Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Ngành phân bón: Tác động ngược của chính sách thuế VAT

CafeF, 13/4
Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.
Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây, nhằm giúp doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, bản tin từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chi hay.
Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước, chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động; giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý.

“Tác động ngược” của chính sách thuế

Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây:
Thứ nhất, mặt hàng phân bón không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%.
Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.
Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ; doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5 – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa.
Như vậy, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu.
Doanh nghiệp mất hàng trăm tỷ mỗi năm

Thuế GTGT với phân bón sớm sửa đổi để tạo công bằng

Petrotimes, 13/4
Hiện nay, phần lớn các mặt hàng phân bón chỉ chịu thuế nhập khẩu 0% và phân bón nhập khẩu được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào, trong khi phân bón sản xuất trong nước không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, giá thành bị đội lên.
Hiện cả nước có trên 700 cơ sở sản xuất phân bón, tổng công suất lên tới 29,5 triệu tấn/năm. Trong đó, 10 doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và 2 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chiếm phần lớn sản lượng phân bón hằng năm. 

Theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU)… thuế nhập khẩu phân bón từ nhiều thị trường đã về 0%. Bên cạnh đó, phân bón nhập khẩu được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nên các đại lý nhập khẩu có thể hạ thấp giá bán để cạnh tranh với phân bón nội địa, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất trong nước.Nguồn cung phân bón trong nước khá dồi dào. Tổng công suất phân urê trong nước lên tới 2,66 triệu tấn với các nhà máy sản xuất lớn như Đạm Hà Bắc, Đạm Phú Mỹ, Đạm Ninh Bình, Đạm Cà Mau…, trong khi nhu cầu thị trường chỉ khoảng 2,5 triệu tấn. Thị trường urê nội địa dư cung nhưng lượng urê nhập khẩu hằng năm vẫn ở mức cao. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2019, nước ta đã nhập khẩu trên 3 triệu tấn phân bón các loại, với tổng trị giá 858,79 triệu USD; trong đó lượng urê nhập khẩu là 333,3 nghìn tấn, với giá trị 94,9 triệu USD.

Từ năm 2015, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước đã trải qua những biến động lớn khi chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón thay đổi. Cụ thể, tháng 11-2014, Quốc hội đã thông qua Luật 71/2014/QH13 về việc sửa đổi Luật Thuế GTGT, có hiệu lực vào ngày 1-1-2015. Theo đó, phân bón được chuyển từ đối tượng chịu thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT. Do đó, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, làm tăng giá thành sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh cho phân bón nhập khẩu.
Mặc dù những bất cập trong Luật 71/2014/QH13 đã nhiều lần được các bộ, ngành, doanh nghiệp kiến nghị điều chỉnh, nhưng đến nay vẫn chưa được sửa đổi. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước mong muốn, chính sách thuế GTGT với mặt hàng phân bón sẽ sớm được sửa đổi hợp lý để tạo sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa phân bón trong nước và phân bón nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Bởi nếu chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế GTGT về chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, các doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ tiết giảm được khoản chi phí lớn được tính vào giá thành sản phẩm, góp phần tăng lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa, qua đó cũng sẽ giúp giảm giá mặt hàng phân bón, một mặt hàng thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp.

Tính thuế phân bón thế nào để giảm gánh nặng cho nông dân?

NTNN, 13/4

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản khó khăn do dịch Covid-19, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hiện nay do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) theo quy định tại Luật 71/2014/QH13 nên các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế VAT, dịch vụ mua vào, kể cả thuế VAT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón. Thay vào đó, toàn bộ chi phí này phải tính vào chi phí sản xuất, vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Tác động đối với nông dân

Quy định phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT gây ra bất cập cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong việc cạnh tranh với phân bón nhập khẩu do phải tăng giá bán hoặc giảm lợi nhuận, làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới, dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không “mặn mà” đầu tư sản xuất các loại phân bón thế hệ mới, với các tính năng ưu việt như phân bón tan chậm, thân thiện với môi trường…

Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng, gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu. Phân bón nhập khẩu, đặc biệt là phân bón nhập từ Trung Quốc một mặt không phải chịu thuế VAT 5%, một mặt được hưởng ưu đãi thuế suất xuất khẩu phân bón 0%, lại được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất, do vậy, có lợi thế cạnh tranh về giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng, làm gia tăng nhập siêu. Khi sản xuất phân bón sản xuất trong nước phải thu hẹp quy mô, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn là ví dụ cho thấy “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp.

Nên có thuế VAT, nhưng ở mức 0%

Chính sách thuế bất cập như vậy dẫn tới việc không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư. Từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu, ngành sản xuất phân bón Việt Nam càng ngày càng thụt lùi. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng. Đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau là tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng 0, nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng 0 đồng và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường. Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.

Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Do đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đồng ý kiến nghị nên xem xét áp dụng tạm thời trong giai đoạn khó khăn hiện nay cần đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%.

Kiến nghị tạm thời áp thuế giá trị gia tăng 0% với mặt hàng phân bón

ANTĐ, 13/4
Theo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), sau hơn 4 năm có hiệu lực, Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) và điều này đã làm nảy sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất tăng, năng lực cạnh tranh giảm
Vinachem vừa có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị sửa Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế. Theo Vinachem, chủ trương của Đảng, Nhà nước giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là đúng. Tuy nhiên, việc Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế VAT đã làm nảy sinh nhiều bất cập.
Cụ thể, do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT nên không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón. Kéo theo đó, chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên. Doanh nghiệp phải tính phần thuế VAT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc. Theo quy định, phân bón nhập khẩu khi không phải chịu thuế VAT giá bán giảm 5%.
Trong khi đó, theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất.
Các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón được hưởng lợi rất lớn từ chính sách này. Chính vì vậy, tháng 1-2015, lượng phân bón nhập khẩu vào Việt Nam tăng vọt, ure nhập khẩu tăng 77%, DAP nhập khẩu tăng 8,5 lần so với cùng kỳ năm 2014. Tồn kho của doanh nghiệp sản xuất trong nước lên cao nhất đến 23 lần.
“Do vậy phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán. Nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu, sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất. Đáng chú ý, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân”- Vinachem cho hay.
Theo Vinachem, quy định tại Luật số 71/2014/QH13 không chỉ tác động đến người nông dân mà còn làm gia tăng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nhưng theo quy định hiện hành, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, làm tăng giá trị tài sản cố định, bởi lẽ hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón đều phải chịu thuế VAT 10%.
Ước tính 4 năm qua, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định của Vinachem tăng nguyên giá tài sản là 110 tỷ đồng, đối với hai đơn vị sản xuất đạm thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định, tăng nguyên giá tài sản là 200 tỷ đồng.
Tương tự, đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón, so với trước khi áp dụng Luật số 71 cũng có nhiều bất lợi do sản phẩm phân bón không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, chi phí đầu vào.
Theo tính toán của Vinachem, toàn bộ số thuế VAT đầu vào cho sản xuất sản phẩm phân bón trong nước phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, làm giá thành sản phẩm tăng thêm 6-8% (tùy từng loại phân bón). Ước tính 4 năm qua, khoản thuế VAT đầu vào làm tăng chi phí sản xuất phân bón của các đơn vị sản sản xuất phân bón tăng. Năm 2018, riêng các đơn vị tại Vinachem tăng chi phí 767,7 tỷ đồng.
Kiến nghị áp thuế VAT 0% hoặc 5% với phân bón
Xuất phát từ thực tế nêu trên, Vinachem đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết tạm thời áp dụng đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%, áp dụng thực hiện cho đến khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật số 71/2014/QH13.
Lý giải về đề nghị này, Vinachem cho rằng, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng không (0), nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng không (0) đồng. Doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho Nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.
“Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế VAT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu”- đại diện Vinachem nêu quan điểm.
Trong công văn gửi Hiệp hội phân bón Việt Nam về vấn đề nêu trên, Vinachem cũng nhấn mạnh, với cả 2 trường hợp trên, Nhà nước không phải bỏ tiền hỗ trợ doanh nghiệp trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, mà chỉ là điều chỉnh chính sách để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước bình đẳng với phân bón nhập khẩu.

Tính thuế phân bón thế nào để giảm gánh nặng cho nông dân?

NTNN, 13/4

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản khó khăn do dịch Covid-19, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hiện nay do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) theo quy định tại Luật 71/2014/QH13 nên các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế VAT, dịch vụ mua vào, kể cả thuế VAT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón. Thay vào đó, toàn bộ chi phí này phải tính vào chi phí sản xuất, vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Tác động đối với nông dân

Quy định phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT gây ra bất cập cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong việc cạnh tranh với phân bón nhập khẩu do phải tăng giá bán hoặc giảm lợi nhuận, làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới, dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không “mặn mà” đầu tư sản xuất các loại phân bón thế hệ mới, với các tính năng ưu việt như phân bón tan chậm, thân thiện với môi trường…

Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng, gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu. Phân bón nhập khẩu, đặc biệt là phân bón nhập từ Trung Quốc một mặt không phải chịu thuế VAT 5%, một mặt được hưởng ưu đãi thuế suất xuất khẩu phân bón 0%, lại được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất, do vậy, có lợi thế cạnh tranh về giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng, làm gia tăng nhập siêu. Khi sản xuất phân bón sản xuất trong nước phải thu hẹp quy mô, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn là ví dụ cho thấy “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp.

Nên có thuế VAT, nhưng ở mức 0%

Chính sách thuế bất cập như vậy dẫn tới việc không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư. Từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu, ngành sản xuất phân bón Việt Nam càng ngày càng thụt lùi. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng. Đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau là tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng 0, nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng 0 đồng và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường. Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.

Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Do đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đồng ý kiến nghị nên xem xét áp dụng tạm thời trong giai đoạn khó khăn hiện nay cần đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%.

Kiến nghị tạm thời áp thuế giá trị gia tăng 0% với mặt hàng phân bón

ANTĐ, 13/4
Theo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), sau hơn 4 năm có hiệu lực, Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) và điều này đã làm nảy sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất tăng, năng lực cạnh tranh giảm
Vinachem vừa có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị sửa Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế. Theo Vinachem, chủ trương của Đảng, Nhà nước giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là đúng. Tuy nhiên, việc Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế VAT đã làm nảy sinh nhiều bất cập.
Cụ thể, do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT nên không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón. Kéo theo đó, chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên. Doanh nghiệp phải tính phần thuế VAT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc. Theo quy định, phân bón nhập khẩu khi không phải chịu thuế VAT giá bán giảm 5%.
Trong khi đó, theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất.
Các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón được hưởng lợi rất lớn từ chính sách này. Chính vì vậy, tháng 1-2015, lượng phân bón nhập khẩu vào Việt Nam tăng vọt, ure nhập khẩu tăng 77%, DAP nhập khẩu tăng 8,5 lần so với cùng kỳ năm 2014. Tồn kho của doanh nghiệp sản xuất trong nước lên cao nhất đến 23 lần.
“Do vậy phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán. Nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu, sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất. Đáng chú ý, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân”- Vinachem cho hay.
Theo Vinachem, quy định tại Luật số 71/2014/QH13 không chỉ tác động đến người nông dân mà còn làm gia tăng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nhưng theo quy định hiện hành, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, làm tăng giá trị tài sản cố định, bởi lẽ hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón đều phải chịu thuế VAT 10%.
Ước tính 4 năm qua, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định của Vinachem tăng nguyên giá tài sản là 110 tỷ đồng, đối với hai đơn vị sản xuất đạm thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định, tăng nguyên giá tài sản là 200 tỷ đồng.
Tương tự, đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón, so với trước khi áp dụng Luật số 71 cũng có nhiều bất lợi do sản phẩm phân bón không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, chi phí đầu vào.
Theo tính toán của Vinachem, toàn bộ số thuế VAT đầu vào cho sản xuất sản phẩm phân bón trong nước phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, làm giá thành sản phẩm tăng thêm 6-8% (tùy từng loại phân bón). Ước tính 4 năm qua, khoản thuế VAT đầu vào làm tăng chi phí sản xuất phân bón của các đơn vị sản sản xuất phân bón tăng. Năm 2018, riêng các đơn vị tại Vinachem tăng chi phí 767,7 tỷ đồng.
Kiến nghị áp thuế VAT 0% hoặc 5% với phân bón
Xuất phát từ thực tế nêu trên, Vinachem đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết tạm thời áp dụng đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%, áp dụng thực hiện cho đến khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật số 71/2014/QH13.
Lý giải về đề nghị này, Vinachem cho rằng, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng không (0), nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng không (0) đồng. Doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho Nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.
“Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế VAT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu”- đại diện Vinachem nêu quan điểm.
Trong công văn gửi Hiệp hội phân bón Việt Nam về vấn đề nêu trên, Vinachem cũng nhấn mạnh, với cả 2 trường hợp trên, Nhà nước không phải bỏ tiền hỗ trợ doanh nghiệp trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, mà chỉ là điều chỉnh chính sách để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước bình đẳng với phân bón nhập khẩu.

Công đoàn PVFCCo tích cực phòng chống dịch Covid-19, ổn định sản xuất

Petrotimes.vn|13/4/2020

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp, Công đoàn Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã phối hợp và chủ động triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm phòng chống dịch, ổn định sản xuất – kinh doanh.

Cụ thể, Công đoàn PVFCCo đã tham gia Ban Chỉ đạo phòng chống dịch, góp ý xây dựng Phương án phòng chống và Chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại PVFCCo; cho ý kiến ban hành hướng dẫn chế độ làm việc từ xa cho CBCNV.

Theo đó, từ ngày 23/3/2020 tại Khối gián tiếp Cơ quan và một số các đơn vị thành viên đã áp dụng làm việc online luân phiên tại nhà cho 1/3 số lượng CBCNV và từ ngày 1/4 thực hiện số lượng làm việc online tối đa tại nhà để đảm bảo sức khỏe cũng như phòng chống Covid-19 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; phát động phong trào CBCNV chung tay đẩy lùi dịch bệnh và xâm nhập mặn, thông qua hình thức tin nhắn và chuyển khoản cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN).

Phổ biến quy trình rửa tay mùa Covid-19

Ngoài việc tuyên truyền, Công đoàn PVFCCo mua tặng 20 chiếc giường xếp với tổng giá trị khoảng gần 20 triệu đồng để trang bị cho Nhà máy Đạm Phú Mỹ phục vụ NLĐ nghỉ tại nhà máy trong tình huống phải cách ly. Trích từ kinh phí công đoàn PVFCCo và kinh phí do Công đoàn Dầu khí Việt Nam (DKVN) hỗ trợ để trang bị khẩu trang vải kháng khuẩn cho toàn thể đoàn viên, NLĐ với tổng kinh phí là 46,2 triệu đồng; kịp thời tuyên dương và thưởng tiền cho các sáng kiến của người lao động trong phòng chống dịch bệnh.

Ngoài ra, Công đoàn PVFCCo chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh các hoạt động ý tưởng, sáng kiến nhằm chung tay phòng chống dịch như: Gắn bình nước rửa tay sát khuẩn trong các thang máy, cửa văn phòng; cấp khẩu trang, nước rửa tay sát khuẩn, nước súc họng cho CBCNV; tổ chức chia nhóm ăn tại căn tin theo giờ, bố trí 1 bàn ăn chỉ 1 người ngồi; phổ biến “Quy trình rửa tay thường quy – Bộ Y tế”… Đặc biệt là 5 sáng kiến: Chế tạo đèn UV phục vụ khử khuẩn các phòng làm việc; hộp UV khử khuẩn các vật dụng nhỏ gọn như: công văn, bưu phẩm, tiền; robot khử khuẩn căn tin; thiết bị khử khuẩn không khí điều hòa trung tâm; buồng khử khuẩn toàn thân.

Buồng khử khuẩn toàn thân do kỹ sư Nhà máy Đạm Phú Mỹ thiết kế.

Buồng khử khuẩn toàn thân nhằm phục vụ công tác khử khuẩn toàn thân cho CBCNV và khách đến liên hệ công tác tại PVFCCo. Đây là dạng buồng khử khuẩn đơn, sử dụng thiết bị tạo ẩm siêu âm để phát tán dung dịch muối Ion khử khuẩn thành dạng hơi sương, bao phủ và khử khuẩn toàn thân.

Buồng có cảm biến phát hiện người, tự động phun dung dịch khử khuẩn; có đèn báo và còi báo các chế độ: SẴN SÀNG – DIỆT KHUẨN – KẾT THÚC.

Các sáng kiến trên không chỉ tiết kiệm về kinh phí chế tạo mà còn được triển khai áp dụng rất kịp thời, hiệu quả tại đơn vị. Có những sáng kiến như “Buồng khử khuẩn toàn thân”, do các kỹ sư đã miệt mài làm việc cả trong ngày nghỉ để cho ra 6 sản phẩm rất sớm ngay sau thiết kế của Viện Y tế nhằm phục vụ khử khuẩn cho CBCNV và các nhà thầu, khách hàng làm việc tại nhà máy.

Có thể nói, những sáng kiến trên của đội ngũ NLĐ là rất hiệu quả và kịp thời trong công tác phòng chống dịch, đảm bảo sức khỏe cho CBCNV và góp phần duy trì ổn định SXKD của PVFCCo. Vì thế, nhằm động viên và ghi nhận những đóng góp đó, Công đoàn PVFCCo một mặt đã có hình thức khen thưởng, mặt khác đã nhanh chóng có báo cáo, đề nghị với Công đoàn DKVN, sau đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xem xét khen thưởng nhóm tác giả đã có thành tích kể trên.

Hộp khử trùng UV

Vào chiều ngày 9/4, Công đoàn DKVN đã chính thức có Quyết định khen thưởng đối với các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Covid-19.

Chủ tịch Công đoàn PVFCCo cho biết: “Tôi vô cùng tự hào về NLĐ PVFCCo, họ rất tận tụy, tâm huyết và rất trách nhiệm khi tức thì cho ra đời những ý tưởng, sáng kiến và nhanh chóng triển khai thực hiện tạo ra sản phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe đồng nghiệp trong mùa dịch bệnh.

Đặc biệt là những sáng kiến đó đã được cấp trên, nhất là Công đoàn DKVN ghi nhận, khen thưởng rất kịp thời. Đó sẽ là động lực, tiếp sức cho anh em NLĐ nỗ lực hơn trong phong trào ý tưởng, sáng kiến ở những lĩnh vực khác, nhất là trong tình hình SXKD của PVFCCo đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay”.

Công đoàn PVFCCo tích cực phòng chống dịch Covid-19, ổn định sản xuất

Petrotimes.vn|13/4/2020

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp, Công đoàn Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã phối hợp và chủ động triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm phòng chống dịch, ổn định sản xuất – kinh doanh.

Cụ thể, Công đoàn PVFCCo đã tham gia Ban Chỉ đạo phòng chống dịch, góp ý xây dựng Phương án phòng chống và Chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại PVFCCo; cho ý kiến ban hành hướng dẫn chế độ làm việc từ xa cho CBCNV.

Theo đó, từ ngày 23/3/2020 tại Khối gián tiếp Cơ quan và một số các đơn vị thành viên đã áp dụng làm việc online luân phiên tại nhà cho 1/3 số lượng CBCNV và từ ngày 1/4 thực hiện số lượng làm việc online tối đa tại nhà để đảm bảo sức khỏe cũng như phòng chống Covid-19 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; phát động phong trào CBCNV chung tay đẩy lùi dịch bệnh và xâm nhập mặn, thông qua hình thức tin nhắn và chuyển khoản cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN).

Phổ biến quy trình rửa tay mùa Covid-19

Ngoài việc tuyên truyền, Công đoàn PVFCCo mua tặng 20 chiếc giường xếp với tổng giá trị khoảng gần 20 triệu đồng để trang bị cho Nhà máy Đạm Phú Mỹ phục vụ NLĐ nghỉ tại nhà máy trong tình huống phải cách ly. Trích từ kinh phí công đoàn PVFCCo và kinh phí do Công đoàn Dầu khí Việt Nam (DKVN) hỗ trợ để trang bị khẩu trang vải kháng khuẩn cho toàn thể đoàn viên, NLĐ với tổng kinh phí là 46,2 triệu đồng; kịp thời tuyên dương và thưởng tiền cho các sáng kiến của người lao động trong phòng chống dịch bệnh.

Ngoài ra, Công đoàn PVFCCo chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh các hoạt động ý tưởng, sáng kiến nhằm chung tay phòng chống dịch như: Gắn bình nước rửa tay sát khuẩn trong các thang máy, cửa văn phòng; cấp khẩu trang, nước rửa tay sát khuẩn, nước súc họng cho CBCNV; tổ chức chia nhóm ăn tại căn tin theo giờ, bố trí 1 bàn ăn chỉ 1 người ngồi; phổ biến “Quy trình rửa tay thường quy – Bộ Y tế”… Đặc biệt là 5 sáng kiến: Chế tạo đèn UV phục vụ khử khuẩn các phòng làm việc; hộp UV khử khuẩn các vật dụng nhỏ gọn như: công văn, bưu phẩm, tiền; robot khử khuẩn căn tin; thiết bị khử khuẩn không khí điều hòa trung tâm; buồng khử khuẩn toàn thân.

Buồng khử khuẩn toàn thân do kỹ sư Nhà máy Đạm Phú Mỹ thiết kế.

Buồng khử khuẩn toàn thân nhằm phục vụ công tác khử khuẩn toàn thân cho CBCNV và khách đến liên hệ công tác tại PVFCCo. Đây là dạng buồng khử khuẩn đơn, sử dụng thiết bị tạo ẩm siêu âm để phát tán dung dịch muối Ion khử khuẩn thành dạng hơi sương, bao phủ và khử khuẩn toàn thân.

Buồng có cảm biến phát hiện người, tự động phun dung dịch khử khuẩn; có đèn báo và còi báo các chế độ: SẴN SÀNG – DIỆT KHUẨN – KẾT THÚC.

Các sáng kiến trên không chỉ tiết kiệm về kinh phí chế tạo mà còn được triển khai áp dụng rất kịp thời, hiệu quả tại đơn vị. Có những sáng kiến như “Buồng khử khuẩn toàn thân”, do các kỹ sư đã miệt mài làm việc cả trong ngày nghỉ để cho ra 6 sản phẩm rất sớm ngay sau thiết kế của Viện Y tế nhằm phục vụ khử khuẩn cho CBCNV và các nhà thầu, khách hàng làm việc tại nhà máy.

Có thể nói, những sáng kiến trên của đội ngũ NLĐ là rất hiệu quả và kịp thời trong công tác phòng chống dịch, đảm bảo sức khỏe cho CBCNV và góp phần duy trì ổn định SXKD của PVFCCo. Vì thế, nhằm động viên và ghi nhận những đóng góp đó, Công đoàn PVFCCo một mặt đã có hình thức khen thưởng, mặt khác đã nhanh chóng có báo cáo, đề nghị với Công đoàn DKVN, sau đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xem xét khen thưởng nhóm tác giả đã có thành tích kể trên.

Hộp khử trùng UV

Vào chiều ngày 9/4, Công đoàn DKVN đã chính thức có Quyết định khen thưởng đối với các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Covid-19.

Chủ tịch Công đoàn PVFCCo cho biết: “Tôi vô cùng tự hào về NLĐ PVFCCo, họ rất tận tụy, tâm huyết và rất trách nhiệm khi tức thì cho ra đời những ý tưởng, sáng kiến và nhanh chóng triển khai thực hiện tạo ra sản phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe đồng nghiệp trong mùa dịch bệnh.

Đặc biệt là những sáng kiến đó đã được cấp trên, nhất là Công đoàn DKVN ghi nhận, khen thưởng rất kịp thời. Đó sẽ là động lực, tiếp sức cho anh em NLĐ nỗ lực hơn trong phong trào ý tưởng, sáng kiến ở những lĩnh vực khác, nhất là trong tình hình SXKD của PVFCCo đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay”.

PVFCCo Central ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid-19

Chiều ngày 13/4/2020, đại diện Công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí Miền Trung (PVFCCo Central) đã đến và trao tặng số tiền 26.400.000 đồng ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid-19 tới Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Định. Đây là số tiền được Công đoàn Công ty quyên góp từ các cán bộ nhân viên thông qua chương trình được phát động từ ngày 7/4/2020, hưởng ứng theo lời kêu gọi “Toàn dân tham gia ủng hộ, phòng chống dịch COVID- 19 “ của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Cần sớm đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT

Petrotimes.vn| 10.4

Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây để doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

 “Tác động ngược” của chính sách thuế

Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước nhằm mục tiêu chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động. Chủ trương của Đảng, Nhà nước là giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý. Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây: Do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nên hệ quả là không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Toàn cảnh máy Đạm Phú Mỹ

Theo tính toán của Trung ương Hiệp hội Phân bón, khi doanh nghiệp mua thiết bị hàng hóa, nguyên vật liệu (điện, than, khí) và các dịch vụ khác để sản xuất phân bón sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí giá thành sản xuất, làm giá thành phân bón tăng lên, giảm sức cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Nông dân sẽ phải mua phân bón giá cao hơn, vì phải chịu cộng thuế GTGT đầu vào. Cụ thể, khi thực hiện Luật 71/2014/QH13 thì giá thành phân đạm tăng 7,2%- 7,6%; phân DAP tăng 7,3%- 7,8 %, phân supe lân tăng 6,5%- 6,8%; phân NPK và hữu cơ tăng từ 5,2%-6,1%… so với áp dụng thuế GTGT 5% đối với phân bón. Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tăng giá bán sản phẩm, do vậy người nông dân phải gánh chịu mà không được hưởng lợi từ quy định của Luật thuế 71/2014/QH13. Cụ thể, giá nguyên liệu sản xuất tăng cao lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời giá bán phân bón trong nước phải cạnh tranh với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp liên tục bị sụt giảm lợi nhuận. Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5% – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa. Trong khi đó, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông thì phần lớn có thuế nhập khẩu bằng 0% và đặc biệt hầu hết các nước này có chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp.Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%. Trong khi theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất. Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Có thể khẳng định, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu. Trong khi doanh nghiệp trong nước giảm lợi nhuận để kìm giá phân bón thì lượng phân bón nhập khẩu tăng dần từng năm, nguyên nhân là giá các mặt hàng phân bón trên thế giới đều giảm bởi giá nguyên liệu đang ở mức thấp, giá than, giá khí đều thấp, khiến giá phân bón nhập khẩu giảm trung bình 10-20%. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất phân bón trong nước không thấp, giá than, giá khí không giảm, cộng với phải chịu ảnh hưởng từ Luật 71/2014/QH13, nên nhiều nhà máy sản xuất phân bón phải cắt giảm công suất và giảm giá sản phẩm tối đa để cạnh tranh.

Không thể để ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”

Nhiều doanh nghiệp sản xuất phân bón cho rằng, việc áp dụng Luật 71/2014/QH13 khiến mỗi doanh nghiệp mỗi năm thiệt hại cả trăm tỉ đồng. Để sản xuất 800.000 tấn phân bón mỗi năm, nhà máy phải nhập khẩu nguồn khí, đầu tư thiết bị tốn kém hàng trăm tỉ đồng. Tuy nhiên, phân bón không chịu thuế GTGT nên thuế của các nguyên liệu, vật tư cho sản xuất, sửa chữa máy móc, thiết bị không được khấu trừ, khiến các doanh nghiệp buộc phải đưa vào chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm. Điều này không hề có lợi cho cả doanh nghiệp sản xuất phân bón lẫn người nông dân.

Xuất bán tại Nhà máy Đạm Cà Mau

Ngoài ra, việc loại bỏ thuế GTGT đối với phân bón còn làm giảm đóng góp thuế GTGT của doanh nghiệp sản xuất phân bón cho ngân sách Nhà nước. Trong khi chi phí doanh nghiệp tăng lên, nguồn thu ngân sách Nhà nước lại giảm đi. Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.Hiện nay, hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón (đặc biệt là máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu của các nhà bản quyền) đều chịu thuế GTGT 10%. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Từ khi có Luật số 71/2014/QH13, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, tăng giá trị tài sản cố định. Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, 02 đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón khi thực hiện mở rộng đầu tư đã bị ảnh hưởng bởi Luật 71 dẫn đến thuế GTGT đầu vào trong quyết định đầu tư không được khấu trừ, ghi tăng tài sản, cụ thể: Tại Tổng công ty Phân bón Hóa chất Dầu khí – (PVFCCo) Dự án NPK khoảng 180 tỷ. Tại Công ty cổ phần Phân bón Cà Mau (PVCFC) Dự án (NPK) khoảng 80 tỷ đồng không được khấu trừ phải ghi nhận tăng tổng giá trị đầu tư (thuế GTGT không được khấu trừ từ năm 2015 đến 2018 khoảng 25,33 tỷ đồng).

Chính sách thuế bất cập có nguy cơ đẩy ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”, ngược xu thế, từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu. Về dài hạn nếu không có sự thay đổi thì họ buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh sang lĩnh vực khác. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì lẽ đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng và đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Thực tế, từ tháng 8-2017, Bộ Tài chính từng đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và dự thảo Luật sau đó đã quy định thuế suất cho sản phẩm phân bón là 5%, nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua do còn một số vướng mắc. 

Chính vì vậy, để góp phần tháo gỡ khó khăn kịp thời và tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà sản xuất phân bón – trong đó có 2 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hơn lúc nào hết Nhà nước cần xem xét quyết định cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 0% (không phần trăm) cho sản phẩm phân bón cho đến khi Luật sửa đổi Luật 71/2014/QH13 có hiệu lực./.

T.T – N.P 

VR 360