Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Cần sớm đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT

Petrotimes.vn| 10.4

Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây để doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

 “Tác động ngược” của chính sách thuế

Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước nhằm mục tiêu chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động. Chủ trương của Đảng, Nhà nước là giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý. Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây: Do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nên hệ quả là không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Toàn cảnh máy Đạm Phú Mỹ

Theo tính toán của Trung ương Hiệp hội Phân bón, khi doanh nghiệp mua thiết bị hàng hóa, nguyên vật liệu (điện, than, khí) và các dịch vụ khác để sản xuất phân bón sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí giá thành sản xuất, làm giá thành phân bón tăng lên, giảm sức cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Nông dân sẽ phải mua phân bón giá cao hơn, vì phải chịu cộng thuế GTGT đầu vào. Cụ thể, khi thực hiện Luật 71/2014/QH13 thì giá thành phân đạm tăng 7,2%- 7,6%; phân DAP tăng 7,3%- 7,8 %, phân supe lân tăng 6,5%- 6,8%; phân NPK và hữu cơ tăng từ 5,2%-6,1%… so với áp dụng thuế GTGT 5% đối với phân bón. Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tăng giá bán sản phẩm, do vậy người nông dân phải gánh chịu mà không được hưởng lợi từ quy định của Luật thuế 71/2014/QH13. Cụ thể, giá nguyên liệu sản xuất tăng cao lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời giá bán phân bón trong nước phải cạnh tranh với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp liên tục bị sụt giảm lợi nhuận. Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5% – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa. Trong khi đó, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông thì phần lớn có thuế nhập khẩu bằng 0% và đặc biệt hầu hết các nước này có chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp.Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%. Trong khi theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất. Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Có thể khẳng định, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu. Trong khi doanh nghiệp trong nước giảm lợi nhuận để kìm giá phân bón thì lượng phân bón nhập khẩu tăng dần từng năm, nguyên nhân là giá các mặt hàng phân bón trên thế giới đều giảm bởi giá nguyên liệu đang ở mức thấp, giá than, giá khí đều thấp, khiến giá phân bón nhập khẩu giảm trung bình 10-20%. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất phân bón trong nước không thấp, giá than, giá khí không giảm, cộng với phải chịu ảnh hưởng từ Luật 71/2014/QH13, nên nhiều nhà máy sản xuất phân bón phải cắt giảm công suất và giảm giá sản phẩm tối đa để cạnh tranh.

Không thể để ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”

Nhiều doanh nghiệp sản xuất phân bón cho rằng, việc áp dụng Luật 71/2014/QH13 khiến mỗi doanh nghiệp mỗi năm thiệt hại cả trăm tỉ đồng. Để sản xuất 800.000 tấn phân bón mỗi năm, nhà máy phải nhập khẩu nguồn khí, đầu tư thiết bị tốn kém hàng trăm tỉ đồng. Tuy nhiên, phân bón không chịu thuế GTGT nên thuế của các nguyên liệu, vật tư cho sản xuất, sửa chữa máy móc, thiết bị không được khấu trừ, khiến các doanh nghiệp buộc phải đưa vào chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm. Điều này không hề có lợi cho cả doanh nghiệp sản xuất phân bón lẫn người nông dân.

Xuất bán tại Nhà máy Đạm Cà Mau

Ngoài ra, việc loại bỏ thuế GTGT đối với phân bón còn làm giảm đóng góp thuế GTGT của doanh nghiệp sản xuất phân bón cho ngân sách Nhà nước. Trong khi chi phí doanh nghiệp tăng lên, nguồn thu ngân sách Nhà nước lại giảm đi. Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.Hiện nay, hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón (đặc biệt là máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu của các nhà bản quyền) đều chịu thuế GTGT 10%. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Từ khi có Luật số 71/2014/QH13, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, tăng giá trị tài sản cố định. Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, 02 đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón khi thực hiện mở rộng đầu tư đã bị ảnh hưởng bởi Luật 71 dẫn đến thuế GTGT đầu vào trong quyết định đầu tư không được khấu trừ, ghi tăng tài sản, cụ thể: Tại Tổng công ty Phân bón Hóa chất Dầu khí – (PVFCCo) Dự án NPK khoảng 180 tỷ. Tại Công ty cổ phần Phân bón Cà Mau (PVCFC) Dự án (NPK) khoảng 80 tỷ đồng không được khấu trừ phải ghi nhận tăng tổng giá trị đầu tư (thuế GTGT không được khấu trừ từ năm 2015 đến 2018 khoảng 25,33 tỷ đồng).

Chính sách thuế bất cập có nguy cơ đẩy ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”, ngược xu thế, từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu. Về dài hạn nếu không có sự thay đổi thì họ buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh sang lĩnh vực khác. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì lẽ đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng và đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Thực tế, từ tháng 8-2017, Bộ Tài chính từng đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và dự thảo Luật sau đó đã quy định thuế suất cho sản phẩm phân bón là 5%, nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua do còn một số vướng mắc. 

Chính vì vậy, để góp phần tháo gỡ khó khăn kịp thời và tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà sản xuất phân bón – trong đó có 2 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hơn lúc nào hết Nhà nước cần xem xét quyết định cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 0% (không phần trăm) cho sản phẩm phân bón cho đến khi Luật sửa đổi Luật 71/2014/QH13 có hiệu lực./.

T.T – N.P 

Cấp thiết sửa thuế GTGT phân bón để gỡ khó cho ngành nông nghiệp

Chính sách thuế Giá trị gia tăng (GTGT – VAT) bất hợp lý với ngành sản xuất kinh doanh phân bón đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến ngành nông nghiệp.

1. Từ năm 2015, việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất Giá trị gia tăng (GTGT) 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5% – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa.

Trong khi đó, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông thì phần lớn có thuế nhập khẩu bằng 0% và đặc biệt hầu hết các nước này có chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp. Doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước đang bị thiệt thòi đủ đường.

Việc từ chỗ thuộc diện áp dụng thuế GTGT thuế suất 5% chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT nghe qua tưởng như sẽ có lợi cho doanh nghiệp (DN) và nông dân, nhưng thực ra không phải như vậy. Trước đây sản xuất phân bón chịu thuế đầu vào chủ yếu là 10%, thuế đầu ra 5%, tuy nhiên thuế đầu vào được khấu trừ và thậm chí hoàn thuế nếu mức thuế này cao hơn thuế đầu ra. Giờ đây khi áp dụng quy định mới thì DN không được khấu trừ thuế đầu vào, mà phải hạch toán vào chi phí.

Điều này làm cho giá thành sản phẩm phân bón tăng từ 5 – 8%, dẫn đến giá phân bón đến tay nông dân cũng bị tăng theo. Và kéo theo đó là chi phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của nông dân cũng tăng lên đáng kể, do phân bón là vật tư thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 40-50% tổng chi phí đầu tư.

Vì thế, sự thay đổi chính sách thuế GTGT theo Luật 71/2014/QH13 đã không thể giúp nông dân hưởng lợi từ giá phân bón như mục tiêu đề ra ban đầu của chính sách thuế này.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Đối với PVFCCo, tùy theo tình hình giá nguyên liệu đầu vào mà tổng số chi phí tăng lên do không được khấu trừ thuế GTGT là 300-370 tỉ đồng/năm. Trong 5 năm (2015-2019) tổng số tiền thuế không được khấu trừ mà phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của PVFCCo là 1.637 tỉ đồng.

Ngoài ra, chính sách thuế GTGT hiện tại không chỉ làm tăng giá thành sản xuất của doanh nghiệp mà còn tác động tiêu cực đến cả ngành sản xuất phân bón trong nước. Theo đó, Việt Nam sẽ trở thành một nước có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu, nguy cơ là thị trường tiêu thụ các sản phẩm phân bón được sản xuất từ công nghệ lạc hậu của các nước khác khi các sản phẩm này ở nước họ không tiêu thụ được và phải xuất khẩu sang Việt Nam. Các hoạt động đầu tư mới vào công nghệ sản xuất do không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nên làm tăng chi phí đầu tư, kéo theo hiệu quả kinh doanh thấp, dẫn đến sẽ không có doanh nghiệp nào dám đầu tư công nghệ mới, trong khi đó, phân bón nhập khẩu lại cạnh tranh hơn sản phẩm cùng công nghệ sản xuất trong nước.

2. Ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp, nông dân thì nguồn thu ngân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng khi doanh nghiệp FDI có nhà máy sản xuất phân bón đặt tại Việt Nam cũng “lao đao” vì chính sách thuế VAT bất hợp lý này.

Đại diện Công ty Phân bón Baconco từng cho biết, mỗi năm công ty này bị thiệt hại khoảng 1 triệu USD do không được khấu trừ thuế. Đây không chỉ là gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp mà còn kéo theo việc đóng góp vào ngân sách Nhà nước Việt Nam của công ty bị giảm sút nghiêm trọng, từ mức 5,3 triệu USD/năm (thời điểm trước khi Luật 71/2014/QH13 có hiệu lực) xuống còn 2,4 triệu USD/năm.

Đặc biệt, Luật 71/2014/QH13 còn đang tạo điều kiện cho phân bón nhập khẩu tràn vào Việt Nam một cách đột biến. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, lượng phân bón nhập khẩu các loại năm 2014 (thời điểm trước khi Luật 71/2014/QH13 được áp dụng) chỉ là 3,7 triệu tấn thì đến năm 2017 con số này đã là hơn 5,6 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn, riêng đạm urê tăng gần 2,5 lần.

Với việc hưởng lợi từ thuế nhập khẩu của Việt Nam giảm theo cam kết của Hiệp định Thương mại tự do (FTA), doanh nghiệp phân bón nước ngoài càng có điều kiện hạ giá bán phân bón mạnh để cạnh tranh bằng mọi giá với phân bón nội địa. Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong khu vực với công nghệ cũ đều được “hậu thuẫn” để có thể “chen chân” vào thị trường Việt Nam, trong khi doanh nghiệp trong nước lại chịu bất công như trên. Ngành sản xuất phân bón trong nước sẽ dần bị phân bón nhập khẩu “thâu tóm” nếu như Luật 71 không sớm được sửa đổi.

Các chuyên gia kinh tế và nông nghiệp đã đưa ra cảnh báo rằng, chính sách thuế có nguy cơ đẩy ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”, ngược xu thế, từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu. Về dài hạn nếu không có sự thay đổi thì họ buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh sang lĩnh vực khác. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì lẽ đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng và đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Trong hoàn cảnh nền nông nghiệp và nông dân cả nước đang lâm vào khó khăn do dịch bệnh COVID-19, biến đổi khí hậu, hạn mặn ….kéo dài và nghiêm trọng như hiện nay, hơn lúc nào hết, việc sửa đổi, đưa phân bón trở thành mặt hàng chịu thuế VAT chính là một trong những biện pháp hỗ trợ thiết thực và quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp – lĩnh vực được coi là trụ đỡ khi nền kinh tế khó khăn.

Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích

Đó là phương châm chỉ đạo hoạt động trong tháng 4 và quý II/2020 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng quán triệt tại cuộc họp giao ban ngày 8/4/2020, nhằm đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tháng 3 và quý I/2020, triển khai nhiệm vụ tháng 4 năm 2020; cùng dự có các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các Ban chuyên môn Tập đoàn, Tổng giám đốc/Giám đốc các đơn vị thành viên, Chi nhánh của Tập đoàn. Buổi giao ban được trực tuyến tại 10 điểm cầu trong cả nước.

Ban Tổng Giám đốc PVN tại buổi giao ban

Hội nghị đã nghe các báo cáo cụ thể về tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn và các đơn vị trong tháng 3 và quý I/2020, việc thực hiện nhiệm vụ được giao và kết quả giải quyết kiến nghị của đơn vị trong kỳ họp trước. Bên cạnh đó, lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo tóm tắt về việc triển khai các giải pháp ứng phó với tác động kép từ giá dầu giảm sâu và dịch bệnh Covid-19 tại từng đơn vị, định hướng triển khai thực hiện nhiệm vụ của các tháng tiếp theo.

Trong bối cảnh ngành Dầu khí phải chịu tác động kép từ giá dầu giảm sâu (kỷ lục trong gần 20 năm trở lại đây), cùng với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, PVN và các đơn vị đã tập trung triển khai gói giải pháp chung của Tập đoàn và gói giải pháp riêng cho từng lĩnh vực/từng khối đơn vị. 

Theo đó, toàn Tập đoàn đã quán triệt tinh thần bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động; từ đó tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị, tối ưu nguồn lực; triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động. Rà soát, cắt giảm chi phí nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân từ lãnh đạo đến người lao động. Các đơn vị trong Tập đoàn tích cực phối hợp với nhau để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội, nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I/2020. Hoạt động sản xuất tại các công trình dầu khí, nhà máy, dự án được đảm bảo an toàn, ổn định, không có trường hợp nào bị gián đoạn do dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn do giá dầu sụt giảm nghiêm trọng cùng sự ảnh hưởng của Covid-19, các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn tất yếu không đạt như kế hoạch.

Các đại biểu dự giao ban tại Hà Nội

Tại buổi giao ban, lãnh đạo Tập đoàn và Tổng giám đốc các đơn vị đã cùng trao đổi, đề xuất các phương án giải quyết, tháo gỡ các khó khăn còn tồn tại, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao những tháng tiếp theo trong năm. Đặc biệt, tập trung vào các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí, xây dựng các phương án tối ưu các nguồn lực nhằm đảm bảo duy trì hoạt động trong bối cảnh giá dầu giảm sâu như hiện nay.

Sau khi nghe các báo cáo, trao đổi, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng đánh giá cao các kết quả mà Tập đoàn và các đơn vị đã đạt được trong tháng 3 và quý I/2020; đồng thời ghi nhận nỗ lực của tập thể người lao động PVN trong bối cảnh cả Tập đoàn đang ở giai đoạn khó khăn nhất lịch sử.

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi giao ban

Trong thời gian tới, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện một số nhóm nhiệm vụ cụ thể trong tháng 4 và quý II/2020 với phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”.

Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh tháng 4 tới là tháng có nhiều biến động do hệ quả của đại dịch Covid-19, sự suy thoái kinh tế dẫn đến nhu cầu của thị trường giảm sẽ kéo theo biến động giá cả nên PVN cần tập trung quản trị biến động, đề ra các giải pháp cụ thể trong thời điểm này. Đồng thời, tiếp tục tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực (cắt giảm chỗ chưa cần thiết, ngược lại tăng chi cho nhiệm vụ cấp bách), để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh được hiệu quả.

Đối với các đơn vị sản xuất, trong bối cảnh nhu cầu thị trường đang thấp, hàng hóa tồn kho lớn nên các đơn vị phải tạo liên kết, thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhanh để vượt khó. 
Bên cạnh đó, bối cảnh hiện tại cũng nảy sinh các cơ hội, nên cần nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tiếp tục rà soát, thay đổi, sáng tạo, thường xuyên cập nhật thông tin để có giải pháp quản trị, điều hành kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị cần tiếp tục tăng cường phối hợp, chia sẻ khó khăn với nhau, tăng cường dự báo, nhận diện diễn biến thị trường, để từ đó giảm thiểu các tác động xấu. Trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến khó lường, PVN cùng các đơn vị cần tập trung phòng vệ, chống lây lan dịch bệnh Covid-19, nhằm đảm bảo môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu về đích các chỉ tiêu nhiệm vụ một cách an toàn.

Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích

Đó là phương châm chỉ đạo hoạt động trong tháng 4 và quý II/2020 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng quán triệt tại cuộc họp giao ban ngày 8/4/2020, nhằm đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tháng 3 và quý I/2020, triển khai nhiệm vụ tháng 4 năm 2020; cùng dự có các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các Ban chuyên môn Tập đoàn, Tổng giám đốc/Giám đốc các đơn vị thành viên, Chi nhánh của Tập đoàn. Buổi giao ban được trực tuyến tại 10 điểm cầu trong cả nước.

Ban Tổng Giám đốc PVN tại buổi giao ban

Hội nghị đã nghe các báo cáo cụ thể về tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn và các đơn vị trong tháng 3 và quý I/2020, việc thực hiện nhiệm vụ được giao và kết quả giải quyết kiến nghị của đơn vị trong kỳ họp trước. Bên cạnh đó, lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo tóm tắt về việc triển khai các giải pháp ứng phó với tác động kép từ giá dầu giảm sâu và dịch bệnh Covid-19 tại từng đơn vị, định hướng triển khai thực hiện nhiệm vụ của các tháng tiếp theo.

Trong bối cảnh ngành Dầu khí phải chịu tác động kép từ giá dầu giảm sâu (kỷ lục trong gần 20 năm trở lại đây), cùng với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, PVN và các đơn vị đã tập trung triển khai gói giải pháp chung của Tập đoàn và gói giải pháp riêng cho từng lĩnh vực/từng khối đơn vị. 

Theo đó, toàn Tập đoàn đã quán triệt tinh thần bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động; từ đó tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị, tối ưu nguồn lực; triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động. Rà soát, cắt giảm chi phí nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân từ lãnh đạo đến người lao động. Các đơn vị trong Tập đoàn tích cực phối hợp với nhau để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội, nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I/2020. Hoạt động sản xuất tại các công trình dầu khí, nhà máy, dự án được đảm bảo an toàn, ổn định, không có trường hợp nào bị gián đoạn do dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn do giá dầu sụt giảm nghiêm trọng cùng sự ảnh hưởng của Covid-19, các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn tất yếu không đạt như kế hoạch.

Các đại biểu dự giao ban tại Hà Nội

Tại buổi giao ban, lãnh đạo Tập đoàn và Tổng giám đốc các đơn vị đã cùng trao đổi, đề xuất các phương án giải quyết, tháo gỡ các khó khăn còn tồn tại, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao những tháng tiếp theo trong năm. Đặc biệt, tập trung vào các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí, xây dựng các phương án tối ưu các nguồn lực nhằm đảm bảo duy trì hoạt động trong bối cảnh giá dầu giảm sâu như hiện nay.

Sau khi nghe các báo cáo, trao đổi, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng đánh giá cao các kết quả mà Tập đoàn và các đơn vị đã đạt được trong tháng 3 và quý I/2020; đồng thời ghi nhận nỗ lực của tập thể người lao động PVN trong bối cảnh cả Tập đoàn đang ở giai đoạn khó khăn nhất lịch sử.

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi giao ban

Trong thời gian tới, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện một số nhóm nhiệm vụ cụ thể trong tháng 4 và quý II/2020 với phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”.

Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh tháng 4 tới là tháng có nhiều biến động do hệ quả của đại dịch Covid-19, sự suy thoái kinh tế dẫn đến nhu cầu của thị trường giảm sẽ kéo theo biến động giá cả nên PVN cần tập trung quản trị biến động, đề ra các giải pháp cụ thể trong thời điểm này. Đồng thời, tiếp tục tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực (cắt giảm chỗ chưa cần thiết, ngược lại tăng chi cho nhiệm vụ cấp bách), để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh được hiệu quả.

Đối với các đơn vị sản xuất, trong bối cảnh nhu cầu thị trường đang thấp, hàng hóa tồn kho lớn nên các đơn vị phải tạo liên kết, thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhanh để vượt khó. 
Bên cạnh đó, bối cảnh hiện tại cũng nảy sinh các cơ hội, nên cần nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tiếp tục rà soát, thay đổi, sáng tạo, thường xuyên cập nhật thông tin để có giải pháp quản trị, điều hành kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị cần tiếp tục tăng cường phối hợp, chia sẻ khó khăn với nhau, tăng cường dự báo, nhận diện diễn biến thị trường, để từ đó giảm thiểu các tác động xấu. Trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến khó lường, PVN cùng các đơn vị cần tập trung phòng vệ, chống lây lan dịch bệnh Covid-19, nhằm đảm bảo môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu về đích các chỉ tiêu nhiệm vụ một cách an toàn.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tự tin đương đầu với “khủng khoảng kép”

Lần thứ 2 trong gần 5 năm qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) phải đối phó với “khủng hoảng kép” và niềm tin chiến thắng lại bùng cháy.

2015-2018: Giá dầu lao dốc, la liệt giàn khoan nằm phơi nắng

Lần trước, từ giữa năm 2015 đến cuối năm 2018, giá dầu thế giới lao dốc đã đẩy cả thị trường khai thác dầu trên toàn cầu vào khủng hoảng và dĩ nhiên, PVN cũng không tránh khỏi. Hàng loạt dự án phải dừng, giãn tiến độ. Nhiều đơn vị ở khâu thượng nguồn đang từ đỉnh cao rơi xuống vực thẳm.

Cả tập đoàn khủng hoảng vì giá dầu. Nhưng nguy hiểm hơn là khủng hoảng về niềm tin. Hàng loạt cán bộ cao cấp của tập đoàn và các đơn vị thành viên vướng lao lý, khiến cho lòng tự hào, niềm tin và ý chí của người ngành dầu khí suy sụp nghiêm trọng.

Trong bối cảnh khủng hoảng kép ấy, PVN điêu đứng. Thêm vào sản lượng sụt giảm, kinh phí dành cho tìm kiếm, thăm dò cũng hạn chế hơn nên lượng dự trữ phát hiện mới rất thấp. Trong nghề khai thác dầu khí, muốn phát triển an toàn thì trữ lượng dầu dự trữ phải gấp 3 lần dầu khai thác được.

Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng đó cũng là cơ hội để tập đoàn nhìn lại mình, để thấy rõ vô số điểm yếu, những khuyết tật trong cả hệ thống. Và trong gần ba năm, từ đầu 2017 đến đầu năm 2019, PVN tiến hành cuộc “dọn dẹp” ít có trong lịch sử ngành.

Chiến dịch “Tái cơ cấu” được bắt đầu từ chính cơ quan công ty mẹ tập đoàn rồi đến từng đơn vị… Nhiều phòng ban phải sáp nhập, nhiều cán bộ phải xuống chức. Vậy mà không xảy ra kiện tụng, không xảy ra những cuộc tranh quyền cướp chức. Mọi người đều cơ bản đồng thuận với những  quyết sách của lãnh đạo tập đoàn và đều thấu hiểu: “Phải cải tổ. Cải tổ để phát triển”.

Giàn PVD 11 trên sa mạc Sahara

Những phong trào cải tiến quản lý sản xuất, cải tiến khoa học kỹ thuật được phát động tới từng người lao động và thực sự đã trở thành phong trào rất có chiều sâu. Nếu tính đúng, tính đủ thì hàng năm, các đơn vị của tập đoàn đã tiết kiệm được hàng trăm triệu USD. Loại sáng kiến giúp tiết kiệm được vài trăm ngàn USD nhiều không đếm xuể.

Một số đơn vị từng lâm vào cảnh “dở sống dở chết” đã vươn được ra nước ngoài bằng những cuộc cạnh tranh sòng phẳng và ” đại thắng” như PV Drilling. Đến nay, tất cả các giàn khoan và cả giàn tiếp trợ PVD V đã có được những hợp đồng dài hạn ở nước ngoài, trở thành  doanh nghiệp danh tiếng ở châu Á.

Hoặc như Công ty Chế tạo cơ khí Hàng hải ( PTSC M&C) của Tổng Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí ( PTSC) trở thành nhà chế tạo giàn khoan và các cụm cơ khí công trình biển có tiếng trên thế giới, được nhiều tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới tin tưởng giao chế tạo và lắp đặt giàn khai thác bằng hình thức chỉ định thầu.

Thành quả  PVN làm được trong những năm từ 2017 đến hết năm 2018 là rất tích cực. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự bứt phát ngoạn mục vào năm 2019, đó là hoàn thành vượt mức kế hoạch tất cả các chỉ tiêu về sản suất, kinh doanh. Một mình PVN nộp Ngân sách Nhà nước bằng tất cả các tập đoàn, doanh nghiệp, ngân hàng Nhà nước khác công lại.

Tự tin chiến thắng “giặc Covid-19″

Những tưởng năm 2020, tập đoàn sẽ lại ” chiến thắng” như năm 2019, thì lại phải bất ngờ chiến đấu với “giặc Covid-19”. Và khi việc chống giặc còn đang quyết liệt thì một đòn chí tử giáng xuống là giá dầu đột ngột giảm tới quá nửa…Có lúc giảm xuống thấp nhất trong hơn 10 năm qua.

Do ảnh hưởng của “giặc Covid-19”, mức tiêu thụ xăng dầu giảm mạnh. Lọc hóa Dầu Bình Sơn tồn đọng hàng trăm ngàn tấn xăng máy bay; thậm chí xăng xe máy, ô tô tiêu thụ còn rất chậm. Đạm Cà Mau, Đạm Phú Mỹ điêu đứng bởi miền Tây Nam Bộ hạn hạn quá nặng. Vietsovpetro, Tổng Công ty Thăm dò khai thác dầu khí ( PVEP) là những đơn vị khai thác lập tức lâm vào cảnh “làm cũng chết mà không làm cũng chết” bởi giá dầu giảm?

Nhưng lần này, PVN đã chủ động “đánh giặc” với sự bình tĩnh, tự tin và cũng rất linh hoạt.

Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã và đang chủ động, tích cực, khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ứng phó, với mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động ngành Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TV về thực hiện phòng chống, khống chế dịch bệnh Covid-19 và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách ứng phó trong tình hình giá dầu sụt giảm. Chủ động các phương án hành động để phối hợp cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể để triển khai thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ, trang bị đầy đủ thiết bị cần thiết để phòng chống dịch và thực hiện các giải pháp đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ quan Tập đoàn.

Giàn tự nâng PVD VI về đến Vũng Tàu

Từ ngày 1/4/2020, các đơn vị thành viên đã áp dụng chế độ làm việc đặc biệt nhằm ứng phó với diễn biến khó lường của dịch bệnh Covid-19. Phần lớn Các cán bộ, nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà. Một số đơn vị có đặc thù riêng như Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) đã lên các kịch bản và giải pháp ứng phó để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Để ứng phó, hiện nay công tác đổi ca được thực hiện ngay tại nước sở tại. Cán bộ nhân viên trên giàn tạm thời sẽ không về nước khi hết ca, và sẽ tuân thủ các quy định về an toàn tại nước sở tại như thực hiện tự cách ly cho đến ca làm việc tiếp theo.

Lãnh đạo PVN luôn xác định mục tiêu cao nhất là bảo vệ người lao động. Hơn lúc nào hết, người lao động Dầu khí cần phát huy cao nhất tinh thần vượt khó, vươn lên, chung sức, chung lòng góp phần vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử của tập đoàn.

Thực tế đã chứng minh, càng trong khó khăn, gian nan thì ý chí, nghị lực, bản lĩnh của những người đi tìm lửa càng được phát huy và tỏa sáng. Mỗi người lao động Dầu khí sẽ luôn tận tâm, tận lực, tuyệt đối tuân thủ sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, của Lãnh đạo Tập đoàn và Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 các cấp; góp phần thiết thực, hiệu quả để vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử – ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam.

Kết thúc quý 1 năm 2020, tập thể lao động quốc tế Việt – Nga BIENDONG POC đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức đầu năm 2020 để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trọng tâm quý I: Đảm bảo SXKD tuyệt đối an toàn, liên tục, hiệu quả với chỉ số tổng tỉ lệ thương tật được ghi nhận (TRIR) là 0 và tuyệt đối không có sự cố nào gây mất thời gian lao động (LTI) cũng như ảnh hưởng đến môi trường. Hệ số làm việc của các giàn khai thác đạt 99,7%; sản lượng khí đạt 113% kế hoạch quý và 23% so với kế hoạch năm, sản lượng condensate đạt 142% kế hoạch quý và 33% kế hoạch năm.

Mục tiêu tổng quát của Công ty trong quý II tới là duy trì hoạt động sản xuất tuyệt đối an toàn, bảo vệ tốt nhất cho sức khoẻ và môi trường làm việc của người lao động, nhất là trong giai đoạn cao điểm của dịch bệnh.

Áp dụng công nghệ mới nâng cao năng lực quản trị, cải tiến quy trình nội bộ theo hướng hiệu quả hơn nữa. Cùng với đó, BIENDONG POC cũng sẽ đẩy mạnh hơn nữa các công tác tìm kiếm, thăm dò, mở rộng sản xuất để bù đắp sản lượng thiếu hụt trong thời gian tới.   

Theo VTCNews

Căng mình chống dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp: Nộp ngân sách Nhà nước toàn PVN trong quý I/2020 đạt 25,3% kế hoạch năm

05/04/2020

Với một loạt các giải pháp chủ động, đồng bộ, linh hoạt trong điều hành, sản xuất nhằm ứng phó hiệu quả tác động kép từ dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp, cộng với tinh thần đoàn kết, “đồng cam cộng khổ” của người lao động dầu khí, các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trong tháng 3 nói riêng và quý I/2020 nói chung đều vượt mức kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, hệ quả tất yếu là các chỉ tiêu tài chính của PVN đã không đạt được như kế hoạch đề ra.

Giàn Công nghệ trung tâm số 2 mỏ Bạch Hổ.

3 tháng đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới và trong đó, Việt Nam đang phải chịu những hệ lụy trực tiếp ở mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khi các chuỗi giá trị đang bị tác động nghiêm trọng vì sự gián đoạn cung cầu hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu. Trong bối cảnh đó, giá dầu thô trên thị trường thế giới sụt giảm nghiêm trọng tạo khủng hoảng kép cho ngành Dầu khí.

Trước tình hình đó, PVN cùng các đơn vị thành viên đã chủ động, tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó nhằm mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng, tác động của đại dịch và cú sốc giá dầu. Toàn thể cán bộ công nhân viên (CBCNV) lao động Tập đoàn đã và đang tích cực hưởng ứng, chung tay, góp sức cùng Tập đoàn vượt qua giai đoạn khó khăn, thử thách này. Cụ thể:

Tổ chức Đảng, lãnh đạo doanh nghiệp/đoàn thể các cấp trong toàn Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã thống nhất triển khai, động viên cả hệ thống chính trị thực hiện phòng, chống, khống chế dịch bệnh Covid-19 và thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cấp bách ứng phó trong tình hình giá dầu sụt giảm. Tổng giám đốc Tập đoàn đã liên tiếp ban hành và triển khai nhiều chỉ thị, kế hoạch về thực hiện nhiệm vụ, các giải pháp cấp bách nhằm ứng phó với tác động kép của dịch bệnh Covid-19 và giá dầu sụt giảm.

Thực hiện Lời kêu gọi của Tổng Bí thư – Chủ tịch nước và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn đã khẩn trương thực hiện phương án để cán bộ làm việc trực tuyến tại nhà và chỉ bố trí một bộ phận “tối giản” làm việc trực tiếp tại trụ sở. Phát huy tinh thần làm việc nâng cao năng suất lao động, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tránh lãng phí… đối với các CBNV trực tiếp sản xuất, làm việc tại trụ sở cũng như làm việc trực tuyến tại nhà.


Nhà máy Lọc dầu Dung Quất

Tập đoàn và các đơn vị quán triệt tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị chi phí tối ưu, triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động (ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường sáng kiến, sáng chế, giải pháp cải tiến kỹ thuật …). Rà soát, cắt giảm chi phí có trong kế hoạch nhưng chưa thực sự cần thiết, không đề xuất các khoản chi phí phát sinh (nếu không bắt buộc phải xử lý) nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân người lao động. Tích cực phối hợp với các đơn vị trong Tập đoàn, trong nước để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt trong toàn PVN, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I năm 2020, trong đó:

Tổng sản lượng khai thác quy dầu tháng 3 vượt 8,1% so với kế hoạch tháng, tính chung quý I vượt 10,1% so với kế hoạch quý I và bằng 26,6% kế hoạch năm.

Sản xuất điện tháng 3 đạt 2,097 tỷ kWh, vượt 3,8% kế hoạch tháng 3, tính chung quý I đạt 5,33 tỷ kWh, đạt 100% kế hoạch quý I và bằng 24,7% kế hoạch năm.

Sản xuất đạm tháng 3 đạt 136,9 nghìn tấn, tính chung quý I đạt 441,8 nghìn tấn, vượt 5,5% kế hoạch quý I và bằng 28,3% kế hoạch năm; sản xuất xăng dầu tháng 3 đạt 1,149 triệu tấn, vượt 1,7% kế hoạch tháng, tính chung quý I đạt 3,415 triệu tấn, vượt 2,5% kế hoạch quý I và bằng 28,9% kế hoạch cả năm.


Một góc Nhà máy điện Nhơn Trạch 1.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chịu tác động kép từ dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp, các chỉ tiêu tài chính của PVN đã không đạt được như kế hoạch. Theo PVN, giá dầu thô trung bình tháng 3/2020 giảm 20USD so với tháng 2/2020 (≈ giảm 33%); giá dầu trung bình quý I/2020 giảm 3,8USD/thùng (≈ giảm 6%) so với mức giá kế hoạch năm (60USD/thùng), giảm 9,1USD/thùng (≈ giảm 14%) so với mức giá trung bình quý I năm 2019 (65,3USD/thùng).

Chịu những tác động nặng nề đó, tổng doanh thu của toàn PVN tháng 3 đạt 49 ngàn tỷ đồng, bằng 80,8% kế hoạch tháng; tính chung quý I/2020 đạt 165 ngàn tỷ đồng, bằng 90,9% kế hoạch quý I và bằng 25,7% kế hoạch năm. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn tháng 3 đạt 6,5 ngàn tỷ đồng, bằng 90,6% kế hoạch tháng; tính chung quý I đạt 20,8 ngàn tỷ đồng, bằng 89,7% so với kế hoạch quý I và bằng 25,3% kế hoạch năm.

PVN đang trong giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử. Nhiều đơn vị trong Tập đoàn đang có nguy cơ mất cân đối, thậm chí là thua lỗ nếu như giá dầu không được cải thiện. Chuỗi giá trị của PVN cũng theo đó sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nhưng bên cạnh những khó khăn, thách thức đó, PVN cũng nhận rõ đây là cơ hội để Tập đoàn đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án đầu tư còn dang dở; mở rộng phạm vi và quy mô đầu tư, gia tăng dự trữ thông qua việc mua dầu thô, thậm chí là mua lại các mỏ khi giá dầu xuống thấp; tăng sở hữu tại các doanh nghiệp có tài sản tốt, hoạt động hiệu quả…

Với tinh thần đó, PVN đang quyết liệt chỉ đạo toàn Tập đoàn triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp về quản trị, đầu tư, tài chính, thị trường và cơ chế chính sách. Tuy nhiên, để những nhóm giải pháp này phát huy hiệu quả cao nhất, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững khi thị trường ấm lên, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế, PVN rất cần sự vào cuộc hỗ trợ của các Bộ, ngành trong việc tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc mà Tập đoàn đang phải đối diện; đồng thời tạo cơ chế cho PVN được chủ động trong việc sử dụng các nguồn lực của mình…

Người lao động Dầu khí đồng cam cộng khổ vượt gian khó

Đại dịch do virus corona chủng mới (Covid-19) đang diễn biến cực kỳ nguy hiểm ở trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Giá dầu thô trên thị trường thế giới sụt giảm nghiêm trọng tạo nên khủng hoảng kép cho ngành Dầu khí. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, thách thức chưa từng thấy. Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã và đang chủ động, tích cực, khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ứng phó, với mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, với tâm thế luôn vững tin, người lao động Dầu khí trên khắp các công trường, công trình biển, nhà máy, xí nghiệp, bằng hành động cụ thể, đã và đang chung tay, góp sức cùng Tập đoàn quyết tâm vượt qua giai đoạn khó khăn lịch sử này…

Anh Nguyễn Tuấn Nghĩa – Giàn phó Giàn khai thác PQP – HT, Công ty điều hành Dầu khí Biển Đông (BIENDONG POC): Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát, Ban lãnh đạo công ty đã khẩn trương tiến hành hàng loạt các biện pháp ứng phó và tăng cường phòng chống, kiểm soát dịch bệnh trên tất cả hoạt động SXKD trên bờ và ngoài biển. Đối với CBNV làm việc ngoài giàn, trước khi ra biển, tất cả đều phải kê khai lịch trình di chuyển, nơi cư trú để kiểm soát dịch bệnh. Tất cả phải đảm bảo được cách ly tại nhà trước khi đi biển 14 ngày.

Để hạn chế di chuyển, chúng tôi tăng ca làm việc từ 3 tuần lên 4 tuần, và các nhà thầu cũng hạn chế ra giàn nếu không thực sự cấp thiết. Chính vì vậy, có những việc của nhà thầu, nay các anh em trên giàn phải thay nhau gánh vác. Khối lượng công việc tăng lên đáng kể và luôn phải cẩn trọng trong sinh hoạt, tiếp xúc công việc hàng ngày khiến tâm lý anh em cũng không tránh khỏi xao động. Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của ban lãnh đạo công ty, chúng tôi được tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để vừa hoàn thành tốt công việc của mình, vừa phòng tránh dịch một cách hiệu quả. Cố định 2 ngày trong tuần, tất cả CBNV đều được bác sĩ kiểm tra sức khỏe. Đặc biệt, trên giàn đã được thiết kế bổ sung một số phòng cách ly đề phòng có trường hợp nghi nhiễm, hệ thống thông gió của phòng này được tách rời khỏi hệ thống chung của giàn để đảm bảo an toàn tối đa cho khu vực bên ngoài… Trong trường hợp ngoài giàn có dịch phải khử khuẩn, trong ca có người nghi nhiễm có thể bị cách ly cả ca, Ban lãnh đạo cũng đã có phương án chia CBNV thành 3 ca để duy trì sản xuất.

Trong bối cảnh toàn ngành đang chịu tác động kép của đại dịch Covid-19 cùng cú sốc giá dầu sụt giảm, chúng tôi hiểu rõ những khó khăn mà đơn vị mình đang gặp phải. Ban lãnh đạo công ty đang nỗ lực hết sức để vừa có thể bảo vệ sức khỏe của CBNV, vừa đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn, liên tục và hiệu quả, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động. Chính vì vậy, dù phải tăng thêm thời gian đi ca, kiêm nhiệm thêm nhiều công việc, anh em chúng tôi đều nhất trí, đồng lòng, thậm chí là càng quyết tâm, nỗ lực hơn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, vận hành giàn hiệu quả, an toàn tuyệt đối, góp sức cùng công ty vượt qua khoảng thời gian khó khăn hiện tại.”

Anh Nguyễn Trường Sơn – thợ điện giàn nén khí trung tâm, Xí nghiệp Khai thác các Công trình khí (Vietsovpetro): Sự giảm sâu của giá dầu và đại dịch Covid-19 đang lan rộng hiện nay. Anh em chúng tôi, những CBCNV đang trực tiếp lao động sản xuất trên công trình biển của Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro luôn cảm thấy an tâm và tin tưởng giá dầu sẽ đi lên trong thời gian tới và đại dịch Covid-19 sẽ bị đẩy lùi, kinh tế thế giới sớm hồi phục. Cùng chung tay chia sẻ khó khăn với cộng đồng xã hội, với ngành Dầu khí. Trong lúc này, tôi nghĩ mỗi người lao động như chúng tôi phải nâng cao vai trò trách nhiệm hơn nữa, phát huy sự sáng tạo trong lao động sản xuất để thúc đẩy công tác sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giúp đơn vị nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, bình ổn công việc.

Thực hiện nghiêm túc việc cách ly toàn xã hội nên tất cả các chuyến bay của Vietsovpetro đã tạm hoãn qua ngày 15/4, như vậy, ca biển của một số anh em CBCNV chúng tôi phải kéo dài hơn dự kiến (nhiều anh em đã đi đủ 21 ngày tuy nhiên nay lại phải kéo dài thêm 15 ngày nữa) xong anh em vẫn an tâm công tác, mọi công việc trên giàn nén khí của chúng tôi vẫn tiến hành bình thường để đảm bảo mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kể cả ngày Giỗ Tổ. Chỉ mong sự chung tay đóng góp của mỗi cá nhân sẽ sớm đẩy lùi được đại dịch để trả lại sự bình an cho toàn xã hội và một phần do công việc đặc thù của ngành Dầu khí đòi hỏi mỗi CBCNV trên các giàn khoan luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm với công việc khi giá dầu bị tụt giảm mạnh như hiện nay. Mỗi người lao động Dầu khí chúng ta hãy luôn chấp hành tin tưởng vào sự lãnh đạo Đảng, tin tưởng vào chiến lược phát triển bền vững của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, chung tay với cộng đồng, với toàn xã hội để phòng chống dịch bệnh hiệu quả, luôn giữ cho mình về thể chất giữ vững tâm lý tốt để vận hành an toàn hệ thống và hoàn thành mọi kế hoạch sản xuất được giao.

Anh Trịnh Thanh Hoàng – Sỹ quan hàng hải, Phòng Hàng hải, Xí nghiệp Vận tải Biển và Công tác lặn (Vietsovpetro): Chúng tôi thấu hiểu, giá dầu giảm sẽ là áp lực cho lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, cho lãnh đạo Vietsovpetro. Nhưng tôi tin lãnh đạo cấp trên sẽ tìm ra giải pháp phù hợp và điều chỉnh chiến lược kinh doanh của đơn vị cùng như của ngành mình. Để cùng chung tay đối phó với dịch bệnh Covid – 19, CBCNV chúng tôi luôn tuân thủ các yêu cầu về đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên, thực hiện các khuyến cáo của ngành y tế về phòng dịch; tận dụng mọi trang thiết bị sẵn có của đơn vị, nâng cao năng suất lao động, tiết giảm chi phí sản xuất. Sẵn sàng chia sẻ khó khăn bằng hành động thiết thực, vui vẻ nếu không còn chế độ thưởng, duy trì chế độ làm việc bình thường, sát cánh và cố gắng hết mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn.

Anh Lê Văn Nin – Thợ lắp ráp, Xí nghiệp Xây lắp (Vietsovpetro): Đứng trước thách thức và diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19. CBCNV chúng tôi rất bình tĩnh và an tâm tin tưởng với các hành động hiệu quả Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như các giải pháp của Ban chỉ đạo phòng chống dịch của Vietsovpetro. Để chung tay với toàn xã hội đẩy lùi dịch bệnh CBCNV Vietsovpetro chúng tôi luôn động viên nhắc nhở anh em đồng nghiệp nâng cao ý thức tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng. Thực hiện tốt các quy định của pháp luật, hướng dẫn của của Bộ Y tế, chính quyền địa phương và Vietsovpetro. Kiểm soát lẫn nhau nhau về việc tăng cường các biện pháp phòng tránh dịch bệnh, luôn sử dụng khẩu trang trong lao động sản xuất, không tụ tập đông người, rửa tay thường xuyên, hạn chế tiếp xúc, giữ khoảng cách tiếp xúc trên 2m, tuyên truyền cho thành viên gia đình biết về biện pháp phòng chống dịch. Sẵn sàng tham gia các đội phản ứng nhanh khi được yêu cầu để kịp thời phối hợp với các bên có liên quan khi có CBCNV có những biểu hiện của sự nhiễm bệnh và giữ thông tin thông suốt giữa bờ với biển cùng triển khai các quy định quy chế mới của các ban ngành.

Anh Nguyễn Anh Trực – Trưởng ca xưởng phụ trợ, Nhà máy Đạm Cà Mau, Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau: Đạm Cà Mau là đơn vị sản xuất, nhà máy vẫn phải hoạt động 24/24, hàng ngày chúng tôi vẫn phải làm việc cùng các đối tác nước ngoài, các khách hàng nên rủi ro về dịch bệnh luôn tiềm ẩn. Ban lãnh đạo Công ty và Nhà máy đã sớm nhận ra những nguy cơ này và đã có những biện pháp ứng phó chống dịch rất kịp thời.

Ví dụ như chúng tôi bắt buộc phải đeo khẩu trang 100% khi làm việc, được đo thân nhiệt thường xuyên. Các anh em làm việc ở nhà máy được sắp xếp đi trên xe công vụ không quá 20 người/ xe 45 chỗ; các cụm, khối, phòng, ban đều được sắp xếp đi riêng từng xe để hạn chế lây chéo. Giờ ăn trưa cũng được sắp xếp lại hợp lý để một bàn ăn ngồi tối đa 2 người, ngồi giãn cách… Tùy vị trí công việc mà có thể làm việc online tại nhà, họp online để hạn chế tối đa tiếp xúc… Tuy nhiên, các vị trí phải trực ca ở nhà máy thì vẫn theo lịch làm việc như bình thường, kể cả ngày nghỉ hay Tết, Lễ, Giỗ Tổ, cách ly toàn xã hội. Hàng ngày chúng tôi được chia thành 2 ca ngày và đêm, gồm 4 kíp; cứ 2 kíp trực thì 2 kíp nghỉ, thay phiên nhau làm 2 ngày nghỉ 2 ngày.

Với tất cả các biện pháp tăng cường phòng chống dịch như vậy, công ty chắc chắn phải tăng thêm một khoản chi phí, trong khi tình hình giá dầu giảm sâu như hiện tại và sự lây lan của dịch bệnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Là người lao động, chúng tôi hiểu rõ những khó khăn mà Ban lãnh đạo công ty đang gặp phải để có thể đảm bảo công ăn việc làm, mức lương cho hàng trăm người lao động, giúp người lao động yên tâm công tác. Vì vậy, riêng bản thân tôi rất cảm kích trước tình cảm và sự quyết liệt của ban lãnh đạo công ty, nhà máy, và biết rõ mình phải làm thật tốt nhiệm vụ được giao, quyết tâm cùng toàn thể CBNV công ty đồng hành cùng Ban lãnh đạo vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Kỹ sư Đỗ Hồng Quang, Ban Vận hành sản xuất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất: Dù bị ảnh hưởng nặng nề dưới tác động của dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu nhưng ngành dầu khí nói chung và BSR nói riêng đã và đang thực hiện quyết liệt nhiều biện pháp tiết giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động.

Hằng ngày mỗi cá nhân chúng tôi đều c gắng tìm những sáng kiến, ý tưởng mới để tìm cách tối ưu vận hành, sản xuất nhằm tiết giảm chi phí. Thực tế cho thấy, mỗi ngày chúng tôi luôn tối ưu các thông số vận hành thiết bị, phân xưởng, để có thể giảm thiểu được lượng năng lượng tiêu thụ, duy trì độ tin cậy của thiết bị, an toàn và ổn định cho nhà máy. Năm 2020 cũng là thời điểm BSR chuẩn bị bảo dưỡng tổng thể nhà máy, do bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, nên nhiều kịch bản được đưa ra để giải quyết khó khăn trước mắt cũng như lâu dài. Ban lãnh đạo công ty đã đánh giá cụ thể chi tiết, tạo tiền đề cho việc tối ưu thời gian bảo dưỡng tổng thế nhà máy sau này. Chúng tôi cũng đã đưa ra nhiều giải pháp vận hành nhà máy với công suất khác nhau để duy trì ổn định và hiệu quả khi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xăng dầu giảm do dịch bệnh Covid19. Mỗi người dân nói chung và cán bộ ngành Dầu khí nói riêng đều có thể chung tay cùng cả nước đẩy lùi dịch bệnh Covid-19. Thiết thực nhất là tự bảo vệ mình, người thân và những người sống xung quanh. Bản thân tôi cũng thực hiện nghiêm túc việc tự cách ly và cách ly, theo dõi y tế, chấp hành đúng các yêu cầu của BSR và các cơ quan chức năng về phòng, chống dịch.

Là một kỹ sư giám sát vận hành đã và đang sát cánh cùng lãnh đạo công ty với mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe và sự an toàn cho người lao động BSR, đánh giá ảnh hưởng của đại dịch đến sự tiêu thụ các sản phẩm dầu khí để đưa ra các biện pháp vận hành cụ thể hơn nhằm vượt qua sự khủng hoảng. Luôn duy trì nhà máy vận hành ổn định và liên tục là mục tiêu hàng đầu của chúng tôi trong giai đoạn khó khăn nàyhạn chế thấp nhất ảnh hưởng tác động của đại dịch và giá dầu giảm.

Ngành Dầu khí nói chung và BSR nói riêng cũng đang trải qua giai đoạn gian khó nhất. Tuy nhiên, tôi tin những người lao động trong ngành sẽ đồng cam cộng khổ, đồng lòng vượt qua thử thách này để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, và Nhà nước giao. Đó cũng chính là bản lĩnh, là niềm tự hào truyền thống của Ngành Dầu khí nói chung và BSR nói riêng.

PVN và các đơn vị chủ động thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19

Quyết tâm, quyết liệt, khẩn trương nhưng nhân văn, hợp lý. Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã chủ động triển khai nhiều giải pháp, quyết sách để vượt qua khủng hoảng kép, với mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Mới đây, Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TV về thực hiện phòng chống, khống chế dịch bệnh Covid-19 và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách ứng phó trong tình hình giá dầu sụt giảm. Theo đó, các cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội Cơ quan Tập đoàn cần tập trung quán triệt, triển khai quyết liệt, chủ động, hiệu quả các giải pháp, phòng chống dịch bênh Covid-19 theo các chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ/ngành, địa phương và của Tập đoàn trong tình hình mới, đặc biệt trong đợt cao điểm hiện nay. Chủ động các phương án hành động để phối hợp cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể để triển khai thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ, trang bị đầy đủ thiết bị cần thiết để phòng chống dịch và thực hiện các giải pháp đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ quan Tập đoàn.

Từ ngày 1/4/2020, Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đã áp dụng chế độ làm việc đặc biệt nhằm ứng phó với diễn biến khó lường của dịch bệnh Covid-19. Các cán bộ, nhân viên từ cấp Trưởng phòng trở lên, cán bộ y tế làm việc bình thường tại trụ sở Tổng Công ty. Những người khác triển khai làm việc trực tuyến tại nhà. Đối với người Đại diện của PVEP tại các Dự án chủ động triển khai các biện pháp làm việc cho CBNV làm việc tại trụ sở phù hợp với tình hình tại địa phương mà Dự án có hoạt động hoặc đặt trụ sở làm việc, trên tinh thần cho phép tối đa người lao động được làm việc trực tuyến tại nhà. Trong thời gian áp dụng chế độ làm việc đặc biệt, các cán bộ, nhân viên, người lao động trong toàn Tổng Công ty/Dự án, Liên doanh vẫn phải nghiêm túc chấp hành đầy đủ các quy định, hướng dẫn về phòng chống, dịch bệnh, đảm bảo công việc được tiến hành liên tục, hiệu quả, phấn đấu nỗ lực hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình hiện nay.

Từ ngày 30/3 đến 15/4/2020, Công ty Cổ phần Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) có chủ trương cho phép tối đa 30% nhân sự thuộc các ban chuyên môn có thể sắp xếp làm việc tại nhà bằng hình thức online. Trong việc phân công này, Công ty ưu tiên bố trí những nhân sự có tuổi 50 trở lên với nữ, 55 trở lên với nam, cán bộ nữ mang thai, có con nhỏ trong độ tuổi mẫu giáo trở xuống, nhân sự có sức khỏe yếu hoặc đang mang những bệnh lý nền, mãn tính, hiểm nghèo. Trước nhu cầu thực tiễn công việc, nhân sự làm việc tại nhà cũng tuyệt đối tuân thủ thời gian làm việc, nghỉ giữa ca giống như làm việc tại cơ quan; đảm bảo chế độ thông tin liên lạc thông suốt trong giờ làm việc như điện thoại, email,… Nhân sự làm việc tại nhà vẫn phải chấp hành các quy định nghiêm ngặt của Chính phủ về phòng chống dịch Covid-19 như hạn chế ra ngoài, tụ tập đông người, rửa tay thường xuyên,…

Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã linh hoạt, ban hành Hướng dẫn tạm thời về chế độ làm việc tại nhà hoặc ngoài văn phòng trong các trường hợp bất khả kháng (nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh và tạo điều kiện cho người lao động yên tâm điều trị bệnh hoặc thực hiện cách ly, đồng thời đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của PV GAS được duy trì thường xuyên, liên tục và đảm bảo quyền và lợi ích hợp lý cho người lao động). Ngoài việc ngăn ngừa và phòng chống dịch bệnh, PV GAS cũng nhanh chóng xây dựng các giải pháp nhằm ổn định sản xuất kinh doanh, giảm thiểu tác động xấu của dịch bệnh đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tổng công ty Cổ phân Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) đã lên các kịch bản và giải pháp ứng phó để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Các tác động của Covid-19 đến hoạt động của PV Drilling trước mắt là do sự phong tỏa toàn quốc tại các quốc gia PV Drilling cung cấp dịch vụ khoan, gây những khó khăn nhất định trong hoạt động đổi ca của cán bộ nhân viên hoạt động trên giàn. Để ứng phó, hiện nay công tác đổi ca được thực hiện ngay tại nước sở tại. Cán bộ nhân viên trên giàn tạm thời sẽ không về nước khi hết ca, và sẽ tuân thủ các quy định về an toàn tại nước sở tại như thực hiện tự cách ly cho đến ca làm việc tiếp theo.

Từ ngày 18/3/2020, Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) và các đơn vị chủ động bố trí, đảm bảo hàng ngày có tối đa 50% số người lao động thực hiện chế độ làm việc từ xa nhằm bảo vệ an toàn sức khỏe, hạn chế sự lây lan dịch bệnh trong cộng đồng và người lao động. Từ ngày 27/3/2020, phần lớn người lao động được bố trí làm việc tại nhà qua các phương tiện công nghệ thông tin, ngoại trừ số lượng tối thiểu lãnh đạo, nhân viên phải đến công ty xử lý những việc cấp thiết. Do đó, khi Chính phủ thực hiện cách ly toàn xã hội 15 ngày (từ ngày 1/4/2020), PVOIL đã sẵn sàng cho chế độ làm việc này.

Tin tưởng rằng, với ý chí, nghị lực, bản lĩnh của Những người đi tìm lửa càng được phát huy qua những khó khăn, gian khổ, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ vững bước vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển.

PVFCCo (DPM): Một năm 2019 vượt khó thành công

(ĐTCK) Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo, mã chứng khoán DPM – sàn HOSE) đã có một năm 2019 vượt khó thành công, là tiền đề để hoàn thành kế hoạch kinh doanh năm 2020 tốt nhất trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế có thể kéo dài vì dịch bệnh. 

Thực tế năm 2019 là năm đặc biệt khó khăn với các công ty phân bón. Nhu cầu tiêu thụ phân bón giảm mạnh do thời tiết không thuận lợi, giá cả nông sản thấp kỷ lục đã khiến nông hộ bỏ vụ, diện tích canh tác giảm mạnh. Bên cạnh đó, chính sách thuế bất hợp lý với ngành sản xuất phân bón đã được nhìn nhận,nhưng vẫn chưa được xử lý.

Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam, việc đưa mặt hàng phân bón từ diện chịu thuế VAT 5% sang diện mặt hàng không chịu thuế theo Luật 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Quốc hội khóa XIII tiếp tục tạo ra những rào cản đối với sự phát triển của sản xuất phân bón trong nước; đồng thời tạo điều kiện cho phân bón nước ngoài “ồ ạt” vào Việt Nam.

Với chính sách thuế này, toàn bộ thuế VAT nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất phân bón không được khấu trừ, khiến doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm phân bón tăng hơn 5%.

Thêm vào đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ lại dừng bảo dưỡng dài ngày nên khó khăn càng cộng hưởng với DPM, đặc biệt trong cuối quý 1 và quý 2 là mùa cao điểm nhưng thiếu hàng để bán.

Trong bối cảnh đó, DPM đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để vượt qua khó khăn, trong đó có việc thực hiện tiết giảm chi phí triệt để. Năm 2019, chi phí bán hàng, quản lý hợp nhất của DPM giảm 14% so với kế hoạch (tương đương 153 tỷđồng), tiết kiệm năng lượng đạt 101tỷ đồng. 

Khi nhà máy hoạt động trở lại, DPM đã có những giải pháp quyết liệt để tối đa hóa sản lượng sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, giữ vững thị phần để hoàn thành kế hoạch 2019. 

Ông Lê Cự Tân – Tổng giám đốc, đại diện DPM nhận giải thưởng top 5 Doanh nghiệp quản trị Công ty tốt nhất năm 2019

Về sản xuất, DPM đã sản xuất được gần 708 ngàn tấn urê, đạt 106% kế hoạch năm và về đích trước kế hoạch 15 ngày; UFC85 đạt 11.766 tấn, hoàn thành 109% kế hoạch năm và tăng trưởng 6% so với năm 2018; NPK đạt 84.499 tấn, hoàn thành 56% kế hoạch năm nhưng tăng trưởng tới 45% so với năm 2018; NH3 đạt 61.453 tấn, hoàn thành 134% kế hoạch năm và tăng trưởng 9% so với năm 2018.

Về kinh doanh, ngay sau khi Nhà máy hoạt động trở lại đã tăng tốc cung ứng hàng đến các vùng miền. Đặc biệt trong quý IV/2019, sản lượng phân urê PM cung ứng tăng hơn 39% so với cùng kỳ 2018, góp phần quan trọng hoàn thành vượt mức 2% so với chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh sản phẩm urê Phú Mỹ trong năm 2019.

Các mặt hàng khác cũng được đẩy mạnh tiêu thụ, trong đó tiêu thụ sản phẩm NH3 là điểm sáng, với gần 59 ngàn tấn, đạt 131% so với kế hoạch và tăng 12% so với năm 2018; NPK Phú Mỹ đạt hơn 93 ngàn tấn, trong đó lượng NPK do Nhà máy sản xuất tiêu thụ đạt gần 77 nghìn tấn; sản lượng tiêu thụ phân bón khácđạt gần 208 ngàn tấn…. 

Với rất nhiều nỗ lực, năm 2019, theo Báo cáo tài chính hợp nhất, DPM đã đạt doanh thu 7.831 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt hơn 467 tỷ đồng, vượt 263 tỷ đồng, tương đương 2,3 lần so với kế hoạch được phê duyệt là 205 tỷ đồng.

Trong năm 2020, DPM đặt kế hoạch doanh thu 9.237 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 513 tỷ đồng, lần lượt tăng trưởng 18% và 9,8% so với thực hiện năm 2019. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đặt kế hoạch trả cổ tức 10%. Đây là kế hoạch nhiều thách thức trong điều kiện dịch bệnh nghiêm trọng, kéo dài ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng như hạn hán, hạn mặn khắc nghiệt ở các tỉnh Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, trong “nguy” luôn có “cơ”. Giới đầu tư đang rất kỳ vọng với việc giá dầu giảm sâu và DPM hoạt động chính trong lĩnh vực nông nghiệp – lĩnh vực được coi là trụ đỡ khi nền kinh tế khó khăn, nên Tổng công ty có thể tận dụng được cơ hội tăng biên lợi nhuận gộp.

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 01/4/2020, cổ phiếu DPM tăng 7%, giao dịch ở vùng giá 12.250 đồng/cổ phiếu, thấp hơn nhiều giá trị sổ sách 20.855 đồng/cổ phiếu.

Thu Hương

PVFCCo (DPM): Một năm 2019 vượt khó thành công

(ĐTCK) Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo, mã chứng khoán DPM – sàn HOSE) đã có một năm 2019 vượt khó thành công, là tiền đề để hoàn thành kế hoạch kinh doanh năm 2020 tốt nhất trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế có thể kéo dài vì dịch bệnh. 

Thực tế năm 2019 là năm đặc biệt khó khăn với các công ty phân bón. Nhu cầu tiêu thụ phân bón giảm mạnh do thời tiết không thuận lợi, giá cả nông sản thấp kỷ lục đã khiến nông hộ bỏ vụ, diện tích canh tác giảm mạnh. Bên cạnh đó, chính sách thuế bất hợp lý với ngành sản xuất phân bón đã được nhìn nhận,nhưng vẫn chưa được xử lý.

Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam, việc đưa mặt hàng phân bón từ diện chịu thuế VAT 5% sang diện mặt hàng không chịu thuế theo Luật 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Quốc hội khóa XIII tiếp tục tạo ra những rào cản đối với sự phát triển của sản xuất phân bón trong nước; đồng thời tạo điều kiện cho phân bón nước ngoài “ồ ạt” vào Việt Nam.

Với chính sách thuế này, toàn bộ thuế VAT nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất phân bón không được khấu trừ, khiến doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm phân bón tăng hơn 5%.

Thêm vào đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ lại dừng bảo dưỡng dài ngày nên khó khăn càng cộng hưởng với DPM, đặc biệt trong cuối quý 1 và quý 2 là mùa cao điểm nhưng thiếu hàng để bán.

Trong bối cảnh đó, DPM đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để vượt qua khó khăn, trong đó có việc thực hiện tiết giảm chi phí triệt để. Năm 2019, chi phí bán hàng, quản lý hợp nhất của DPM giảm 14% so với kế hoạch (tương đương 153 tỷđồng), tiết kiệm năng lượng đạt 101tỷ đồng. 

Khi nhà máy hoạt động trở lại, DPM đã có những giải pháp quyết liệt để tối đa hóa sản lượng sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, giữ vững thị phần để hoàn thành kế hoạch 2019. 

Ông Lê Cự Tân – Tổng giám đốc, đại diện DPM nhận giải thưởng top 5 Doanh nghiệp quản trị Công ty tốt nhất năm 2019

Về sản xuất, DPM đã sản xuất được gần 708 ngàn tấn urê, đạt 106% kế hoạch năm và về đích trước kế hoạch 15 ngày; UFC85 đạt 11.766 tấn, hoàn thành 109% kế hoạch năm và tăng trưởng 6% so với năm 2018; NPK đạt 84.499 tấn, hoàn thành 56% kế hoạch năm nhưng tăng trưởng tới 45% so với năm 2018; NH3 đạt 61.453 tấn, hoàn thành 134% kế hoạch năm và tăng trưởng 9% so với năm 2018.

Về kinh doanh, ngay sau khi Nhà máy hoạt động trở lại đã tăng tốc cung ứng hàng đến các vùng miền. Đặc biệt trong quý IV/2019, sản lượng phân urê PM cung ứng tăng hơn 39% so với cùng kỳ 2018, góp phần quan trọng hoàn thành vượt mức 2% so với chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh sản phẩm urê Phú Mỹ trong năm 2019.

Các mặt hàng khác cũng được đẩy mạnh tiêu thụ, trong đó tiêu thụ sản phẩm NH3 là điểm sáng, với gần 59 ngàn tấn, đạt 131% so với kế hoạch và tăng 12% so với năm 2018; NPK Phú Mỹ đạt hơn 93 ngàn tấn, trong đó lượng NPK do Nhà máy sản xuất tiêu thụ đạt gần 77 nghìn tấn; sản lượng tiêu thụ phân bón khácđạt gần 208 ngàn tấn…. 

Với rất nhiều nỗ lực, năm 2019, theo Báo cáo tài chính hợp nhất, DPM đã đạt doanh thu 7.831 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt hơn 467 tỷ đồng, vượt 263 tỷ đồng, tương đương 2,3 lần so với kế hoạch được phê duyệt là 205 tỷ đồng.

Trong năm 2020, DPM đặt kế hoạch doanh thu 9.237 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 513 tỷ đồng, lần lượt tăng trưởng 18% và 9,8% so với thực hiện năm 2019. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đặt kế hoạch trả cổ tức 10%. Đây là kế hoạch nhiều thách thức trong điều kiện dịch bệnh nghiêm trọng, kéo dài ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng như hạn hán, hạn mặn khắc nghiệt ở các tỉnh Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, trong “nguy” luôn có “cơ”. Giới đầu tư đang rất kỳ vọng với việc giá dầu giảm sâu và DPM hoạt động chính trong lĩnh vực nông nghiệp – lĩnh vực được coi là trụ đỡ khi nền kinh tế khó khăn, nên Tổng công ty có thể tận dụng được cơ hội tăng biên lợi nhuận gộp.

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 01/4/2020, cổ phiếu DPM tăng 7%, giao dịch ở vùng giá 12.250 đồng/cổ phiếu, thấp hơn nhiều giá trị sổ sách 20.855 đồng/cổ phiếu.

Thu Hương

PVN: Covid-19 Những tác động, hệ lụy và giải pháp ứng phó

Vui lòng xem tại đây

VR 360