuần này cũng tăng lên mức 677 USD/tấn CFR. Nhiều nhà máy đóng cửa sản xuất khi giá khí đốt tăng cao hoặc do ảnh hưởng của thiên tai, chính sách hạn chế xuất khẩu Phosphate của Trung Quốc được đưa ra đã kéo tụt nguồn cung trong Quý 4 và đẩy giá DAP tăng lên tại nhiều khu vực do chuẩn bị bước vào vụ sản xuất chính.

Có thể thấy tất cả các loại phân bón trên thế giới đều lâm vào tình trạng khan hàng do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, nhiều nhà máy buộc phải đóng cửa làm nguồn cung bị cắt giảm nghiêm trọng.

Nguồn cung các mặt hàng phân bón hạn chế và giá còn được cộng hưởng bởi cước vận chuyển vẫn tiếp tục xác lập các mặt bằng giá mới do sự gián đoạn chuỗi cung ứng, logistics, giá xăng dầu tăng cao vì đại dịch gây ra làm tình hình càng “trầm trọng” thêm. Các hãng tàu hiện khuyến nghị đặt chỗ trước từ 4-5 tuần khi tàu và container đều khan hiếm. Việc vận chuyển dự kiến sẽ chịu thêm áp lực khi thị trường bước vào mùa thu và mùa đông, sự tắc nghẽn tại các cảng biển sẽ làm ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu trong ít nhất hai năm tới – trong đó việc giao thương phân bón không phải là ngoại lệ.

Như vậy có thể thấy tất cả các loại phân bón trên thế giới đều lâm vào tình trạng khan hàng do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, nhiều nhà máy buộc phải đóng cửa làm nguồn cung bị cắt giảm nghiêm trọng. Trong những tháng cuối năm và thậm chí cả năm 2022, thế giới có thể sẽ bước vào một “cuộc chiến giành giật phân bón” và đẩy giá mặt hàng lên những mốc kỷ lục mới. Việt Nam nằm trong dòng chảy chung của kinh tế thế giới và giá mặt hàng này cũng không ngoại lệ nên chắc chắn sẽ có những tác động tăng giá mạnh trong thời gian tới.

Minh Ngọc

PetroVietnam chủ động linh hoạt thích ứng với trạng thái bình thường mới

Ngày 4/10, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) Lê Mạnh Hùng đã chủ trì buổi giao ban điều hành sản xuất, kinh doanh thường kỳ lần thứ 10 năm 2021 trực tuyến với thủ trưởng các đơn vị trong toàn Tập đoàn nhằm “linh hoạt thích ứng” với trạng thái bình thường mới.

Tham dự buổi giao ban có đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn; các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, thành viên HĐTV, Phó Tổng giám đốc, Trưởng các ban chuyên môn/văn phòng Tập đoàn cùng lãnh đạo các đơn vị thành viên của Tập đoàn.

Trong tháng 9, hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) của Tập đoàn tiếp tục gặp nhiều tác động tiêu cực do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, thị trường các sản phẩm dầu khí đứt gãy chuỗi cung ứng, đặc biệt là tình trạng giãn cách xã hội diện rộng tại nhiều địa phương. Trong bối cảnh đó, Petrovietnam đã triển khai hàng loạt các biện pháp để ứng phó, công tác dự báo, quản trị biến động, linh hoạt trong điều hành, kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị của Tập đoàn theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh đã tối đa giá trị của từng đơn vị và mở rộng thị trường… giúp Tập đoàn ứng phó kịp thời với những khó khăn, giữ vững và duy trì nhịp độ SXKD.

Với nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2021, Petrovietnam đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Cụ thể, khai thác dầu thô tháng 9 vượt 15,4% kế hoạch tháng 9, tính chung 9 tháng đạt 8,20 triệu tấn, vượt 13,0% kế hoạch 9 tháng. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn tháng 9/2021 ước đạt 44,9 nghìn tỷ đồng, vượt 11% kế hoạch tháng 9/2021, lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 đạt 437,8 nghìn tỷ đồng, vượt 16% kế hoạch 9 tháng. Petrovietnam góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách Nhà nước khi đã nộp NSNN 9 tháng đạt 65,9 nghìn tỷ đồng, vượt 5,0% kế hoạch năm 2021 và vượt 17% so với cùng kỳ năm 2020. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp lớn gặp khó khăn, thua lỗ, những đóng góp quan trọng của Petrovietnam thể hiện nỗ lực rất lớn của tập thể lãnh đạo Tập đoàn, các đơn vị thành viên và gần 60.000 người lao động Dầu khí.

Công tác quản trị điều hành được triển khai sát với diễn biến thực tế, kịp thời thích ứng với những biến động của thị trường, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị từ khâu thượng nguồn, trung nguồn đến hạ nguồn. Đảm bảo tối ưu công tác quản lý dòng tiền tại các đơn vị và không làm gián đoạn chuỗi sản xuất, cung ứng. Kiểm soát và linh hoạt trong công tác tồn trữ các sản phẩm. Quản trị tận dụng tối đa sự phối hợp giữa các đơn vị trong chuỗi giá trị nhằm bảo đảm lợi ích chung của Petrovietnam và của Nhà nước.

Công tác quản trị đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực, 9 tháng đầu năm đã hoàn thành đưa mỏ Sư Tử Trắng pha 2 vào khai thác theo đúng kế hoạch, các dự án phát triển mỏ như BK-18A, BK-19 đã và đang được triển khai tích cực theo tiến độ đề ra (dự kiến sẽ đưa công trình BK-19 vào hoạt động vào cuối tháng 10/2021, công trình BK-18A vào cuối tháng 11/2021); tiếp tục tập trung  mọi nguồn lực để sớm đưa vào vận hành các dự án điện Sông Hậu 1, Thái Bình 2, trong đó dự kiến đưa vào vận hành thương mại Tổ máy số 1 dự án Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1 vào đầu tháng 11/2021.

Bên cạnh hoạt động SXKD, Petrovietnam còn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, ủng hộ công tác phòng chống dịch Covid-19. Từ đầu năm 2021, toàn Tập đoàn đã thực hiện nghiêm túc các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19; triển khai thực hiện hiệu quả mô hình sản xuất, vận hành “ba tại chỗ” có vùng đệm, vùng kết nối. Đặc biệt, thực hiện nhanh, kịp thời chiến lược tiêm vắc-xin kết hợp với chăm lo sức khỏe cho người lao động. Tính đến 30/9/2021, toàn Tập đoàn đã tham gia ủng hộ công tác phòng chống Covid là 775,8 tỷ đồng, trong đó đóng góp cho Quỹ vắc-xin 554,9 tỷ đồng. Công tác tiêm chủng trong toàn Tập đoàn được đặc biệt quan tâm và khẩn trương triển khai, đến nay, hầu hết người lao động trong Tập đoàn đã được tiêm ít nhất 1 mũi vắc-xin, đặc biệt ưu tiên người lao động trực tiếp tại các công trình, dự án, nhà máy…

Công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí 9 tháng đầu năm 2021 đạt 2.209,6 tỷ đồng bằng 80,9% kế hoạch tiết giảm năm 2021. Công tác chuyển đổi số triển khai tích cực. Công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác truyền thông, văn hóa doanh nghiệp được triển khai đồng bộ, sâu rộng và đạt hiệu quả tích cực; thương hiệu, uy tín của Tập đoàn ngày càng được nâng cao, hình ảnh Petrovietnam đã tạo ấn tượng tốt đẹp trong dư luận xã hội. Các công tác khác như đào tạo, quản lý, chính sách tiền lương cũng được tập trung triển khai đúng như kế hoạch.

Ngày 9/9, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đã xác nhận Petrovietnam có xếp hạng tín nhiệm độc lập ở mức BB+, xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) tại mức BB với “Triển vọng tích cực”; xếp hạng nợ ưu tiên không có tài sản bảo đảm của Petrovietnam được đánh giá tại mức BB. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm riêng của Petrovietnam ở mức BB+. Đánh giá tích cực này từ Fitch Ratings cho thấy sự ghi nhận những kết quả đạt được của Petrovietnam trong những năm qua.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả hoạt động SXKD tháng 9 và 9 tháng năm 2021, Ban Tổng giám đốc và lãnh đạo các Ban theo từng lĩnh vực phụ trách đã trao đổi xử lý, giải quyết các khó khăn và đưa ra các giải pháp hỗ trợ các đơn vị thành viên trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư.

Sau khi nghe ý kiến trao đổi, xử lý, giải quyết công việc của lãnh đạo các đơn vị, lãnh đạo các Ban và các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, đồng thời tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn, Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng ghi nhận và đánh giá cao kết quả đã đạt được trong 9 tháng năm 2021, định hướng phát triển sau khi kiểm soát dịch bệnh chuyển từ “Zero Covid” sang “chủ động thích ứng linh hoạt, an toàn với dịch bệnh”; lưu ý Tập đoàn cùng các đơn vị cập nhật đánh giá tình hình, sẵn sàng “thích ứng linh hoạt” với diễn biến của dịch bệnh Covid-19, từ đó có giải pháp khắc phục khó khăn, mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, nắm bắt cơ hội phục hồi tăng trưởng. Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng đề nghị các đơn vị tiếp tục nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động SXKD ổn định, đảm bảo an toàn cho người lao động; giao nhiệm vụ để các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các ban chuyên môn, lãnh đạo các đơn vị thành viên nhanh chóng rà soát, xử lý các nhiệm vụ, các kết luận, chỉ đạo của lãnh đạo Tập đoàn đúng tiến độ. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai đồng bộ chuyển đổi số trong toàn Tập đoàn.

Lãnh đạo Tập đoàn cũng đề nghị các đơn vị tổ chức lấy ý kiến góp ý của cán bộ, người lao động, các đơn vị, đối tác, nhà thầu liên quan vào Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi và nhấn mạnh, đây là nội dung, là cơ sở quan trọng tạo lực đẩy phát triển bền vững của Petrovietnam trong những năm tới./.

Khủng hoảng nguồn cung, giá phân urê thế giới tăng liên tục

Thanhnien.vn| Ngày 4/10/2021

Giá phân bón tiếp tục tăng nóng sau 1 tháng có phần hạ nhiệt. Các mức giá cao kỷ lục trên thế giới liên tục được thiết lập trong tháng 9 và 10, gây bất lợi không nhỏ cho nhà sản xuất trong nước.

Khan hiếm toàn thế giới

Covid-19 lại tiếp tục gây khó khăn cho thị trường phân bón thế giới. Trong 3 tuần qua, nhiều nhà máy sản xuất amôniắc (NH3) tại châu Âu buộc phải tạm dừng hoạt động do giá thành sản xuất tăng cao vì thiếu khí đốt.

Giá phân bón trong nước dự báo sẽ biến động theo giá thế giới trong thời gian tới

Bản tin Argus cho biết, Công ty Yara – Na Uy tuyên bố giảm công suất 40% trên toàn châu Âu còn Công ty BASF của Đức đã đóng cửa nhà máy NH3 tại Antewerp và Ludwigshafen vì với mức giá khí mới, giá thành sản xuất NH3 tại châu Âu đã gần chạm ngưỡng 950 USD/tấn trong khi giá nhập khẩu về châu Âu là 670 – 700 USD/tấn CFR (giá tiền hàng và cước phí). NH3 là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại phân bón chứa nitơ như urê, DAP, NPK…, do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp tới giá phân bón, đặc biệt là urê.

Bản tin của Argus và Fertecon (các công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế) đều cho biết, nguồn cung urê trên toàn thế giới ngày càng khan hiếm, giá tiếp tục tăng tại tất cả thị trường. Cuối tháng 9 thị trường urê thế giới đã chứng kiến nhiều kỷ lục được thiết lập tại các khu vực sau khi duy trì đà tăng liên tiếp trong 3 tuần qua.

Tại Mỹ, giá đã tăng vượt mức 650 USD/tấn theo giá FOB, thiết lập một mức giá kỷ lục mới trong vòng 10 năm trở lại đây. Tại Ai Cập, sau khi tăng 75 USD/tấn tuần trước, tuần này giá urê tiếp tục tăng thêm 80 USD/tấn và đạt mức kỷ lục 700 USD/tấn giá FOB cho hàng giao tháng 12.2021. Giá urê tăng mạnh trong trạng thái nguồn cung thắt chặt tại châu Âu khi giá khí đốt tăng cao đã khiến nhiều nhà máy phải tạm dừng sản xuất. Cùng với đó, nguồn cung còn bị đe dọa khi chính sách hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 27.9 vừa qua. Giá tăng mạnh, nguồn cung hạn chế, nhu cầu đang tăng trở lại tại tất cả các thị trường do chuẩn bị bước vào vụ sản xuất, điển hình là các đấu thầu tại Ấn độ, Tây Phi… sẽ là yếu tố tiếp tục hỗ trợ thị trường urê trong thời gian tới.

Kỷ lục giá trong 1 thập kỷ

Ngày 1.10 vừa qua, Công ty RCF Ấn Độ đã mở thầu mua 1,5 triệu tấn urê, các nhà cung cấp phải giao hàng trong tháng 10 và 11 năm nay. Kết quả mở thầu cho thấy Công ty Amber có giá chào thấp nhất là 665,5 USD/tấn CFR nhưng chỉ cung cấp được 65.000 tấn. Số lượng hàng còn lại có mức giá chào dao động trong khoảng 720 – 790 USD/tấn CFR. Như vậy, mức giá mới này đã lập kỷ lục trong 10 năm trở lại đây còn so với gói thầu mua urê trước đó vào cuối tháng 7.2021, đơn giá đã tăng thêm 150 USD/tấn. Nếu giá nhập khẩu tại Ấn Độ bình quân 730 USD/tấn CFR thì giá thành nhập khẩu sau khi đóng bao 50 kg tại cảng tương đương 17.000 đồng/kg.

Bản tin dự báo thị trường Đông Nam Á sẽ bị “khô hạn” urê, đến nay chỉ có 3 quốc gia chủ động được nguồn cung urê cho nội địa là Việt Nam, Indonesia, Malaysia trong khi các quốc gia còn lại phải nhập khẩu 100% urê vì không có nhà máy sản xuất, trong đó 2 quốc gia nhập khẩu nhiều nhất là Thái Lan nhập khẩu 2,5 triệu tấn và Philippines nhập 1 triệu tấn/năm.

Tuy chủ động được nguồn cung urê, nhưng chi phí đầu vào tăng mạnh (giá dầu, giá khí, giãn cách ngừa Covid-19 thời gian dài…) khiến nhiều dự báo cho thấy, giá phân bón trong nước sẽ biến động trong thời gian tới.

Ngày 4.10, giá phân bón trong nước tiếp tục duy trì mức ổn định từ đầu tháng đến nay. Theo đó, phân urê hạt đục Cà Mau, Phú Mỹ, Ninh Bình giữ mức 12.500 đồng/kg; phân kali Israel các loại tại thị trường TP.HCM từ 12.000 – 13.500 đồng/kg, thấp hơn thị trường Hà Nội 500 đồng/kg, từ 12.500 – 14.000 đồng/kg; phân DAP Đình Vũ, DAP Lào Cai 16.000 đồng/kg, DAP Korea đen 19.500; NPK Nga từ 11.200 – 13.500 đồng/kg.

Đầu tư xây dựng dự án dầu khí: nhiều bất cập trong văn bản pháp luật

Với đặc thù có vốn đầu tư lớn, rủi ro lại cao cũng như không chỉ chịu sự chi phối của luật pháp Việt Nam mà còn phải tuân theo các thông lệ quốc tế, việc triển khai đầu tư các dự án dầu khí, trong đó có các dự án ở lĩnh vực thượng nguồn như thăm dò khai thác dầu khí đang gặp rất nhiều khó khăn. Và khó khăn này lại càng lớn hơn khi bản thân các dự án dầu khí đang bị “trói buộc” bởi hệ thống văn bản pháp luật chồng chéo, không còn phù hợp trong môi trường đầu tư có nhiều thay đổi để ngành Dầu khí có thể đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế.

Kỳ 1: Đặc thù của hoạt động đầu tư các dự án dầu khí

Với đặc điểm khác biệt so với các dự án đầu tư thông thường, các dự án dầu khí, thường có quy mô đầu tư lớn, được xếp vào nhóm các dự án quan trọng quốc gia, công nghệ cao và đi kèm với các rủi ro không hề nhỏ trong triển khai, đặc biệt là các rủi ro về địa chất đối với các dự án thăm dò khai thác dầu khí.

Trong khi đó, việc triển khai dự án dầu khí lại đang chịu sự chi phối lớn nhất của Luật Dầu khí – văn bản pháp luật đã không còn phù hợp trong bối cảnh có nhiều thay đổi. Hơn thế nữa, việc triển khai này càng gặp khó khăn lớn hơn khi chịu thêm sự chi phối chồng chéo của nhiều luật khác như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản dưới luật khác…

Theo ông Nguyễn Văn Phúc – Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, trong bối cảnh có nhiều thay đổi, hành lang pháp lý cho hoạt động của ngành Dầu khí, đặc biệt là Luật Dầu khí đã không còn phù hợp để ngành Dầu khí phát triển mạnh mẽ và đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế.

Làm rõ hơn về bất cập này, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) Lê Mạnh Hùng cho biết, hoạt động thăm dò khai thác dầu khí đang phải đối mặt với khó khăn về điều kiện kỹ thuật, địa chất, tình hình triển khai thực địa. Đặc biệt, cơ chế chính sách pháp luật về dầu khí không còn phù hợp với tình hình mới, ảnh hưởng không nhỏ tới lĩnh vực cốt lõi này.

Cụ thể, Luật Dầu khí và các điều khoản Hợp đồng dầu khí hiện hành còn tồn tại bất cập và kém hấp dẫn so với các nước trong khu vực, không phù hợp tiềm năng trữ lượng dầu khí hiện nay nên không thu hút được nhà đầu tư nước ngoài.

Giếng khoan Kèn Bầu 2X, Lô 114, bể Sông Hồng, thềm lục địa Việt Nam được giàn khoan SAGA thi công. Ảnh: Trương Hoài Nam

Trên thực tế, Luật Dầu khí được ban hành năm 1993, sau đó được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2000 và 2008. Trong bối cảnh giá dầu thô thế giới biến động, xu hướng chuyển dịch năng lượng (từ năng lượng truyền thống sang các dạng năng lượng mới) và điều kiện thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam, các cơ chế trong Luật Dầu khí không đủ khuyến khích các nhà đầu tư phát triển các mỏ nhỏ/mỏ cận biên, hay áp dụng các giải pháp để tận thăm dò, nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR).

Minh chứng rõ nét nhất là Luật Dầu khí dù đã thể hiện khá đầy đủ các giai đoạn, bước thực hiện đối với dự án thăm dò khai thác dầu khí/Hợp đồng dầu khí nhưng lại chưa chỉ rõ các thủ tục đầu tư đầy đủ khi một doanh nghiệp nhà nước (PVN/đơn vị thuộc PVN) có tham gia đầu tư vào dự án dầu khí (trong khi Luật Đầu tư cũng không quy định).

Chính sự chồng chéo, thiếu quy định này đã khiến cho việc triển khai các dự án thăm dò khai thác dầu khí đang gặp nhiều khó khăn và khiến nhiều doanh nghiệp nước ngoài “nản chí” khi có ý định đầu tư vào các dự án loại này, nhất là khi điều kiện khai thác hiện nay chủ yếu là mỏ nhỏ, ở vùng nước sâu, xa bờ đòi hỏi chi phí lớn.

Trên thực tế, việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực thăm dò khai thác những năm gần đây gần như “giẫm chân tại chỗ”. Trong giai đoạn 2016 – 2020, PVN chỉ ký được 8 hợp đồng dầu khí mới, chưa bằng 1/3 so với giai đoạn 2010 – 2015 (27 hợp đồng dầu khí mới).

Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật này chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư của các bên với vai trò là các nhà thầu dầu khí nói chung (quan hệ giữa nhà đầu tư với nước chủ nhà/Chính phủ Việt Nam), còn với vai trò là nhà đầu tư vào thăm dò khai thác dầu khí có sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp thì vẫn phải tuân thủ các luật chung liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư.

Thực tế là các dự án thăm dò khai thác dầu khí trong nước được thực hiện bởi tổ hợp các nhà thầu dầu khí quốc tế và/hoặc nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn đầu tư để triển khai công tác thăm dò khai thác dầu khí tại 1 khu vực/lô/cụm lô nào đó tại thềm lục địa Việt Nam với điều kiện phải tuân thủ các cam kết về quyền và nghĩa vụ trong Hợp đồng dầu khí (thường là Hợp đồng chia sản phẩm – PSC) được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam (đại diện là PVN) và tổ hợp các nhà thầu, đồng thời tuân thủ các quy định liên quan trong Luật Dầu khí cũng như văn bản dưới Luật Dầu khí.

Theo đó, nếu kết quả thăm dò – thẩm lượng xác định được mỏ dầu khí thương mại, các nhà thầu sẽ tiến hành hoạt động khai thác và bán dầu thô hoặc khí ngay tại miệng giếng, theo đó các hoạt động này chỉ tuân thủ quy định trong PSC và Luật Dầu khí.

Tuy nhiên, trong trường hợp các lô/khu vực hợp đồng có khai thác khí và các nhà thầu thực hiện bán khí đến tận hộ tiêu thụ trên bờ (trường hợp này được xem là PSC mở rộng), các nhà thầu sẽ cần đầu tư bổ sung các công trình đường ống để dẫn khí về bờ và các trạm xử lý, tiếp nhận, vận chuyển khí đến các hộ tiêu thụ. Trong khi đó, hoạt động xây dựng các công trình trên bờ hiện nay đang điều chỉnh bởi Luật Xây dựng và các văn bản dưới Luật Xây dựng.

Cùng với đó, Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014) quy định đối với các dự án nhóm A cần phải có chấp thuận của đại diện chủ sở hữu trước khi chủ đầu tư quyết định đầu tư.

Với đặc thù của ngành dầu khí (Nhà nước vừa quản lý đầu tư, vừa quản lý tài nguyên), Luật Dầu khí quy định rất chặt chẽ các bước thực hiện dự án thăm dò khai thác dầu khí, toàn bộ các thay đổi của Hợp đồng dầu khí cần được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các bước đầu tư dự án thăm dò khai thác dầu khí (ODP, EDP, FDP) khi thẩm định đều có sự tham gia của đại diện các Bộ ngành và Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (đại diện chủ sở hữu của PVN).

Vì vậy, việc yêu cầu phải trình và đạt được chấp thuận của đại diện chủ sở hữu trước khi quyết định đầu tư theo Luật 69/2014/QH13 sẽ dẫn đến doanh nghiệp sử dụng vốn có nguồn gốc vốn Nhà nước (như PVEP) phải trình phê duyệt dự án theo 2 quy trình thủ tục khác nhau làm kéo dài thời gian phê duyệt và nhiều khi không khả thi vì tiến độ và nội dung phê duyệt theo 2 quy trình không giống nhau. Đây chính là khó khăn khiến việc triển khai đầu tư các dự án thăm dò khai thác đang bị chậm chễ.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), không chỉ có các dự án thượng nguồn gặp khó khăn, việc triển khai các dự án dầu khí ở lĩnh vực trung nguồn và hạ nguồn như chế biến khí, điện khí cũng gặp “trắc trở” bởi sự chồng chéo về văn bản quy phạm pháp luật và một loạt thông tư hướng dẫn của các bộ, liên bộ, ngành liên quan cũng như các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư, lập và thẩm định dự án đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho đến quản lý quá trình triển khai xây dựng và kết thúc đưa dự án vào vận hành khai thác.

Ví dụ rất rõ có thể thấy là trong việc triển khai các dự án đường ống dẫn khí từ mỏ/miệng giếng khai thác ngoài khơi về bờ và đến các hộ tiêu thụ (nhà máy điện, nhà máy đạm…).

Thực tế là việc triển khai các dự án này đòi hỏi tính đồng bộ trong công tác đầu tư giữa hoạt động khai thác, vận chuyển và sử dụng khí (hay nói cách khác tiến độ đầu tư, vận hành dự án đường ống dẫn khí cần đảm bảo đồng bộ với tiến độ khai thác khí tại mỏ và tiến độ đầu tư, vận hành các nhà máy nhiệt điện khí, nhà máy đạm sử dụng khí làm nguyên liệu đầu vào).

Số lượng hợp đồng dầu khí ký mới trong giai đoạn 2010 – 2020.

Với các dự án này, có nhiều chủ thể cùng liên quan trong chuỗi hoạt động khí, bao gồm: chủ mỏ (đơn vị/nhà thầu khai thác khí); đơn vị kinh doanh khí (mua khí từ chủ mỏ và bán cho các hộ tiêu thụ); đơn vị vận chuyển và xử lý khí (thực hiện dịch vụ vận chuyển, xử lý khí từ mỏ đến các hộ tiêu thụ) và các hộ tiêu thụ khí (các nhà máy nhiệt điện khí là hộ tiêu thụ chính). Trong đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có nhiều vai trò khác nhau: Mua khí từ mỏ, tham gia đầu tư đường ống, bán khí cho các hộ tiêu thụ khí. Ngoài ra, giá khí mua của chủ mỏ tại điểm giao nhận từ mỏ (giá khí miệng giếng), giá khí bán cho các hộ tiêu thụ điện/đạm và giá điện bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đều do Chính phủ quyết định.

Bên cạnh đó, có một số nguồn khí do điều kiện khai thác/sử dụng đặc thù nên được áp dụng cơ chế chuyển ngang (pass through) giá mua khí sang giá điện (ví dụ như khí khu vực PM3-CAA; Cụm mỏ Lô B, 48/95, 52/97). Điều này cho thấy, quan hệ lợi ích hài hòa giữa các bên liên quan trong chuỗi hoạt động khí mới có thể đảm bảo được sự đồng bộ trong chuỗi dự án, điều này luôn là thách thức trong thực tiễn triển khai.

Đáng chú ý, các dự án chế biến dầu khí, các dự án nhà máy nhiệt điện (khí, than) thường có quy mô đầu tư rất lớn (đến 2 tỷ USD tương đương hơn 40.000 tỷ đồng trở lên) và thời gian xây dựng dài, dẫn đến việc huy động vốn rất phức tạp, phải huy động vốn từ các nguồn tài chính nước ngoài và cần có bảo lãnh/hỗ trợ của Chính phủ/Bộ Tài chính. Ngoài ra còn chịu nhiều tác động từ các quy định về an toàn, môi trường, chất lượng sản phẩm buộc chủ đầu tư phải đầu tư nâng cấp làm ảnh đáng kể đến hiệu quả của nhà máy.

Ngoài ra, có dự án bắt buộc phải sử dụng công nghệ bản quyền, nghĩa là mua/thuê bản quyền công nghệ (bao gồm thiết kế công nghệ, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ kỹ thuật, thiết bị độc quyền, hóa chất xúc tác…) từ các tổ chức nước ngoài để phù hợp với yêu cầu chế biến của từng nhà máy/dự án, đảm bảo tương thích với nguồn nguyên liệu dầu thô đầu vào và cơ cấu sản phẩm đầu ra. Do đó, khi triển khai đầu tư (như khâu thiết kế, lựa chọn nhà thầu EPC) thường phải tuân thủ theo thông lệ quốc tế.

Với các bất cập này, nhiều chuyên gia cho rằng việc sớm rà soát, sửa đổi các văn bản pháp lý không còn phù hợp và chồng chéo trong bối cảnh mới sẽ là “liều thuốc” quan trọng để các dự án dầu khí có thể triển khai thuận lợi, đồng thời tạo sự yên tâm tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài “rót vốn” vào lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí./.

Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Thấm thoắt gần tròn 50 năm kể từ ngày tôi vào nghề dầu khí. Tháng 8-1971, tôi cùng 9 kỹ sư công nghệ lọc hóa dầu và thiết bị dầu khí vừa tốt nghiệp Học viện Dầu khí Rumani về nước, được giới thiệu về Tổng cục Hóa chất nhận công tác. Chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Biên, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất. Ông Biên được Chính phủ điều động từ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước sang Tổng cục Hóa chất.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 3-3-1972, Tổng cục Hóa chất có quyết định thành lập Ban Dầu mỏ và Khí đốt trực thuộc Tổng cục (gọi tắt là Ban Dầu khí), do Tổng cục trưởng Nguyễn Chấn kiêm Trưởng ban, Tổng cục phó Nguyễn Văn Biên và Tổng cục phó Hoàng Hữu Bình kiêm Phó ban. Ban Dầu khí biên chế 50 người.

Ngày 3-9-1975, Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Tôi có may mắn được làm việc dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Biên trong những năm ở Ban Dầu khí và thời kỳ đầu của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, gắn bó liên tục với nghề dầu khí cho tới lúc nghỉ hưu. Những ký ức về cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên luôn sống động trong tôi.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng. Ngày 20-7-1975, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) họp tại Sài Gòn để hoạch định đường lối phát triển ngành Dầu khí.

Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu, khí trên cả nước. Đây là văn bản đầu tiên của Đảng về dầu khí. Nghị quyết 244-NQ/TW thực sự là chiến lược phát triển toàn diện ngành Dầu khí trên đất nước Việt Nam, trong đó khẳng định: “Khai thác nhiều dầu khí, vừa đủ dùng trong nước, vừa có thể xuất khẩu”; “Hình thành một nền công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành Dầu khí… Tranh thủ triển khai song song việc thăm dò dầu và xây dựng công nghiệp chế biến gồm lọc dầu và hóa dầu”; “Nước ta phải vươn lên tự lực giải quyết những yếu tố cơ bản (khoa học, kỹ thuật, thiết bị, vốn, quản lý) để phát triển ngành Dầu khí trong khi vẫn mở rộng hợp tác với nước ngoài”…

Ngày 3-9-1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Ngày 23-9-1975, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nghiệm giữ chức vụ Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Nghị quyết 244-NQ/TW gây ấn tượng mạnh về con đường phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam, được cộng đồng dầu khí trên thế giới đánh giá: Nhìn xa, trông rộng, hoàn chỉnh, “mở cửa”, “đa phương”…, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước đang bề bộn công việc sau cuộc chiến tàn khốc và bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đó là khí thế “thần tốc”, thừa thắng xông lên. Song, những người trong cuộc lại biết rằng, đó còn là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng từ nhiều năm trước.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Được Nghị quyết 244-NQ/TW mở đường, Tổng cục Dầu khí đã nhanh chóng triển khai hàng loạt công việc để hình thành ngành công nghiệp dầu khí mới mẻ của đất nước theo đường lối hợp tác đa phương, đó là:

Tiếp tục hợp tác với Liên Xô thăm dò dầu khí tại miền võng Hà Nội, do các đơn vị từ Tổng cục Địa chất chuyển sang thực hiện. Hình thức hợp tác giữa hai nước là vay vốn dài hạn, lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để Việt Nam tự đầu tư, tự điều hành. Liên Xô cử các chuyên gia kỹ thuật và cung cấp thiết bị thăm dò địa vật lý, thiết bị khoan cho Việt Nam với giá thấp hơn thị trường được quy định trong khối SEV. Giai đoạn 1976-1985, có trên 600 chuyên gia Liên Xô sang tham gia với các đơn vị trong Tổng cục Dầu khí.

Tháng 3-1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô ký Hiệp định về việc hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam và thành lập Liên doanh Dầu khí Việt – Xô. Hiệp định này được sửa đổi vào năm 1991 và tiếp tục đạt kết quả tốt, phát huy thành công của sự hợp tác truyền thống giữa hai nước. Sự hợp tác được đánh giá là hiệu quả nhất cho cả hai bên trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Cuối tháng 8-1975, ông Nguyễn Văn Biên cùng bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) và ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sang thăm Mexico, trao đổi về khả năng hợp tác giữa hai nước. Công ty Dầu lửa quốc gia PEMEX cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm và mời 2 đoàn cán bộ Việt Nam sang thực tập tại các cơ sở của họ. Đây có thể coi là sự mở đầu cho việc triển khai hợp tác với các nước sau này, như Rumani (1976-1978 bàn hợp tác thăm dò ở Đồng bằng sông Cửu Long), Ấn Độ, Iraq, Algeria…

Đầu tháng 9-1975, ông Nguyễn Văn Biên từ Mexico sang Pháp cùng Đại sứ Võ Văn Sung thăm và trao đổi sơ bộ với hãng Elf Aquitaine, mở đầu cho việc tiếp xúc, hợp tác với các công ty dầu lửa ở nước tư bản phương Tây. Công ty dầu lửa của Pháp tỏ ý muốn hợp tác với Việt Nam cả khâu thăm dò, khai thác dầu khí và lọc hóa dầu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong năm 1976, Tổng cục Dầu khí đã tiếp xúc vòng đầu về hợp đồng dầu khí với 17 công ty và chính phủ các nước Pháp, CHLB Đức, Australia, Canada, Na Uy, Italia, Nhật Bản, Mexico, Anh. Năm 1978, Tổng cục Dầu khí đã ký với Công ty GECO của Na Uy hợp đồng khảo sát địa vật lý; ký với Công ty Deminex của CHLB Đức, Công ty Agip của Italia, Công ty Bow Valley của Canada tổng cộng 5 hợp đồng dầu khí trên các lô thềm lục địa phía Nam.

Từ quý IV/1975, chúng ta đã xúc tiến song song 2 dự án lọc hóa dầu. Liên Xô cử đoàn chuyên gia đầu tiên sang giúp Việt Nam, đề xuất lập luận chứng kinh tế kỹ thuật (TEO) xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu 6 triệu tấn/năm. Việc triển khai lập luận chứng kinh tế kỹ thuật từ năm 1979 và chuẩn bị đầu tư suốt thập niên 80 của thế kỷ trước theo cơ chế phối hợp kế hoạch 5 năm giữa Việt Nam và Liên Xô.

Tháng 4-1976, Tổng cục Dầu khí trình Chính phủ phương án xây dựng 2 khu liên hợp lọc hóa dầu trong giai đoạn 1976-1985: Một nhà máy 6 triệu tấn/năm hợp tác với Liên Xô; một nhà máy 5 triệu tấn/năm hợp tác với Pháp, Nhật và các nước khác. Đối với dự án lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm, Tổng cục Dầu khí đàm phán với các đối tác Pháp như tổng thầu Technip, tài chính Credit Lyonaise (1976-1978); với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) nhằm tài trợ thuê BEICIP lập Báo cáo chuẩn bị đầu tư và nghiên cứu khả thi (1977-1980); với các đối tác Nhật Bản đề xuất dự án lọc hóa dầu (1976-1978); với Rumani về dự án lọc dầu và dầu nhờn (1976-1978)… nhưng không thành công vì bị Mỹ cấm vận.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Giai đoạn 1980-1988, Tổng cục Dầu khí tập trung các nguồn lực hợp tác với Liên Xô trong khuôn khổ hiệp định giữa hai chính phủ, thông qua Liên doanh Dầu khí Việt – Xô đạt kết quả tốt.

Từ năm 1989, việc hợp tác đa phương được tiếp tục đẩy mạnh cho cả khâu thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật.

Có thể thấy, đường lối hợp tác đa phương đã bảo đảm cho ngành Dầu khí Việt Nam đứng vững và phát triển trước các biến động lớn của thời cuộc (như sự tan rã của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa vào năm 1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong bối cảnh những năm 1970, thế giới được chi phối bởi phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu, công nghệ, kỹ thuật, thiết bị dầu khí cũng theo hai trường phái tương ứng.

Việt Nam đứng trong phe xã hội chủ nghĩa, được các nước anh em giúp đỡ, viện trợ về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và hệ thống quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung và thủ tục xây dựng cơ bản đều theo tiêu chuẩn GOST của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tuy vậy, Tổng cục Dầu khí đã mạnh dạn đề xuất và được Nhà nước chấp thuận sử dụng ngay các công nghệ, thiết bị tiên tiến trên thế giới, như: Công nghệ và thiết bị thăm dò dầu khí bằng phương pháp địa chấn từ năm 1975 tại phía Bắc kết hợp giữa máy của Liên Xô và của Pháp; tại Đồng bằng sông Cửu Long hợp tác với Tổng công ty Địa vật lý (CGG) của Pháp; tại thềm lục địa phía Nam hợp tác với Công ty Địa vật lý GECO của Na Uy (năm 1978). Số liệu khảo sát địa vất lý và mẫu địa chất được xử lý, phân tích, tổng hợp bằng các thiết bị, phần mềm tiên tiến thông qua các hợp đồng hợp tác giữa Tổng cục Dầu khí và các đối tác Liên Xô, Pháp, Anh (1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Viện Dầu khí được trang bị bổ sung máy móc phân tích, thí nghiệm bằng các thiết bị phương Tây hiện đại, qua việc sử dụng nguồn tài trợ của Chính phủ Pháp giai đoạn 1977-1980.

Công tác thăm dò của các công ty dầu khí phương Tây từ năm 1978 đều được thực hiện bằng các thiết bị tiên tiến nhất lúc bấy giờ, như các thiết bị địa chấn, địa vật lý giếng khoan, dàn khoan biển, thiết bị lên lạc qua vệ tinh, vận chuyển bằng trực thăng đặc chủng của Liên doanh Việt Pháp (HELIVIFRA)…

Hệ thống quản lý, điều hành của Tổng cục Dầu khí từ rất sớm được tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và GOST của Liên Xô, ngành Dầu khí bắt đầu sử dụng hệ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và của các nước phương Tây (Mỹ, Pháp, Đức, Anh…). Việc quản lý trong xây dựng cơ bản cũng bắt đầu vận dụng kết hợp giữa hệ thống quản lý của Việt Nam, Liên Xô và phương Tây.

Năm 1979, tôi và anh Nguyễn Hữu Hiếu được Tổng cục Dầu khí cử đi đào tạo vể quản lý dự án và thực hiện hợp đồng EPC (thiết kế, mua sắm, xây lắp) theo thông lệ phương Tây bằng tài trợ của UNDP, kết hợp giám sát việc lập luận chứng khả thi (FS) liên hợp lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm do hãng tư vấn BEICIP của Pháp thực hiện.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật làm việc ngoài biển, Tổng cục Dầu khí đã thành lập Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí vào ngày 7-11-1975 tại Bà Rịa. Trong đó, Trung tâm Đào tạo công nhân kỹ thuật dầu khí biển do Chính phủ Na Uy tài trợ được xây dựng từ tháng 7-1978, rồi nâng cấp thành trường dạy nghề chuyên ngành dầu khí, đào tạo thợ lặn, hàn, khoan, cơ điện… Các thiết bị, phương tiện và giáo trình giảng dạy tại Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí Bà Rịa áp dụng hệ thống đào tạo dầu khí phương Tây.

Trong hoàn cảnh những năm 1971-1975, đất nước đang có chiến tranh, chưa có công nghiệp dầu khí, chưa có đủ cán bộ có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí, cũng chưa thể thuê chuyên gia nước ngoài, ông Nguyễn Văn Biên trực tiếp chỉ đạo và điều hành Ban Dầu khí đã rất mạnh dạn tin dùng các cán bộ trẻ vừa mới tốt nghiệp từ các trường đại học dầu khí ở Đông Âu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Đầu năm 1972, tôi được ông Biên giao nhiệm vụ chủ trì tính toán các phương án công nghệ của nhà máy lọc dầu có công suất 1,5-3 triệu tấn/năm do Trung Quốc hứa viện trợ cho Việt Nam. Lúc đó tôi mới tốt nghiệp kỹ sư công nghệ chế biến dầu khí ở Rumani về nước tháng 7-1971, chỉ có thể tính bằng tay và dùng thước logarit; sơ đồ công nghệ vẽ bút chì trên giấy croky. Hàng chục phương án khác nhau, có so sánh chuyên sâu đã được hình thành như vậy. Trong quá trình tính toán, ông Biên luôn động viên, khích lệ các sáng kiến, phương pháp thuyết minh, trình bày để truyền tải ý tưởng và có sức thuyết phục. Ông còn rèn tôi kỹ năng viết báo cáo, tờ trình bằng cách yêu cầu tôi viết đi, viết lại tới 12 lần, đến khi đạt được yêu cầu về nội dung, hình thức, cách truyền tải thông tin khác nhau. Từ một thanh niên nhà quê nhút nhát, có tính cẩu thả, đại khái, tôi dần trở nên cẩn thận hơn, đặc biệt học được phương pháp tư duy của ông để thực hành nhiệm vụ.

Trong cuộc đàm phán về nhà máy lọc dầu tại Bắc Kinh từ tháng 12-1973 đến tháng 2-1974, ý tưởng hai bên khác nhau khá xa, có nguy cơ không đạt kết quả. Ông Biên đã ủng hộ đề xuất của tôi và ông Đông Hải, chủ động nêu phương án hợp lý. Tôi tính toán, vẽ sơ đồ, ông Đông Hải trình bày phương án bằng tiếng Hoa trên giấy của khách sạn Bắc Kinh, mất mấy đêm làm việc tới 2-3 giờ sáng mới xong (ông Biên và ông Hải thông thạo Trung văn), được ông Biên xem xét, đồng ý đưa ra thảo luận và cuối cùng hai bên ký được biên bản vào ngày 18-2-1974.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Lúc đó, tôi là 1 trong 2 cán bộ trẻ nhất trong đoàn đàm phán Việt Nam gồm hơn ba chục chuyên gia đại diện cho Tổng cục Hóa chất, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Ngoại thương, Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc. Có sự tin dùng cán bộ trẻ của ông Biên, tôi mới đủ tự tin để đề xuất giải pháp.

Chuyến công tác cuối tháng 8-1975 ở Mexico, tôi được đi cùng đoàn ông Biên. Công ty Dầu lửa quốc gia Mexico (PEMEX) mời đoàn đi thăm giàn khoan biển ngoài vịnh Mexico. Tôi chưa bao giờ được lên giàn khoan biển, thực lòng cũng muốn đi xem. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ tìm hiểu khâu hạ nguồn của PEMEX, tôi đề xuất đi thăm nhà máy lọc dầu và đề nghị PEMEX cử cán bộ biết tiếng Anh đi cùng, vì tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Ông Biên và ông Nguyễn Cơ Thạch chấp thuận. Ông Biên dặn tôi tìm hiểu về công nghệ, thiết bị, chuyên gia của PEMEX.

Hôm sau, trong khi đoàn Việt Nam đi thăm giàn khoan thì Trưởng phòng Kế hoạch của PEMEX lái xe đưa tôi đi thăm nhà máy lọc dầu. Đại diện Ban Giám đốc nhà máy đón tiếp rất trịnh trọng đoàn Việt Nam sang thăm nhà máy, mà đoàn chỉ có một kỹ sư trẻ. Phía bạn rất chu đáo dẫn đi xem các xưởng sản xuất, cởi mở trao đổi các kinh nghiệm về xây dựng và vận hành, các vấn đề về công nghệ và thiết bị mà phần lớn được nhập khẩu từ Mỹ và các nước Tây Âu. Thời điểm đó, Mexico mới chế tạo được khoảng 50% thiết bị tĩnh.

Kết quả là sau chuyến thăm Mexico của đoàn Việt Nam, PEMEX cử chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm phát triển ngành dầu khí và mời 2 đoàn cán bộ dầu khí Việt Nam sang PEMEX thực tập trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo và dịch vụ kỹ thuật.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao năng lực, cập nhật trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế. Năng lực của đội ngũ ấy chính là di sản mà ông Nguyễn Văn Biên đã dày công gây dựng.

Khi sang Paris (Pháp) đầu tháng 9-1975, Công ty Elf Aquitaine mời ông Biên và Đại sứ Võ Văn Sung đi thăm cơ sở khai thác, chế biến khí thiên nhiên ở miền Nam nước Pháp, còn tôi ở lại gặp gỡ, làm quen và học hỏi một số chuyên gia Việt kiều đang làm việc cho các công ty thiết kế, viện nghiên cứu công nghệ dầu khí ở Paris, do Đại sứ quán giới thiệu.

Việc đàm phán các hợp đồng của Tổng cục Dầu khí Việt Nam với nước ngoài trong những năm 1976-1978 rất gay go. Thống nhất được quan điểm trong nội bộ Việt Nam đã khó, vì lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ, thuyết phục được đối tác nước ngoài chấp nhận giải pháp của nước chủ nhà cũng không dễ. Ông Biên rất kiên trì động viên và tin tưởng các cán bộ trẻ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế của Tổng cục Dầu khí, như các kỹ sư Đỗ Văn Hà, Vũ Trọng Đức, Đỗ Văn Luyện, những người đã từng được bổ túc về lĩnh vực này, nghiên cứu sâu, tính toán cụ thể, để thuyết phục các bên đi đến ký kết được 8 hợp đồng dầu khí đầu tiên vào năm 1978.

Đối với cán bộ trẻ, ông Biên luôn khích lệ sự tự tin, dám nghĩ, dám làm với những sáng kiến, tìm tòi giải pháp, nhưng cũng khá khắt khe và yêu cầu cao.

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông Nguyễn Văn Biên là ông hỏi rất nhiều về kiến thức chuyên môn. Cách nói chuyện của ông không phải là để kiểm tra trình độ của cán bộ trẻ, mà thể hiện sự cầu thị, muốn học hỏi, hiểu biết thêm về một lĩnh vực mới mẻ đối với ông. Một số câu hỏi của ông làm tôi lúng túng, vì lý thuyết được trang bị ở trường đại học là chưa đủ. Tôi được biết, ông cũng mời nhiều kỹ sư, phó tiến sĩ, chuyên gia Việt kiều ở nhiều lĩnh vực như thiết bị dầu khí, chất dẻo, sợi tổng hợp, khai thác dầu, kinh tế dầu khí… tới nhà riêng để nói chuyện, học hỏi thêm chuyên môn ngoài giờ làm việc.

Từ một cán bộ Mặt trận Việt Minh và làm công tác Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại ở Đông Dương, ông đã vừa làm, vừa học thêm, nắm được kiến thức về công nghiệp hóa chất, sản xuất phân bón, dầu khí, trở thành Viện phó Viện Công nghiệp hóa chất, Phó giám đốc Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, Ủy viên Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí. Đó là một hành trình liên tục học hỏi, bổ túc thêm những kiến thức mới.

Nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

Khi bắt đầu công tác chuẩn bị xây dựng ngành Dầu khí, ông Biên cũng học thêm tiếng Anh, ngoài tiếng Pháp và tiếng Hoa mà ông đã biết từ trước. Ông động viên anh chị em cán bộ Ban Dầu khí học tiếng Anh buổi tối, bản thân ông cũng đi học như mọi người. Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, ông còn học thêm tiếng Nga. Theo ông, làm nghề dầu khí, muốn có trình độ ngang tầm quốc tế, phải biết ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.

Thấy mọi người đi học tản mạn, có người phải vất vả đi rất xa mới có lớp, ông Biên cho tổ chức lớp học ngoài giờ, mời giáo viên đến dạy ngay tại cơ quan, một lớp sơ cấp, một lớp nâng cao. Sau mỗi khóa học, mọi người đăng ký thi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, lấy chứng chỉ trình độ A, B, C.

Cũng nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế và Cục Xây dựng cơ bản của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo nâng cao sau này ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao và phát huy được năng lực, cập nhật được trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế, nhất là từ các công ty dầu lửa đa quốc gia và các tập đoàn công nghệ tiên tiến ở các nước tư bản phương Tây. Năng lực của đội ngũ dầu khí ấy chính là di sản, là dấu ấn mà ông Nguyễn Văn Biên – thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi – đã truyền cảm hứng và dày công gây dựng.

Những năm cuối thập niên 80, thỉnh thoảng tôi ra Hà Nội công tác, hay đến thăm ông Biên ở khu tập thể Giảng Võ. Cả khi ông còn là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch phân vùng và khi đã nghỉ hưu, mỗi lần gặp tôi, ông lại say sưa nói về các chủ đề chiến lược phát triển, hay các cuốn sách đề cập tới những vấn đề lý thú, như sự giao thoa của hai hệ thống, sự trỗi dậy và sụp đổ của các đế chế trên thế giới… Ông luôn truyền cảm hứng, cho tôi niềm đam mê học hỏi không ngừng nghỉ.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

Kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống của ngành Dầu khí Việt Nam, tôi thấy vinh dự được đứng trong đội ngũ đồng nghiệp đã cùng nhau đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp dầu khí đáng tự hào. Tôi luôn biết ơn cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên, một người thầy đã truyền nhiệt huyết và niềm đam mê nghề nghiệp cho những thế hệ người làm dầu khí đầu tiên.

Nội dung: Bỳ Văn Tứ – Nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Thiết kế: Duy Tiến

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+

petrotimes.vn | Ngày 21/9/2021

Ngày 9/9/2021, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đã xác nhận Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) có xếp hạng tín nhiệm độc lập ở mức BB+, xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) tại mức BB với “Triển vọng tích cực”. Đồng thời, xếp hạng nợ ưu tiên không có tài sản bảo đảm của Petrovietnam được đánh giá tại mức BB. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm riêng của Petrovietnam ở mức BB+.

Fitch Ratings cũng đánh giá lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) của Petrovietnam năm 2021 sẽ tăng gấp đôi lên hơn 45 nghìn tỷ VNĐ, hồ sơ tài chính vững chắc với những tiến triển tốt trong các lĩnh vực kinh doanh chủ chốt của Tập đoàn và tính thanh khoản cao – “Fitch không nhận thấy khó khăn trong việc huy động vốn của Petrovietnam với vị thế là một trong những doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất của Việt Nam” – báo cáo của Fitch đánh giá.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Vững vàng trước giông bão – Ảnh: Phạm Phương

Trong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4, việc Petrovietnam tiếp tục duy trì các mức xếp hạng tích cực do Tập đoàn đã có những biện pháp ứng phó với dịch bệnh và biến động của giá dầu thô, có sự chủ động, linh hoạt trong điều hành, quản trị doanh nghiệp. Cùng với đó, công tác dự báo, quản trị biến động, kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị của Tập đoàn theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh đã tối đa hóa giá trị của từng đơn vị và mở rộng thị trường… giúp Tập đoàn ứng phó kịp thời với những khó khăn, đạt được kết quả rất đáng khích lệ.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Giữ nhịp độ sản xuất

Kết thúc 8 tháng năm 2021, cơ bản các chỉ tiêu SXKD của Petrovietnam đều đạt kế hoạch đề ra, khai thác dầu thô vượt 12,7% so với với kế hoạch 8 tháng; sản xuất các sản phẩm như đạm, xăng dầu, LPG… đều vượt từ 2-11%. Các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam đều vượt và tăng trưởng so với cùng kỳ tạo nên hồ sơ tài chính vững chắc cho Tập đoàn.

Ngoài ra, Tổ chức xếp hạng này cũng đánh giá Hồ sơ tín dụng độc lập (SCP) của Petrovietnam ở mức BB+, phản ánh mức độ tích hợp, đa dạng hóa và hồ sơ tài chính thận trọng của Tập đoàn. Xếp hạng này khẳng định vị thế của Petrovietnam là nhà sản xuất dầu khí lớn nhất Việt Nam, tích hợp theo ngành dọc với hoạt động thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn, doanh thu ổn định từ phân phối khí và điện.

Cùng với việc duy trì các kết quả đạt được, Petrovietnam chủ động nắm bắt thời cơ để phục hồi hoạt động sau dịch bệnh Covid-19 trong “trạng thái bình thường mới”.

H.A

Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Thấm thoắt gần tròn 50 năm kể từ ngày tôi vào nghề dầu khí. Tháng 8-1971, tôi cùng 9 kỹ sư công nghệ lọc hóa dầu và thiết bị dầu khí vừa tốt nghiệp Học viện Dầu khí Rumani về nước, được giới thiệu về Tổng cục Hóa chất nhận công tác. Chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Biên, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất. Ông Biên được Chính phủ điều động từ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước sang Tổng cục Hóa chất.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 3-3-1972, Tổng cục Hóa chất có quyết định thành lập Ban Dầu mỏ và Khí đốt trực thuộc Tổng cục (gọi tắt là Ban Dầu khí), do Tổng cục trưởng Nguyễn Chấn kiêm Trưởng ban, Tổng cục phó Nguyễn Văn Biên và Tổng cục phó Hoàng Hữu Bình kiêm Phó ban. Ban Dầu khí biên chế 50 người.

Ngày 3-9-1975, Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Tôi có may mắn được làm việc dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Biên trong những năm ở Ban Dầu khí và thời kỳ đầu của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, gắn bó liên tục với nghề dầu khí cho tới lúc nghỉ hưu. Những ký ức về cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên luôn sống động trong tôi.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng. Ngày 20-7-1975, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) họp tại Sài Gòn để hoạch định đường lối phát triển ngành Dầu khí.

Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu, khí trên cả nước. Đây là văn bản đầu tiên của Đảng về dầu khí. Nghị quyết 244-NQ/TW thực sự là chiến lược phát triển toàn diện ngành Dầu khí trên đất nước Việt Nam, trong đó khẳng định: “Khai thác nhiều dầu khí, vừa đủ dùng trong nước, vừa có thể xuất khẩu”; “Hình thành một nền công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành Dầu khí… Tranh thủ triển khai song song việc thăm dò dầu và xây dựng công nghiệp chế biến gồm lọc dầu và hóa dầu”; “Nước ta phải vươn lên tự lực giải quyết những yếu tố cơ bản (khoa học, kỹ thuật, thiết bị, vốn, quản lý) để phát triển ngành Dầu khí trong khi vẫn mở rộng hợp tác với nước ngoài”…

Ngày 3-9-1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Ngày 23-9-1975, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nghiệm giữ chức vụ Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Nghị quyết 244-NQ/TW gây ấn tượng mạnh về con đường phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam, được cộng đồng dầu khí trên thế giới đánh giá: Nhìn xa, trông rộng, hoàn chỉnh, “mở cửa”, “đa phương”…, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước đang bề bộn công việc sau cuộc chiến tàn khốc và bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đó là khí thế “thần tốc”, thừa thắng xông lên. Song, những người trong cuộc lại biết rằng, đó còn là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng từ nhiều năm trước.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Được Nghị quyết 244-NQ/TW mở đường, Tổng cục Dầu khí đã nhanh chóng triển khai hàng loạt công việc để hình thành ngành công nghiệp dầu khí mới mẻ của đất nước theo đường lối hợp tác đa phương, đó là:

Tiếp tục hợp tác với Liên Xô thăm dò dầu khí tại miền võng Hà Nội, do các đơn vị từ Tổng cục Địa chất chuyển sang thực hiện. Hình thức hợp tác giữa hai nước là vay vốn dài hạn, lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để Việt Nam tự đầu tư, tự điều hành. Liên Xô cử các chuyên gia kỹ thuật và cung cấp thiết bị thăm dò địa vật lý, thiết bị khoan cho Việt Nam với giá thấp hơn thị trường được quy định trong khối SEV. Giai đoạn 1976-1985, có trên 600 chuyên gia Liên Xô sang tham gia với các đơn vị trong Tổng cục Dầu khí.

Tháng 3-1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô ký Hiệp định về việc hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam và thành lập Liên doanh Dầu khí Việt – Xô. Hiệp định này được sửa đổi vào năm 1991 và tiếp tục đạt kết quả tốt, phát huy thành công của sự hợp tác truyền thống giữa hai nước. Sự hợp tác được đánh giá là hiệu quả nhất cho cả hai bên trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Cuối tháng 8-1975, ông Nguyễn Văn Biên cùng bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) và ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sang thăm Mexico, trao đổi về khả năng hợp tác giữa hai nước. Công ty Dầu lửa quốc gia PEMEX cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm và mời 2 đoàn cán bộ Việt Nam sang thực tập tại các cơ sở của họ. Đây có thể coi là sự mở đầu cho việc triển khai hợp tác với các nước sau này, như Rumani (1976-1978 bàn hợp tác thăm dò ở Đồng bằng sông Cửu Long), Ấn Độ, Iraq, Algeria…

Đầu tháng 9-1975, ông Nguyễn Văn Biên từ Mexico sang Pháp cùng Đại sứ Võ Văn Sung thăm và trao đổi sơ bộ với hãng Elf Aquitaine, mở đầu cho việc tiếp xúc, hợp tác với các công ty dầu lửa ở nước tư bản phương Tây. Công ty dầu lửa của Pháp tỏ ý muốn hợp tác với Việt Nam cả khâu thăm dò, khai thác dầu khí và lọc hóa dầu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong năm 1976, Tổng cục Dầu khí đã tiếp xúc vòng đầu về hợp đồng dầu khí với 17 công ty và chính phủ các nước Pháp, CHLB Đức, Australia, Canada, Na Uy, Italia, Nhật Bản, Mexico, Anh. Năm 1978, Tổng cục Dầu khí đã ký với Công ty GECO của Na Uy hợp đồng khảo sát địa vật lý; ký với Công ty Deminex của CHLB Đức, Công ty Agip của Italia, Công ty Bow Valley của Canada tổng cộng 5 hợp đồng dầu khí trên các lô thềm lục địa phía Nam.

Từ quý IV/1975, chúng ta đã xúc tiến song song 2 dự án lọc hóa dầu. Liên Xô cử đoàn chuyên gia đầu tiên sang giúp Việt Nam, đề xuất lập luận chứng kinh tế kỹ thuật (TEO) xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu 6 triệu tấn/năm. Việc triển khai lập luận chứng kinh tế kỹ thuật từ năm 1979 và chuẩn bị đầu tư suốt thập niên 80 của thế kỷ trước theo cơ chế phối hợp kế hoạch 5 năm giữa Việt Nam và Liên Xô.

Tháng 4-1976, Tổng cục Dầu khí trình Chính phủ phương án xây dựng 2 khu liên hợp lọc hóa dầu trong giai đoạn 1976-1985: Một nhà máy 6 triệu tấn/năm hợp tác với Liên Xô; một nhà máy 5 triệu tấn/năm hợp tác với Pháp, Nhật và các nước khác. Đối với dự án lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm, Tổng cục Dầu khí đàm phán với các đối tác Pháp như tổng thầu Technip, tài chính Credit Lyonaise (1976-1978); với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) nhằm tài trợ thuê BEICIP lập Báo cáo chuẩn bị đầu tư và nghiên cứu khả thi (1977-1980); với các đối tác Nhật Bản đề xuất dự án lọc hóa dầu (1976-1978); với Rumani về dự án lọc dầu và dầu nhờn (1976-1978)… nhưng không thành công vì bị Mỹ cấm vận.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Giai đoạn 1980-1988, Tổng cục Dầu khí tập trung các nguồn lực hợp tác với Liên Xô trong khuôn khổ hiệp định giữa hai chính phủ, thông qua Liên doanh Dầu khí Việt – Xô đạt kết quả tốt.

Từ năm 1989, việc hợp tác đa phương được tiếp tục đẩy mạnh cho cả khâu thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật.

Có thể thấy, đường lối hợp tác đa phương đã bảo đảm cho ngành Dầu khí Việt Nam đứng vững và phát triển trước các biến động lớn của thời cuộc (như sự tan rã của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa vào năm 1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong bối cảnh những năm 1970, thế giới được chi phối bởi phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu, công nghệ, kỹ thuật, thiết bị dầu khí cũng theo hai trường phái tương ứng.

Việt Nam đứng trong phe xã hội chủ nghĩa, được các nước anh em giúp đỡ, viện trợ về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và hệ thống quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung và thủ tục xây dựng cơ bản đều theo tiêu chuẩn GOST của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tuy vậy, Tổng cục Dầu khí đã mạnh dạn đề xuất và được Nhà nước chấp thuận sử dụng ngay các công nghệ, thiết bị tiên tiến trên thế giới, như: Công nghệ và thiết bị thăm dò dầu khí bằng phương pháp địa chấn từ năm 1975 tại phía Bắc kết hợp giữa máy của Liên Xô và của Pháp; tại Đồng bằng sông Cửu Long hợp tác với Tổng công ty Địa vật lý (CGG) của Pháp; tại thềm lục địa phía Nam hợp tác với Công ty Địa vật lý GECO của Na Uy (năm 1978). Số liệu khảo sát địa vất lý và mẫu địa chất được xử lý, phân tích, tổng hợp bằng các thiết bị, phần mềm tiên tiến thông qua các hợp đồng hợp tác giữa Tổng cục Dầu khí và các đối tác Liên Xô, Pháp, Anh (1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Viện Dầu khí được trang bị bổ sung máy móc phân tích, thí nghiệm bằng các thiết bị phương Tây hiện đại, qua việc sử dụng nguồn tài trợ của Chính phủ Pháp giai đoạn 1977-1980.

Công tác thăm dò của các công ty dầu khí phương Tây từ năm 1978 đều được thực hiện bằng các thiết bị tiên tiến nhất lúc bấy giờ, như các thiết bị địa chấn, địa vật lý giếng khoan, dàn khoan biển, thiết bị lên lạc qua vệ tinh, vận chuyển bằng trực thăng đặc chủng của Liên doanh Việt Pháp (HELIVIFRA)…

Hệ thống quản lý, điều hành của Tổng cục Dầu khí từ rất sớm được tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và GOST của Liên Xô, ngành Dầu khí bắt đầu sử dụng hệ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và của các nước phương Tây (Mỹ, Pháp, Đức, Anh…). Việc quản lý trong xây dựng cơ bản cũng bắt đầu vận dụng kết hợp giữa hệ thống quản lý của Việt Nam, Liên Xô và phương Tây.

Năm 1979, tôi và anh Nguyễn Hữu Hiếu được Tổng cục Dầu khí cử đi đào tạo vể quản lý dự án và thực hiện hợp đồng EPC (thiết kế, mua sắm, xây lắp) theo thông lệ phương Tây bằng tài trợ của UNDP, kết hợp giám sát việc lập luận chứng khả thi (FS) liên hợp lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm do hãng tư vấn BEICIP của Pháp thực hiện.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật làm việc ngoài biển, Tổng cục Dầu khí đã thành lập Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí vào ngày 7-11-1975 tại Bà Rịa. Trong đó, Trung tâm Đào tạo công nhân kỹ thuật dầu khí biển do Chính phủ Na Uy tài trợ được xây dựng từ tháng 7-1978, rồi nâng cấp thành trường dạy nghề chuyên ngành dầu khí, đào tạo thợ lặn, hàn, khoan, cơ điện… Các thiết bị, phương tiện và giáo trình giảng dạy tại Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí Bà Rịa áp dụng hệ thống đào tạo dầu khí phương Tây.

Trong hoàn cảnh những năm 1971-1975, đất nước đang có chiến tranh, chưa có công nghiệp dầu khí, chưa có đủ cán bộ có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí, cũng chưa thể thuê chuyên gia nước ngoài, ông Nguyễn Văn Biên trực tiếp chỉ đạo và điều hành Ban Dầu khí đã rất mạnh dạn tin dùng các cán bộ trẻ vừa mới tốt nghiệp từ các trường đại học dầu khí ở Đông Âu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Đầu năm 1972, tôi được ông Biên giao nhiệm vụ chủ trì tính toán các phương án công nghệ của nhà máy lọc dầu có công suất 1,5-3 triệu tấn/năm do Trung Quốc hứa viện trợ cho Việt Nam. Lúc đó tôi mới tốt nghiệp kỹ sư công nghệ chế biến dầu khí ở Rumani về nước tháng 7-1971, chỉ có thể tính bằng tay và dùng thước logarit; sơ đồ công nghệ vẽ bút chì trên giấy croky. Hàng chục phương án khác nhau, có so sánh chuyên sâu đã được hình thành như vậy. Trong quá trình tính toán, ông Biên luôn động viên, khích lệ các sáng kiến, phương pháp thuyết minh, trình bày để truyền tải ý tưởng và có sức thuyết phục. Ông còn rèn tôi kỹ năng viết báo cáo, tờ trình bằng cách yêu cầu tôi viết đi, viết lại tới 12 lần, đến khi đạt được yêu cầu về nội dung, hình thức, cách truyền tải thông tin khác nhau. Từ một thanh niên nhà quê nhút nhát, có tính cẩu thả, đại khái, tôi dần trở nên cẩn thận hơn, đặc biệt học được phương pháp tư duy của ông để thực hành nhiệm vụ.

Trong cuộc đàm phán về nhà máy lọc dầu tại Bắc Kinh từ tháng 12-1973 đến tháng 2-1974, ý tưởng hai bên khác nhau khá xa, có nguy cơ không đạt kết quả. Ông Biên đã ủng hộ đề xuất của tôi và ông Đông Hải, chủ động nêu phương án hợp lý. Tôi tính toán, vẽ sơ đồ, ông Đông Hải trình bày phương án bằng tiếng Hoa trên giấy của khách sạn Bắc Kinh, mất mấy đêm làm việc tới 2-3 giờ sáng mới xong (ông Biên và ông Hải thông thạo Trung văn), được ông Biên xem xét, đồng ý đưa ra thảo luận và cuối cùng hai bên ký được biên bản vào ngày 18-2-1974.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Lúc đó, tôi là 1 trong 2 cán bộ trẻ nhất trong đoàn đàm phán Việt Nam gồm hơn ba chục chuyên gia đại diện cho Tổng cục Hóa chất, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Ngoại thương, Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc. Có sự tin dùng cán bộ trẻ của ông Biên, tôi mới đủ tự tin để đề xuất giải pháp.

Chuyến công tác cuối tháng 8-1975 ở Mexico, tôi được đi cùng đoàn ông Biên. Công ty Dầu lửa quốc gia Mexico (PEMEX) mời đoàn đi thăm giàn khoan biển ngoài vịnh Mexico. Tôi chưa bao giờ được lên giàn khoan biển, thực lòng cũng muốn đi xem. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ tìm hiểu khâu hạ nguồn của PEMEX, tôi đề xuất đi thăm nhà máy lọc dầu và đề nghị PEMEX cử cán bộ biết tiếng Anh đi cùng, vì tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Ông Biên và ông Nguyễn Cơ Thạch chấp thuận. Ông Biên dặn tôi tìm hiểu về công nghệ, thiết bị, chuyên gia của PEMEX.

Hôm sau, trong khi đoàn Việt Nam đi thăm giàn khoan thì Trưởng phòng Kế hoạch của PEMEX lái xe đưa tôi đi thăm nhà máy lọc dầu. Đại diện Ban Giám đốc nhà máy đón tiếp rất trịnh trọng đoàn Việt Nam sang thăm nhà máy, mà đoàn chỉ có một kỹ sư trẻ. Phía bạn rất chu đáo dẫn đi xem các xưởng sản xuất, cởi mở trao đổi các kinh nghiệm về xây dựng và vận hành, các vấn đề về công nghệ và thiết bị mà phần lớn được nhập khẩu từ Mỹ và các nước Tây Âu. Thời điểm đó, Mexico mới chế tạo được khoảng 50% thiết bị tĩnh.

Kết quả là sau chuyến thăm Mexico của đoàn Việt Nam, PEMEX cử chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm phát triển ngành dầu khí và mời 2 đoàn cán bộ dầu khí Việt Nam sang PEMEX thực tập trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo và dịch vụ kỹ thuật.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao năng lực, cập nhật trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế. Năng lực của đội ngũ ấy chính là di sản mà ông Nguyễn Văn Biên đã dày công gây dựng.

Khi sang Paris (Pháp) đầu tháng 9-1975, Công ty Elf Aquitaine mời ông Biên và Đại sứ Võ Văn Sung đi thăm cơ sở khai thác, chế biến khí thiên nhiên ở miền Nam nước Pháp, còn tôi ở lại gặp gỡ, làm quen và học hỏi một số chuyên gia Việt kiều đang làm việc cho các công ty thiết kế, viện nghiên cứu công nghệ dầu khí ở Paris, do Đại sứ quán giới thiệu.

Việc đàm phán các hợp đồng của Tổng cục Dầu khí Việt Nam với nước ngoài trong những năm 1976-1978 rất gay go. Thống nhất được quan điểm trong nội bộ Việt Nam đã khó, vì lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ, thuyết phục được đối tác nước ngoài chấp nhận giải pháp của nước chủ nhà cũng không dễ. Ông Biên rất kiên trì động viên và tin tưởng các cán bộ trẻ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế của Tổng cục Dầu khí, như các kỹ sư Đỗ Văn Hà, Vũ Trọng Đức, Đỗ Văn Luyện, những người đã từng được bổ túc về lĩnh vực này, nghiên cứu sâu, tính toán cụ thể, để thuyết phục các bên đi đến ký kết được 8 hợp đồng dầu khí đầu tiên vào năm 1978.

Đối với cán bộ trẻ, ông Biên luôn khích lệ sự tự tin, dám nghĩ, dám làm với những sáng kiến, tìm tòi giải pháp, nhưng cũng khá khắt khe và yêu cầu cao.

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông Nguyễn Văn Biên là ông hỏi rất nhiều về kiến thức chuyên môn. Cách nói chuyện của ông không phải là để kiểm tra trình độ của cán bộ trẻ, mà thể hiện sự cầu thị, muốn học hỏi, hiểu biết thêm về một lĩnh vực mới mẻ đối với ông. Một số câu hỏi của ông làm tôi lúng túng, vì lý thuyết được trang bị ở trường đại học là chưa đủ. Tôi được biết, ông cũng mời nhiều kỹ sư, phó tiến sĩ, chuyên gia Việt kiều ở nhiều lĩnh vực như thiết bị dầu khí, chất dẻo, sợi tổng hợp, khai thác dầu, kinh tế dầu khí… tới nhà riêng để nói chuyện, học hỏi thêm chuyên môn ngoài giờ làm việc.

Từ một cán bộ Mặt trận Việt Minh và làm công tác Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại ở Đông Dương, ông đã vừa làm, vừa học thêm, nắm được kiến thức về công nghiệp hóa chất, sản xuất phân bón, dầu khí, trở thành Viện phó Viện Công nghiệp hóa chất, Phó giám đốc Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, Ủy viên Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí. Đó là một hành trình liên tục học hỏi, bổ túc thêm những kiến thức mới.

Nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

Khi bắt đầu công tác chuẩn bị xây dựng ngành Dầu khí, ông Biên cũng học thêm tiếng Anh, ngoài tiếng Pháp và tiếng Hoa mà ông đã biết từ trước. Ông động viên anh chị em cán bộ Ban Dầu khí học tiếng Anh buổi tối, bản thân ông cũng đi học như mọi người. Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, ông còn học thêm tiếng Nga. Theo ông, làm nghề dầu khí, muốn có trình độ ngang tầm quốc tế, phải biết ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.

Thấy mọi người đi học tản mạn, có người phải vất vả đi rất xa mới có lớp, ông Biên cho tổ chức lớp học ngoài giờ, mời giáo viên đến dạy ngay tại cơ quan, một lớp sơ cấp, một lớp nâng cao. Sau mỗi khóa học, mọi người đăng ký thi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, lấy chứng chỉ trình độ A, B, C.

Cũng nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế và Cục Xây dựng cơ bản của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo nâng cao sau này ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao và phát huy được năng lực, cập nhật được trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế, nhất là từ các công ty dầu lửa đa quốc gia và các tập đoàn công nghệ tiên tiến ở các nước tư bản phương Tây. Năng lực của đội ngũ dầu khí ấy chính là di sản, là dấu ấn mà ông Nguyễn Văn Biên – thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi – đã truyền cảm hứng và dày công gây dựng.

Những năm cuối thập niên 80, thỉnh thoảng tôi ra Hà Nội công tác, hay đến thăm ông Biên ở khu tập thể Giảng Võ. Cả khi ông còn là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch phân vùng và khi đã nghỉ hưu, mỗi lần gặp tôi, ông lại say sưa nói về các chủ đề chiến lược phát triển, hay các cuốn sách đề cập tới những vấn đề lý thú, như sự giao thoa của hai hệ thống, sự trỗi dậy và sụp đổ của các đế chế trên thế giới… Ông luôn truyền cảm hứng, cho tôi niềm đam mê học hỏi không ngừng nghỉ.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

Kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống của ngành Dầu khí Việt Nam, tôi thấy vinh dự được đứng trong đội ngũ đồng nghiệp đã cùng nhau đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp dầu khí đáng tự hào. Tôi luôn biết ơn cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên, một người thầy đã truyền nhiệt huyết và niềm đam mê nghề nghiệp cho những thế hệ người làm dầu khí đầu tiên.

Nội dung: Bỳ Văn Tứ – Nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Thiết kế: Duy Tiến

VR 360