Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

NPK Phú Mỹ ra mắt dòng công thức mới: NPK Phú Mỹ 18-12-8+TE và NPK Phú Mỹ 18-10-8+8S+TE

Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo, nhà sản xuất kinh doanh phân bón Phú Mỹ, mã chứng khoán: DPM) vừa cho ra đời 2 dòng công thức sản phẩm mới là NPK PHÚ MỸ 18-12-8+TE và NPK 18-10-8+8S+TE. Mẻ đầu tiên 5000 (năm ngàn) tấn sản phẩm này đã được sản xuất thành công trong tháng 11/2021 và được đưa ngay tới các vùng miền, phục vụ cho bà con chăm bón vụ Đông Xuân – Mùa khô năm 2021-2022.

Đây là 2 công thức sản phẩm NPK có hàm lượng đạm cao, dinh dưỡng dạng dễ tiêu, tan nhanh giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng nhanh chóng, tránh lãng phí, rất thích hợp trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu nước…của mùa khô, thích hợp bón cho các loại cây trồng: bón mùa khô và đầu mùa mưa cho cây công nghiệp như cà phê, tiêu, cao su…; giai đoạn mạ-đẻ nhánh (lúa); cây ăn quả: bón sau thu hoạch; hoa màu ngắn ngày, rau ăn lá…

Sản phẩm cũng được đóng trong bao bì BOPP cao cấp, chống ẩm, thông tin ghi nhãn rõ ràng theo đúng quy định và có các loại bao khối lượng 25kg, 50kg để phù hợp với đặc thù từng vùng miền.

NPK Phú Mỹ 18-12-8+TE và NPK Phú Mỹ 18-10-8+8S+TE tiếp tục góp phần đa dạng hóa chuỗi sản phẩm NPK Phú Mỹ chất lượng cao, cũng như đóng góp thêm vào tổng sản lượng sản xuất kinh doanh NPK Phú Mỹ đang có sự tăng trưởng ngoạn mục trong năm 2021 với con số ước vượt trên 150.000 tấn.

Dưới đây là một số hình ảnh sản phẩm mới:

 

Thư chúc mừng của lãnh đạo Tập đoàn DKQG Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Ngành Dầu khí Việt Nam (27/11/1961 – 27/11/2021)

Tài liệu tải tại đây

Thư chúc mừng của lãnh đạo Tập đoàn DKQG Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Ngành Dầu khí Việt Nam (27/11/1961 – 27/11/2021)

Tài liệu tải tại đây

Để có được cơ đồ hôm nay, chúng ta đã vượt qua bao thử thách, thất bại và cả những đớn đau!

petrotimes.vn | 22/11/2021

Ông Bỳ Văn Tứ, nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ thuộc hàng ngũ những người đầu tiên xây dựng ngành Dầu khí Việt Nam, ông đã có những đóng góp xứng đáng mang lại vinh quang chung của ngành. Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam (27/11), ông Bỳ Văn Tứ đã chia sẻ với PetroTimes những cảm xúc truyền thống cũng như những trăn trở về tương lai của ngành.

PV: Là người gắn bó nhiều năm, dành nhiều tâm huyết với ngành Dầu khí Việt Nam nói chung cũng như lĩnh vực hóa dầu nói riêng, khi nhìn lại chặng đường 60 năm hình thành và phát triển của ngành Dầu khí, cảm xúc của ông thế nào, thưa ông?

Ông Bỳ Văn Tứ: Tôi vào nghề dầu khí từ năm 1971, khi vừa tốt nghiệp Học viện Dầu khí Rumani về nước, được làm việc tại Ban Dầu mỏ – Khí đốt (Ban Dầu khí) thuộc Tổng cục Hóa chất, tham gia nghiên cứu quy hoạch phát triển khâu hạ nguồn và soạn thảo các dự án lọc hóa dầu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ban Dầu khí là một trong 3 đơn vị tiền thân của Tổng cục Dầu khí được thành lập vào tháng 9/1975.

Để có được cơ đồ hôm nay, chúng ta đã vượt qua bao thử thách, thất bại và cả những đớn đau!
Ông Bỳ Văn Tứ – nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Ngành Dầu khí hiện nay thực sự là một ngành công nghiệp mũi nhọn, phát triển toàn diện từ khâu thượng nguồn tới khâu hạ nguồn, bao gồm cả dịch vụ kỹ thuật và sản xuất điện, đạt được những thành tựu vẻ vang. Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhìn nhận: “Suốt nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, ngành Dầu khí Việt Nam đã trở thành một tập đoàn kinh tế quan trọng, đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng đất nước, ngành Dầu khí đã góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội và đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia – năm 2011).

Thật là tự hào khi được đứng trong hàng ngũ những người đầu tiên xây dựng ngành Dầu khí Việt Nam, đã có những đóng góp xứng đáng vào thành quả chung, mang lại vinh quang chung. Có được cơ đồ như hôm nay, chúng ta đã phải vượt qua bao nhiêu thử thách của chiến tranh, khắc phục bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn của giai đoạn bao cấp, bị cấm vận, đã phải vắt kiệt tâm sức, trí tuệ để thực hiện các giải pháp, các phương án phát triển trong những hoàn cảnh rất phức tạp và cũng đã có những thất bại và đau đớn trước khi đạt được thành công…

Tôi luôn biết ơn các thủ trưởng ngành như: các cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Hòa, Trương Thiên, là những người thầy đáng kính, đã đào tạo, rèn luyện chúng tôi trưởng thành, truyền cho chúng tôi lòng đam mê nghề nghiệp, ý chí vươn lên, vượt qua thử thách để thành người Dầu khí trọn đời. Các vị tiền bối đã có công rất lớn đưa được con thuyền dầu khí vượt qua nhiều trận phong ba, bão tố tiếp tục tiến lên. Tôi cũng xin gửi niềm tri ân tới các đồng nghiệp đã cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, cống hiến sức lực, tâm trí, mồ hôi, nước mắt và cả tính mạng vì sự nghiệp chung.

Tôi hy vọng ngành Dầu Khí Việt Nam sẽ được các thế hệ đồng nghiệp tiếp tục phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

PV: Nói về thành công của Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ – “đứa con đầu lòng” của ngành hóa dầu, hẳn ông rất tự hào?

Ông Bỳ Văn Tứ: Nhà máy Đạm Phú Mỹ đi vào vận hành, sản xuất đã được 17 năm liên tục an toàn, liên tục có lãi, đạt hiệu quả cao. Nếu không có chủ trương đúng đắn, quyết sách dũng cảm của Thủ tướng Chính phủ, chưa chắc dự án đã được triển khai. Nếu lãnh đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam lúc đó không quyết tâm, chỉ đạo quyết liệt, giải quyết dứt điểm, kịp thời các thủ tục, các đề xuất của cơ sở, dự án đã không thể hoàn thành nhanh gọn, chất lượng tốt, chi phí dưới mức dự toán được duyệt.

Ban Quản lý Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ (trong đó có Chi bộ Đảng và các tổ chức quần chúng) đã nỗ lực, bài bản, đoàn kết trong việc thực hiện được mục tiêu “bất biến” là dự án phải thành công, với các giải pháp “vạn biến” về thu xếp tài chính, giải ngân hiệu quả, tiết kiệm; chọn công nghệ, thiết bị tiên tiến; chọn được nhà thầu có thực lực, có trách nhiệm và phối hợp chặt chẽ với nhà thầu; đào tạo đội ngũ vận hành kỹ lưỡng, kết hợp được kinh nghiệm thực tiễn với sức sáng tạo và tài năng trẻ trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ.

Ngoài ra là sự ủng hộ thực chất của các bộ ngành, chính quyền địa phương… Sức mạnh tổng hợp của các yếu tố tích cực đã làm nên thành công của việc thực hiện dự án cũng như việc vận hành sản xuất kinh doanh sau này. Trong đó, nhân tố tiên quyết, xuyên suốt quá trình ấy chính là con người. Con người quyết định thành bại, con người quyết định tất cả!

PV: Ông nhìn nhận thế nào về vai trò và đóng góp của ngành hóa dầu đối với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước trong suốt thời gian qua cũng như tương lai sắp tới?

Ông Bỳ Văn Tứ: Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các loại sản phẩm hóa dầu như các loại chất dẻo, nhựa, keo, sơn, sợi tổng hợp, chất tẩy rửa và các nguyên liệu có nguồn gốc hóa dầu đã hiện diện rất đa dạng trong đời sống hàng ngày, trong tất cả các ngành xây dựng, công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, chế biến nông sản, y dược, mỹ phẩm, dịch vụ, du lịch, quân sự… Có thể nói, chúng ta sống không thể thiếu các tiện ích, đồ dùng, dụng cụ, máy móc thiết bị, phương tiện, vật liệu… được làm bằng sản phẩm hóa dầu hoặc được chế biến qua hóa dầu. Điều này thì ai cũng biết!

Hiện nay, ngành Dầu khí sản xuất được 1,6 triệu tấn/năm phân đạm urea từ khí thiên nhiên từ hai nhà máy Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau, là sản phẩm hóa dầu chủ lực, đáp ứng được khoảng 60-70% nhu cầu thị trường nội địa, phục vụ nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Chúng ta cũng đã sản xuất được chất dẻo polypropilen ở Nhà máy Lọc hóa dầu Dung Quất, sợi tổng hợp polyester ở Đình Vũ, Hải Phòng, và có cổ phần trong Nhà máy PVC, chất hóa dẻo DOP. Tuy nhiên, những sản phẩm này chiếm thị phần không lớn trên thị trường nội địa.

Ngành công nghiệp hóa dầu Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai, chủng loại sản phẩm còn nghèo nàn, sản lượng ít, chất lượng thấp. Khoảng trống rất lớn giữa cung và cầu nội địa về sản phẩm hóa dầu đang được cân đối bằng nhập khẩu. Phần lớn các nguyên liệu, sản phẩm, bán thành phẩm hóa dầu đều đang phải nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam thực chất đang là thị trường tiêu thụ sản phẩm hóa dầu cho các nhà sản xuất từ Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Trung Đông.

Trước mắt, trong vòng 10-20 năm tới, ngành công nghiệp hỗ trợ cần được cung cấp nhiều nguyên liệu, sản phẩm, bán thành phẩm hóa dầu để thay thể các nguồn nhập khẩu, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản xuất nội địa.

PV: Ông đánh giá thế nào về triển vọng phát triển cũng như những thách thức, khó khăn của ngành hóa dầu trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Bỳ Văn Tứ: Triển vọng phát triển ngành hóa dầu ở Việt Nam trong thời gian tới rất sáng sủa. Mục tiêu chiến lược phát triển đất nước tới năm 2030 và 2045 đã được xác định rất rõ ràng trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Nhiều hiệp định thương mại đa phương và bảo hộ đầu tư đang đi vào hiệu lực. Qua đó thấy rằng, thị trường nội địa sẽ bùng nổ, các nguồn lực tương ứng sẽ được huy động tối đa, cơ hội đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sẽ rất nhiều.

Tuy nhiên, các thách thức lớn cũng dễ dàng nhận dạng: Trữ lượng dầu khí của ta có hạn, ngày càng cạn kiệt, nguồn tài chính trong nước không nhiều, chưa có công nghệ và thiết bị tiên tiến, trình độ quản lý đang cần được nâng cao qua học hỏi thực tiễn, năng suất lao động còn thấp, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, cơ sở hạ tầng còn chưa đủ, hệ thống chính sách, cơ chế và thủ tục quản lý đang cần được cải thiện… Trên thị trường thế giới và thị trường khu vực, nhiều sản phẩm hóa dầu đã dư thừa công suất, giá cả và chi phí rất cạnh tranh. Đối với những người mới nhập cuộc, cần nhiều nỗ lực và thời gian để xen vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thị trường ngách.

Ông Bỳ Văn Tứ trong ngày họp mặt truyền thống PVFCCo 

Như vậy có thể thấy rằng, có rất nhiều việc cần làm ngay, làm một cách đồng bộ theo những lộ trình thực tế tin cậy, phù hợp với mục tiêu và đếm ngược từng ngày để biến triển vọng thành khả thi, biến khả thi thành hiện thực.

Trong phạm vi ngành Dầu khí, phát triển hóa dầu trong Liên hợp Lọc hóa dầu Dung Quất, Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, cũng như các dự án chế biến khí thiên nhiên thành các sản phẩm hóa dầu là những dự án khả thi nên được xúc tiến càng sớm càng tốt. Trên phạm vi toàn quốc, các doanh nghiệp nhà nước đang mất dần lợi thế do năng suất thấp, hiệu quả thấp, sức cạnh tranh kém, nguồn lực hạn chế, thủ tục rườm rà, bị lợi ích nhóm chi phối. Để cải thiện tình hình cần có thời gian và những đột phá về nhiều mặt.

Chiến lược phát triển ngành hóa dầu ở Việt Nam như thế nào để góp phần thực hiện được các mục tiêu chiến lược chung do Đại hội Đảng XIII đặt ra có thể có nhiều lựa chọn về các sản phẩm phù hợp, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị từ khâu sản xuất tới các khâu phân phối, sử dụng từng sản phẩm, sự huy động các nguồn lực từ nhiều phía, mức độ nội địa hóa các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành sản xuất chủ lực, sự bùng nổ về phát triển hạ tầng trên cơ sở hành lang pháp lý thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế.

Thời gian 9 năm và 24 năm để đất nước vươn mình lên tầm cao của thế giới không phải là dài. Ngành hóa dầu nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói chung cần những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu.

PV: Xin cảm ơn ông đã chia sẻ!

Lê Trúc (Thực hiện)

 

Kim chỉ nam soi đường cho ngành Dầu khí Việt Nam

KIM CHỈ NAM SOI ĐƯỜNG CHO NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

Có thể khẳng định, kim chỉ nam xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển của Ngành Dầu khí, mà trọng tâm là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) chính là những định hướng, chỉ đạo, quyết sách đúng đắn và kịp thời của Đảng, Nhà nước. Nhiều nghị quyết, chỉ đạo, văn bản lần lượt ra đời nhằm định hướng, tạo hành lang pháp lý, để từ đó, Ngành Dầu khí đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Từ những quyết sách đầu tiên

Ngay sau chuyến thăm khu công nghiệp dầu lửa Bacu (nước Adecbaigian thuộc Liên Xô cũ) vào ngày 23/7/1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiều cán bộ đã được Đảng và Nhà nước cử sang Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa để học các chuyên ngành về dầu khí. Liên Xô cũng đã cử nhiều chuyên gia có kinh nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu khảo sát, đánh giá triển vọng dầu khí, từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể về công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền bắc Việt Nam mang tên “Báo cáo triển vọng dầu và khí ở miền Bắc Việt Nam”.

Trên cơ sở đó, Đoàn Thăm dò dầu lửa số 36 đã được thành lập ngày 27/11/1961. Nhưng do chiến tranh với bao khó khăn thiếu thốn, hiểm nguy bom đạn, phải sau 14 năm, Đoàn 36 mới phát hiện dòng khí thiên nhiên và condensate có giá trị thương mại tại giếng khoan 61 Tiền Hải (Thái Bình) với trữ lượng xác minh đến 1,3 tỷ m3, cung cấp nhiều thông tin quý giá về cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí ở miền võng Hà Nội và vùng trũng An Châu.

“Tôi nghĩ Việt Nam chúng tôi có biển, nhất định sẽ có dầu” – khắc ghi và quyết tâm thực hiện nguyện vọng của Bác Hồ, chỉ chưa đầy 3 tháng sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nghĩ ngay tới việc phải xây dựng ngành Công nghiệp Dầu khí. Dựa trên đánh giá tiềm năng lớn ở thềm lục địa Việt Nam, ngày 9/8/1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả nước. Đây cũng chính là văn bản đầu tiên về dầu khí của Đảng, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển toàn diện của Ngành Dầu khí Việt Nam.

Ngày 20/8/1975, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn Quyết nghị số 33-QN/QH/K5 thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Hơn 10 ngày sau, căn cứ vào các Nghị quyết và Quyết nghị trên, ngày 3/9/1975, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 170/CP về việc thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Đây có thể xem là một kỷ lục trong lịch sử xây dựng và phát triển kinh tế đất nước ta. Chỉ trong vòng 43 ngày, một đơn vị cấp Tổng cục đã ra đời, nắm trọng trách xây dựng một ngành kinh tế hoàn toàn mới mẻ, mang tính kỹ thuật cao và đặc thù, trong khi kinh nghiệm, tiềm lực của chúng ta gần như bằng 0 và đất nước còn bộn bề công việc sau chiến tranh.

Quyết tâm, khát vọng xây dựng và phát triển kinh tế, tập trung ngay lập tức vào tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của Đảng và Chính phủ đã được nêu rõ trong Nghị quyết 244: “Nhanh chóng hình thành một nền Công nghiệp Dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ Ngành Dầu khí…”. Với tầm nhìn xa, Nghị quyết còn khẳng định: “Trong quá trình hợp tác, chúng ta phải giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ, nhanh chóng tăng cường tiềm lực của mình, tiến tới tự lực ở mức cao nhất có thể”.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, trước yêu cầu cấp bách về tìm kiếm thăm dò dầu khí, Đảng đã lập tức cử những tướng lĩnh quân đội dày dặn kinh nghiệm trong trận mạc, có ý chí và tinh thần kỷ luật cao cùng với các đơn vị làm kinh tế của quân đội về xây dựng ngành Dầu khí. Cho đến bây giờ, các thế hệ lão thành của Ngành Dầu khí không thể quên được vào những ngày cuối năm 1975, hàng ngàn người lính đã rời tay súng để xắn tay áo xây dựng một nền công nghiệp mới mẻ. Những người lính ấy hoàn toàn không có một chút vốn kiến thức nào về dầu khí, tay nghề cơ khí, kỹ thuật cũng hoàn toàn không. Ấy thế mà, chính tay họ đã xây dựng nên những khu căn cứ dịch vụ cho Ngành Dầu khí, đã xông ra biển để tìm kiếm thăm dò. Tranh thủ từng ngày, từng giờ để học hỏi ở các chuyên gia nước ngoài. Những người đi tìm lửa thế hệ ấy đã cống hiến toàn bộ tuổi trẻ, sức lực, hoài bão của mình để theo đuổi mục tiêu: tìm dầu để làm giàu cho Tổ quốc.

Đến những năm cuối thập niên 70, với quyết tâm kiên trì xây dựng Ngành Dầu khí làm động lực để công nghiệp hóa và phát triển nền kinh tế, Bộ Chính trị đã ký hiệp định hợp tác chiến lược với Liên Xô, trong đó có việc liên doanh hợp tác thăm dò và khai thác Dầu khí trên một số lô ở thềm lục địa phía nam Việt Nam. Thành quả đầu tiên là sự ra đời của Vietsovpetro cùng các hoạt động thăm dò dầu khí ở bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn.

Vững tin từ trong gian khó

Năm 1988, việc phát hiện và tổ chức khai thác hiệu quả với sản lượng cao tầng dầu trữ lượng lớn trong đá móng nứt nẻ mỏ Bạch Hổ đã đi vào lịch sử khai thác dầu khí thế giới. Chúng ta cũng không thể quên được chỉ trước đó một năm, các giếng dầu mới có được của Vietsovpetro đã bắt đầu suy giảm sản lượng đến mức độ không thể tưởng tượng nổi. Hàng loạt chuyên gia phía Liên Xô bị điều chuyển hoặc xử lý kỷ luật vì kết quả hoạt động quá kém của Liên doanh. Thậm chí người ta đã nghĩ đến việc giải thể Vietsovpetro. Nhưng lãnh đạo Đảng, Nhà nước vẫn giữ niềm tin và sự kỳ vọng vào người Dầu khí, vẫn luôn chia sẻ, động viên để anh em vững tâm suy nghĩ, tìm tòi, giải đáp những vấn đề khó về khoa học kỹ thuật. Kết quả, lần đầu tiên trên thế giới, người Dầu khí Việt Nam chúng ta đã tìm ra dầu ở tầng đá móng. Thành công này đã không chỉ cứu sống Vietsovpetro, còn mở ra một chương mới cho toàn bộ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Ngay sau sự kiện phát hiện bước ngoặt này, ngày 7/7/1988, Bộ Chính trị đã lập tức ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về Phương hướng phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2000, khẳng định quan điểm đổi mới trong hoạt động dầu khí, tạo ra một chân trời rộng mở cho Ngành Dầu khí Việt Nam lớn mạnh. Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2005, Ngành Dầu khí Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác quốc tế sâu rộng, đưa sản lượng và trữ lượng dầu khí tăng nhanh.

Năm 2006, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 41-KL/TW về Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến 2025, cùng với việc phê duyệt thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam của Chính phủ. Tập đoàn tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử theo ý nguyện của Bác Hồ – hoàn chỉnh và hiện đại hóa chuỗi công nghệ dầu khí, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến phát triển công nghiệp khí – công nghiệp điện, chế biến và dịch vụ dầu khí chất lượng cao; với sự ra đời các trung tâm sản xuất điện như Nhơn Trạch, cụm công nghiệp Khí – Điện – Đạm Cà Mau, nhà máy lọc dầu Dung Quất…

Trong giai đoạn này, nhờ có sự ủng hộ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều dự án, công trình dầu khí đã được triển khai và đang có đóng góp lớn cho đất nước. Như việc xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, đã có không ít ý kiến phản đối, đã có nhiều người nghi ngờ về trình độ của người Dầu khí khi làm nhà máy chế biến lọc dầu nhưng lúc đó Bộ Chính trị, Chính phủ và cá nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã luôn đứng bên cạnh người Dầu khí. Chính quyết tâm, ý chí của ông đã khiến người Dầu khí càng thêm tin tưởng, quyết tâm để xây dựng nhà máy.

Hay như việc xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Nhà máy khí Dinh Cố, Cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau, Nhà máy thủy điện Hủa Na, Đak-đrinh… quá trình triển khai cũng luôn vấp phải sự phản đối, nghi ngờ không nhỏ. Nhưng vượt lên trên tất cả, với sự tin tưởng, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lần lượt những công trình, dự án trên đã được hoàn thành, đi vào hoạt động. Nếu không có sự tin tưởng, ủng hộ đó, nếu không có ai dám dấn thân, xông pha nơi tuyến đầu “hiểm nguy” thử thách, liệu Ngành Công nghiệp Dầu khí không biết sẽ đi đến đâu?

Và càng không thể không nhắc đến Dự án Biển Đông 01 khai thác khí và condensate ở cụm mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh, “con gà đẻ trứng vàng” cho kinh tế đất nước với hơn 957 triệu đô la Mỹ nộp vào ngân sách sau gần 8 năm khai thác (tính đến 28/6/2021). Nhưng không nhiều người biết, dự án này khai thác ở khu vực có cấu tạo địa chất vào loại khó và nguy hiểm nhất trên thế giới bởi áp suất khí cực cao và nhiệt độ quá lớn. Khai thác dầu khí ở đây khó và nguy hiểm đến nỗi tập đoàn dầu khí hàng dầu thế giới BP của Anh đã phải từ bỏ sau khi đã đổ 500 triệu USD vào dự án với 9 năm thăm dò, nghiên cứu. Nhưng với sự ủng hộ quyết liệt, mạnh mẽ của Chính phủ, sự đồng hành của các bộ, ngành, trên hết là sự tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh của người Dầu khí. Cho đến bây giờ, những người tham gia xây dựng dự án đều khẳng định, nếu không có quyết tâm của Chính phủ, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chắc chắn không thể có được dự án Biển Đông 01 thành công ngày hôm nay.

Phải có một khát vọng về tương lai hùng cường

Bằng tinh thần “Đổi mới quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời” với phương châm “Đồng tâm hiệp lực, hiện đại, hội nhập, tăng tốc phát triển”, doanh thu của Petrovietnam giai đoạn 2006 – 2010 đã tăng bình quân 5 năm đạt trên 22%/năm, tương đương 18-20% GDP cả nước; Nộp ngân sách nhà nước tăng bình quân 14%/năm, chiếm trung bình 28-30%/năm tổng thu ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2011-2015, Tập đoàn trở thành đơn vị kinh tế chủ lực của đất nước với quy mô, tổng tài sản lớn nhất trong các ngành kinh tế, đóng góp cho ngân sách Nhà nước vượt 214,1 nghìn tỉ đồng – tương đương khoảng 10,1 tỉ USD so với kế hoạch.

Nhưng cũng chính vào giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã nhìn ra những vấn đề nội tại của Petrovietnam, Ngành Dầu khí liên tiếp đối mặt với nhiều khó khăn do giá dầu biến động rất khó lường, các yếu kém trong công tác quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, trong công tác cán bộ; công tác kiểm tra giám sát chưa hiệu quả… mà nếu chậm thay đổi phương thức thể chế về quản lý sẽ là rào cản ngăn bước phát triển của Tập đoàn trong tương lai.

Trong bối cảnh đó, ngày 23/7/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về định hướng Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”, mà trong đó, điểm cực kỳ quan trọng là Nghị quyết đã nêu định hướng phát triển cho Tập đoàn: “Phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam theo nguyên tắc kinh tế thị trường; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường tính chủ động trong quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nghị quyết số 41-NQ/TW đã mở ra một vận hội mới cho sự phát triển của Tập đoàn, động lực lớn lao đối với niềm tin và khát vọng của mỗi người Dầu khí.

Tiếp đó, ngày 16/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Dầu khí, tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng bảo đảm cho Ngành Dầu khí phát triển mạnh mẽ và ổn định theo hướng hiện đại, tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế.

Tại Hội nghị tổng kết và triển khai nhiệm vụ năm 2020 của Petrovietnam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng nhấn mạnh: “Các đồng chí đã lấy lại được đà tăng trưởng mới, trạng thái bình thường mới. Có nhiều điều mà chúng ta trăn trở tưởng không gượng dậy nổi nhưng chúng ta đã gượng dậy, đoàn kết và quyết tâm đưa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiến lên. Đây là cố gắng rất lớn. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói với tôi là đồng chí Thủ tướng hôm nay dự động viên anh em Dầu khí Quốc gia Việt Nam để khẳng định những thành quả, những chuyển mình đã vươn lên từ bị động khó khăn lấy lại đà tăng trưởng mới trong bối cảnh mới”. Ghi nhận của người đứng đầu Chính phủ chính là điểm tựa tinh thần vững chắc để Petrovietnam được tiếp thêm sức mạnh vượt khó khăn, thách thức.

Petrovietnam – hạt nhân nòng cốt của Ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam, đến nay đã xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ chuỗi Công nghiệp Dầu khí từ khâu thượng nguồn, trung nguồn, đến hạ nguồn. Hoạt động của Ngành Dầu khí hiện nay đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, là động lực phát triển tại nhiều vùng, địa phương. Các sản phẩm chủ lực của Petrovietnam như điện, phân đạm, xăng, dầu, khí… đang góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực cho đất nước, tạo nền tảng cho nhiều ngành, lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, 10 tháng đầu năm 2021, Petrovietnam đã có đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước là 75,4 nghìn tỷ đồng, vượt 21% kế hoạch năm 2021 và vượt 23% so với cùng kỳ năm 2020. Trong khi nhiều doanh nghiệp lớn gặp khó khăn, thua lỗ bởi ảnh hưởng của đại dịch, những đóng góp quan trọng của Petrovietnam đã thể hiện nỗ lực rất lớn của tập thể lãnh đạo Petrovietnam, các đơn vị thành viên và gần 6 vạn người lao động Dầu khí.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta thấy rằng: Ngành Dầu khí mà chủ lực là Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong các bước ngoặt lịch sử đều có dấu ấn và sự chỉ đạo, định hướng kịp thời, trên hết là niềm tin tuyệt đối của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính sự tin tưởng trong mọi thời điểm đã giúp Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vững bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức – dẫu biết khó khăn, thách thức trên chặng đường phía trước còn rất lớn, nhưng tin rằng, với bản lĩnh đã được trui rèn và khát vọng cống hiến luôn “rực cháy” trong mỗi người Dầu khí, đặc biệt là sự tin tưởng, ủng hộ của Đảng, Nhà nước, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mới, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Phải có một khát vọng về tương lai hùng cường – sẽ luôn là một mệnh lệnh, kim chỉ nam soi đường cho mỗi người lao động Dầu khí hôm nay!

Kim chỉ nam soi đường cho ngành Dầu khí Việt Nam

KIM CHỈ NAM SOI ĐƯỜNG CHO NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

Có thể khẳng định, kim chỉ nam xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển của Ngành Dầu khí, mà trọng tâm là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) chính là những định hướng, chỉ đạo, quyết sách đúng đắn và kịp thời của Đảng, Nhà nước. Nhiều nghị quyết, chỉ đạo, văn bản lần lượt ra đời nhằm định hướng, tạo hành lang pháp lý, để từ đó, Ngành Dầu khí đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Từ những quyết sách đầu tiên

Ngay sau chuyến thăm khu công nghiệp dầu lửa Bacu (nước Adecbaigian thuộc Liên Xô cũ) vào ngày 23/7/1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiều cán bộ đã được Đảng và Nhà nước cử sang Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa để học các chuyên ngành về dầu khí. Liên Xô cũng đã cử nhiều chuyên gia có kinh nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu khảo sát, đánh giá triển vọng dầu khí, từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể về công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền bắc Việt Nam mang tên “Báo cáo triển vọng dầu và khí ở miền Bắc Việt Nam”.

Trên cơ sở đó, Đoàn Thăm dò dầu lửa số 36 đã được thành lập ngày 27/11/1961. Nhưng do chiến tranh với bao khó khăn thiếu thốn, hiểm nguy bom đạn, phải sau 14 năm, Đoàn 36 mới phát hiện dòng khí thiên nhiên và condensate có giá trị thương mại tại giếng khoan 61 Tiền Hải (Thái Bình) với trữ lượng xác minh đến 1,3 tỷ m3, cung cấp nhiều thông tin quý giá về cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí ở miền võng Hà Nội và vùng trũng An Châu.

“Tôi nghĩ Việt Nam chúng tôi có biển, nhất định sẽ có dầu” – khắc ghi và quyết tâm thực hiện nguyện vọng của Bác Hồ, chỉ chưa đầy 3 tháng sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nghĩ ngay tới việc phải xây dựng ngành Công nghiệp Dầu khí. Dựa trên đánh giá tiềm năng lớn ở thềm lục địa Việt Nam, ngày 9/8/1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả nước. Đây cũng chính là văn bản đầu tiên về dầu khí của Đảng, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển toàn diện của Ngành Dầu khí Việt Nam.

Ngày 20/8/1975, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn Quyết nghị số 33-QN/QH/K5 thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Hơn 10 ngày sau, căn cứ vào các Nghị quyết và Quyết nghị trên, ngày 3/9/1975, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 170/CP về việc thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Đây có thể xem là một kỷ lục trong lịch sử xây dựng và phát triển kinh tế đất nước ta. Chỉ trong vòng 43 ngày, một đơn vị cấp Tổng cục đã ra đời, nắm trọng trách xây dựng một ngành kinh tế hoàn toàn mới mẻ, mang tính kỹ thuật cao và đặc thù, trong khi kinh nghiệm, tiềm lực của chúng ta gần như bằng 0 và đất nước còn bộn bề công việc sau chiến tranh.

Quyết tâm, khát vọng xây dựng và phát triển kinh tế, tập trung ngay lập tức vào tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của Đảng và Chính phủ đã được nêu rõ trong Nghị quyết 244: “Nhanh chóng hình thành một nền Công nghiệp Dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ Ngành Dầu khí…”. Với tầm nhìn xa, Nghị quyết còn khẳng định: “Trong quá trình hợp tác, chúng ta phải giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ, nhanh chóng tăng cường tiềm lực của mình, tiến tới tự lực ở mức cao nhất có thể”.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, trước yêu cầu cấp bách về tìm kiếm thăm dò dầu khí, Đảng đã lập tức cử những tướng lĩnh quân đội dày dặn kinh nghiệm trong trận mạc, có ý chí và tinh thần kỷ luật cao cùng với các đơn vị làm kinh tế của quân đội về xây dựng ngành Dầu khí. Cho đến bây giờ, các thế hệ lão thành của Ngành Dầu khí không thể quên được vào những ngày cuối năm 1975, hàng ngàn người lính đã rời tay súng để xắn tay áo xây dựng một nền công nghiệp mới mẻ. Những người lính ấy hoàn toàn không có một chút vốn kiến thức nào về dầu khí, tay nghề cơ khí, kỹ thuật cũng hoàn toàn không. Ấy thế mà, chính tay họ đã xây dựng nên những khu căn cứ dịch vụ cho Ngành Dầu khí, đã xông ra biển để tìm kiếm thăm dò. Tranh thủ từng ngày, từng giờ để học hỏi ở các chuyên gia nước ngoài. Những người đi tìm lửa thế hệ ấy đã cống hiến toàn bộ tuổi trẻ, sức lực, hoài bão của mình để theo đuổi mục tiêu: tìm dầu để làm giàu cho Tổ quốc.

Đến những năm cuối thập niên 70, với quyết tâm kiên trì xây dựng Ngành Dầu khí làm động lực để công nghiệp hóa và phát triển nền kinh tế, Bộ Chính trị đã ký hiệp định hợp tác chiến lược với Liên Xô, trong đó có việc liên doanh hợp tác thăm dò và khai thác Dầu khí trên một số lô ở thềm lục địa phía nam Việt Nam. Thành quả đầu tiên là sự ra đời của Vietsovpetro cùng các hoạt động thăm dò dầu khí ở bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn.

Vững tin từ trong gian khó

Năm 1988, việc phát hiện và tổ chức khai thác hiệu quả với sản lượng cao tầng dầu trữ lượng lớn trong đá móng nứt nẻ mỏ Bạch Hổ đã đi vào lịch sử khai thác dầu khí thế giới. Chúng ta cũng không thể quên được chỉ trước đó một năm, các giếng dầu mới có được của Vietsovpetro đã bắt đầu suy giảm sản lượng đến mức độ không thể tưởng tượng nổi. Hàng loạt chuyên gia phía Liên Xô bị điều chuyển hoặc xử lý kỷ luật vì kết quả hoạt động quá kém của Liên doanh. Thậm chí người ta đã nghĩ đến việc giải thể Vietsovpetro. Nhưng lãnh đạo Đảng, Nhà nước vẫn giữ niềm tin và sự kỳ vọng vào người Dầu khí, vẫn luôn chia sẻ, động viên để anh em vững tâm suy nghĩ, tìm tòi, giải đáp những vấn đề khó về khoa học kỹ thuật. Kết quả, lần đầu tiên trên thế giới, người Dầu khí Việt Nam chúng ta đã tìm ra dầu ở tầng đá móng. Thành công này đã không chỉ cứu sống Vietsovpetro, còn mở ra một chương mới cho toàn bộ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Ngay sau sự kiện phát hiện bước ngoặt này, ngày 7/7/1988, Bộ Chính trị đã lập tức ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về Phương hướng phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2000, khẳng định quan điểm đổi mới trong hoạt động dầu khí, tạo ra một chân trời rộng mở cho Ngành Dầu khí Việt Nam lớn mạnh. Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2005, Ngành Dầu khí Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác quốc tế sâu rộng, đưa sản lượng và trữ lượng dầu khí tăng nhanh.

Năm 2006, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 41-KL/TW về Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến 2025, cùng với việc phê duyệt thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam của Chính phủ. Tập đoàn tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử theo ý nguyện của Bác Hồ – hoàn chỉnh và hiện đại hóa chuỗi công nghệ dầu khí, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến phát triển công nghiệp khí – công nghiệp điện, chế biến và dịch vụ dầu khí chất lượng cao; với sự ra đời các trung tâm sản xuất điện như Nhơn Trạch, cụm công nghiệp Khí – Điện – Đạm Cà Mau, nhà máy lọc dầu Dung Quất…

Trong giai đoạn này, nhờ có sự ủng hộ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều dự án, công trình dầu khí đã được triển khai và đang có đóng góp lớn cho đất nước. Như việc xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, đã có không ít ý kiến phản đối, đã có nhiều người nghi ngờ về trình độ của người Dầu khí khi làm nhà máy chế biến lọc dầu nhưng lúc đó Bộ Chính trị, Chính phủ và cá nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã luôn đứng bên cạnh người Dầu khí. Chính quyết tâm, ý chí của ông đã khiến người Dầu khí càng thêm tin tưởng, quyết tâm để xây dựng nhà máy.

Hay như việc xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Nhà máy khí Dinh Cố, Cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau, Nhà máy thủy điện Hủa Na, Đak-đrinh… quá trình triển khai cũng luôn vấp phải sự phản đối, nghi ngờ không nhỏ. Nhưng vượt lên trên tất cả, với sự tin tưởng, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lần lượt những công trình, dự án trên đã được hoàn thành, đi vào hoạt động. Nếu không có sự tin tưởng, ủng hộ đó, nếu không có ai dám dấn thân, xông pha nơi tuyến đầu “hiểm nguy” thử thách, liệu Ngành Công nghiệp Dầu khí không biết sẽ đi đến đâu?

Và càng không thể không nhắc đến Dự án Biển Đông 01 khai thác khí và condensate ở cụm mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh, “con gà đẻ trứng vàng” cho kinh tế đất nước với hơn 957 triệu đô la Mỹ nộp vào ngân sách sau gần 8 năm khai thác (tính đến 28/6/2021). Nhưng không nhiều người biết, dự án này khai thác ở khu vực có cấu tạo địa chất vào loại khó và nguy hiểm nhất trên thế giới bởi áp suất khí cực cao và nhiệt độ quá lớn. Khai thác dầu khí ở đây khó và nguy hiểm đến nỗi tập đoàn dầu khí hàng dầu thế giới BP của Anh đã phải từ bỏ sau khi đã đổ 500 triệu USD vào dự án với 9 năm thăm dò, nghiên cứu. Nhưng với sự ủng hộ quyết liệt, mạnh mẽ của Chính phủ, sự đồng hành của các bộ, ngành, trên hết là sự tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh của người Dầu khí. Cho đến bây giờ, những người tham gia xây dựng dự án đều khẳng định, nếu không có quyết tâm của Chính phủ, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chắc chắn không thể có được dự án Biển Đông 01 thành công ngày hôm nay.

Phải có một khát vọng về tương lai hùng cường

Bằng tinh thần “Đổi mới quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời” với phương châm “Đồng tâm hiệp lực, hiện đại, hội nhập, tăng tốc phát triển”, doanh thu của Petrovietnam giai đoạn 2006 – 2010 đã tăng bình quân 5 năm đạt trên 22%/năm, tương đương 18-20% GDP cả nước; Nộp ngân sách nhà nước tăng bình quân 14%/năm, chiếm trung bình 28-30%/năm tổng thu ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2011-2015, Tập đoàn trở thành đơn vị kinh tế chủ lực của đất nước với quy mô, tổng tài sản lớn nhất trong các ngành kinh tế, đóng góp cho ngân sách Nhà nước vượt 214,1 nghìn tỉ đồng – tương đương khoảng 10,1 tỉ USD so với kế hoạch.

Nhưng cũng chính vào giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã nhìn ra những vấn đề nội tại của Petrovietnam, Ngành Dầu khí liên tiếp đối mặt với nhiều khó khăn do giá dầu biến động rất khó lường, các yếu kém trong công tác quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, trong công tác cán bộ; công tác kiểm tra giám sát chưa hiệu quả… mà nếu chậm thay đổi phương thức thể chế về quản lý sẽ là rào cản ngăn bước phát triển của Tập đoàn trong tương lai.

Trong bối cảnh đó, ngày 23/7/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về định hướng Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”, mà trong đó, điểm cực kỳ quan trọng là Nghị quyết đã nêu định hướng phát triển cho Tập đoàn: “Phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam theo nguyên tắc kinh tế thị trường; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường tính chủ động trong quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nghị quyết số 41-NQ/TW đã mở ra một vận hội mới cho sự phát triển của Tập đoàn, động lực lớn lao đối với niềm tin và khát vọng của mỗi người Dầu khí.

Tiếp đó, ngày 16/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Dầu khí, tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng bảo đảm cho Ngành Dầu khí phát triển mạnh mẽ và ổn định theo hướng hiện đại, tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế.

Tại Hội nghị tổng kết và triển khai nhiệm vụ năm 2020 của Petrovietnam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng nhấn mạnh: “Các đồng chí đã lấy lại được đà tăng trưởng mới, trạng thái bình thường mới. Có nhiều điều mà chúng ta trăn trở tưởng không gượng dậy nổi nhưng chúng ta đã gượng dậy, đoàn kết và quyết tâm đưa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiến lên. Đây là cố gắng rất lớn. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói với tôi là đồng chí Thủ tướng hôm nay dự động viên anh em Dầu khí Quốc gia Việt Nam để khẳng định những thành quả, những chuyển mình đã vươn lên từ bị động khó khăn lấy lại đà tăng trưởng mới trong bối cảnh mới”. Ghi nhận của người đứng đầu Chính phủ chính là điểm tựa tinh thần vững chắc để Petrovietnam được tiếp thêm sức mạnh vượt khó khăn, thách thức.

Petrovietnam – hạt nhân nòng cốt của Ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam, đến nay đã xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ chuỗi Công nghiệp Dầu khí từ khâu thượng nguồn, trung nguồn, đến hạ nguồn. Hoạt động của Ngành Dầu khí hiện nay đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, là động lực phát triển tại nhiều vùng, địa phương. Các sản phẩm chủ lực của Petrovietnam như điện, phân đạm, xăng, dầu, khí… đang góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực cho đất nước, tạo nền tảng cho nhiều ngành, lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, 10 tháng đầu năm 2021, Petrovietnam đã có đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước là 75,4 nghìn tỷ đồng, vượt 21% kế hoạch năm 2021 và vượt 23% so với cùng kỳ năm 2020. Trong khi nhiều doanh nghiệp lớn gặp khó khăn, thua lỗ bởi ảnh hưởng của đại dịch, những đóng góp quan trọng của Petrovietnam đã thể hiện nỗ lực rất lớn của tập thể lãnh đạo Petrovietnam, các đơn vị thành viên và gần 6 vạn người lao động Dầu khí.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta thấy rằng: Ngành Dầu khí mà chủ lực là Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong các bước ngoặt lịch sử đều có dấu ấn và sự chỉ đạo, định hướng kịp thời, trên hết là niềm tin tuyệt đối của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính sự tin tưởng trong mọi thời điểm đã giúp Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vững bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức – dẫu biết khó khăn, thách thức trên chặng đường phía trước còn rất lớn, nhưng tin rằng, với bản lĩnh đã được trui rèn và khát vọng cống hiến luôn “rực cháy” trong mỗi người Dầu khí, đặc biệt là sự tin tưởng, ủng hộ của Đảng, Nhà nước, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mới, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Phải có một khát vọng về tương lai hùng cường – sẽ luôn là một mệnh lệnh, kim chỉ nam soi đường cho mỗi người lao động Dầu khí hôm nay!

Petrovietnam trao tặng 3 xe cứu thương cho tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Sáng ngày 12/11/2021,  được sự ủy quyền của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã tổ chức Lễ trao tặng 3 xe cứu thương nhằm phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19 cho tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Tham dự buổi lễ về phía tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có ông Trần Văn Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng BCĐ Phòng, chống dịch COVID-19 tỉnh; ông Nguyễn Kế Toại – Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh BRVT. Về phía PVFCCo có ông Lê Cự Tân – Tổng Giám đốc TCT; ông Tống Xuân Phong – Chủ tịch Công đoàn TCT; ông Nguyễn Đình Hùng – Phó Giám Đốc Nhà máy Đạm Phú Mỹ.

3 xe cứu thương Huyndai Solati do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PVFCCo trao tặng có tổng trị giá gần 3,3 tỷ đồng được trang bị đầy đủ trang thiết bị cấp cứu, đặc biệt để phục vụ chở các bệnh nhân nhiễm Covid-19 . Đây là món quà thể hiện tình cảm, sự sẻ chia, trách nhiệm chung tay phòng, chống dịch với tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Sau buổi Lễ tiếp nhận, 3 xe cứu thương đã được bàn giao cho Trung tâm Y tế các huyện Châu Đức, Đất Đỏ và Xuyên Mộc để có thêm phương tiện vận chuyển, cấp cứu bệnh nhân và phục vụ cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại địa phương.

Tại buổi Lễ, ông Lê Cự Tân đã gửi lời cảm ơn chân thành nhất vì luôn được các cấp lãnh đạo, ban ngành tỉnh nhà quan tâm, tạo điều kiện trong mọi hoạt động của PVFCCo nói chung và Nhà máy Đạm Phú Mỹ nói riêng, đặc biệt là được quan tâm phủ đủ 2 mũi vaccine để CBCNV yên tâm lao động sản xuất. Chính nhờ sự quan tâm hỗ trợ quý báu đó, mà năm 2021, dù tình hình dịch bệnh rất căng thẳng, Nhà máy trải qua kỳ bảo dưỡng tổng thể định kỳ, ngay sau đó lại bước vào thời kỳ sản xuất kinh doanh “3 tại chỗ” dài ngày, hoạt động của PVFCCo và Nhà máy Đạm Phú Mỹ luôn được thông suốt, an toàn, góp phần cung ứng phân bón cho bà con nông dân. PVFCCo đặt quyết tâm sẽ nỗ lực hơn nữa trong sản xuất kinh doanh thời gian tới cũng như tiếp tục chung tay cùng Tỉnh nhà trong công tác an sinh xã hội, cộng đồng.

Phát biểu tại Lễ tiếp nhận, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Văn Tuấn trân trọng cảm ơn sự đồng hành, chia sẻ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đối với công tác an sinh xã hội tại địa phương, trong đó có công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đồng thời khẳng định, món quà ý nghĩa này giúp ngành y tế tỉnh có thêm động lực, nguồn lực để phòng ,chống dịch. Ông Trần Văn Tuấn mong muốn thời gian tới, các đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, trong đó có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp tục quan tâm, chia sẻ, góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác phòng, chống dịch COVID-19 và an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

Chương trình Tài trợ xe cứu thương cho các bệnh viện trên cả nước là chương trình trọng điểm do Petrovietnam và các đơn vị thành viên như PVFCCo phối hợp với Bộ Y thực hiện. Chương trình dự kiến sẽ hoàn thành và lựa chọn các đơn vị cung cấp trong vòng 1,5 tháng với tổng số xe cứu thương là 50 xe. Đến nay, Petrovietnam đã hoàn thành đưa vào bàn giao sử dụng tại một số địa phương trên cả nước, như tại thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Thái Bình, tỉnh Hậu Giang…..

Bí thư Đảng Ủy, Chủ tịch HĐTV PVN Hoàng Quốc Vượng làm việc với PVFCCo

Vào sáng ngày 10/11/2021, đoàn công tác của Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) do đồng chí Hoàng Quốc Vượng –Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn dẫn đầu đã đến thăm và làm việc với Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) tại trụ sở Tổng công ty. Tham gia đoàn công tác còn có các đồng chí lãnh đạo đại diện các Ban chuyên môn/Văn phòng Tập đoàn. Tiếp và làm việc với đoàn công tác, về phía BLĐ PVFCCo có đồng chí Hoàng Trọng Dũng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT TCT; đồng chí Lê Cự Tân – Ủy viên BCH Đảng bộ Tập đoàn, Phó Bí thư Đảng ủy, TGĐ TCT cùng Các đ/c trong BTV Đảng ủy, Người đại diện PVN trong HĐQT, Ban TGĐ, Ban kiểm soát và lãnh đạo các Ban/VP tham mưu giúp việc cho Đảng ủy, HĐQT và Ban điều hành.

Mở đầu chương trình làm việc, đồng chí Phan Anh Minh – UVTV Đảng ủy, Trưởng ban TC&QTNNL Tập đoàn đã công bố Quyết định nhân sự Bí thư Đảng ủy Tổng Công ty nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng chí Hoàng Quốc Vượng đã trao quyết định và tặng hoa chúc mừng đồng chí Hoàng Trọng Dũng giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy PVFCCo  nhiệm kỳ 2020 – 2025.

https://pvkexd.stripocdn.email/content/guids/CABINET_b83e6fe30997c6a11d301740293053bf/images/image001_0bU.jpg

Phát biểu sau khi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Trọng Dũng đã bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới  đồng chí Hoàng Quốc Vượng, các đồng chí trong BTV Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn; Ban Chấp hành Đảng bộ và Tập thể lãnh đạo PVFCCo đã tin tưởng, tín nhiệm giới thiệu vào BCH, Ban thường vụ và chỉ định giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy PVFCCo nhiệm kỳ 2020 -2025. Với trọng trách được giao là Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Trọng Dũng cam kết sẽ nỗ lực cố gắng, không ngừng học tập, rèn luyện, vượt qua khó khăn, thách thức, tận tâm, tận tụy, chung sức, đồng lòng cùng tập thể BCH Đảng bộ và lãnh đạo PVFCCo đoàn kết, thống nhất, dân chủ, năng động, sáng tạo xây dựng Đảng bộ PVFCCo trong sạch, vững mạnh.

https://pvkexd.stripocdn.email/content/guids/CABINET_b83e6fe30997c6a11d301740293053bf/images/image005_QAq.jpg

Tiếp đó, thay mặt Đảng ủy PVFCCo, đồng chí Hoàng Trọng Dũng đã báo cáo tình hình của Đảng bộ PVFCCo: Giới thiệu sơ bộ về quá trình phát triển Đảng bộ PVFCCo, số lượng cơ sở Đảng, Đảng viên, các thuận lợi và khó khăn trong công tác xây dựng/sinh hoạt Đảng trong thời gian vừa qua. Đồng chí Hoàng Trọng Dũng cũng đã báo cáo tình hình kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy PVFCCo 10 tháng đầu năm 2021. Cụ thể: Thực hiện Chương trình công tác năm 2021; Nghị quyết về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tổng công ty và Nghị quyết số 56-NQ/ĐU ngày 31/03/2021 của Đảng ủy Tập đoàn về giao nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2021 cho Cấp ủy, Người đứng đầu cấp ủy/đơn vị, Đảng ủy Tổng công ty đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2021. Đến nay, Đảng ủy TCT đã lãnh đạo thực hiện hoàn thành cơ bản 5/8 nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác 2021; Hoàn thành cơ bản 4/5 nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2021 mà BTV Đảng ủy Tập đoàn đã giao tại Nghị quyết số 56 ngày 31/3/2021. Các công tác về Xây dựng Đảng, tái cơ cấu, phòng chống tham nhũng, lãnh phí tiêu cực cũng đã được Đảng ủy Tổng công ty luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao và đạt được kết quả tích cực.

https://pvkexd.stripocdn.email/content/guids/CABINET_b83e6fe30997c6a11d301740293053bf/images/image007_wZ5.jpg

Tiếp tục chương trình, đồng chí Lê Cự Tân đã báo cáo chi tiết đến đồng chí Hoàng Quốc Vượng và đoàn công tác về tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của PVFCCo trong 10 tháng đầu năm. Theo đó, trong 10 tháng đầu năm, trong tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát, Đảng ủy Tổng công ty đã linh động, chủ động tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Tổng công ty xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức triển khai các giải pháp thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, các chỉ tiêu, kế hoạch đã đề ra; đảm bảo thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh vừa duy trì hoạt động ổn định SXKD. Nhờ đó hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt hiệu quả cao dù tình hình rất khó khăn: đạt và vượt ở hầu hết các chỉ tiêu đặt ra. Các công tác khác như đầu tư phát triển dự án, tái cấu trúc cũng đang được PVFCCo đẩy mạnh và đã đạt được 1 số kết quả nhất định. Đồng chí Lê Cự Tân cũng kiến nghị và đề xuất đến đồng chí Hoàng Quốc Vượng một số vấn đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của PVFCCo trong tương lai như: đảm bảo nguồn và cơ chế giá khí, hỗ trợ công tác tái cơ cấu…

https://pvkexd.stripocdn.email/content/guids/CABINET_b83e6fe30997c6a11d301740293053bf/images/image003_FhX.jpg

Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, đồng chí Hoàng Quốc Vượng chúc mừng đồng chí Hoàng Trọng Dũng đã được BTV Đảng bộ Tập đoàn chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT PVFCCo. Đồng chí mong đồng chí Hoàng Trọng Dũng với cương vị mới sẽ nêu cao vai trò là hạt nhân đoàn kết trong tập thể lãnh đạo, Đảng ủy TCT để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo PVFCCo vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển bền vững và hiệu quả trong thời gian tới. Chủ tịch HĐTV Petrovietnam khẳng định, trong suốt quá trình phát triển gần 20 năm qua, PVFCCo luôn đạt kết quả đáng khích lệ, có những đóng góp rất quan trọng trong sự phát triển của Tập đoàn và góp phần đảm bảo nền an ninh lương thực của đất nước. Đặc biệt, Đồng chí Hoàng Quốc Vượng ghi nhận, biểu dương với những kết quả tích cực mà PVFCCo đã đạt được trong giai đoạn dịch bệnh vừa qua. Mặc dù bị phải đối mặt với nhiều khó khăn do dịch bệnh nhưng PVFCCo đã phấn đấu hoàn thành “mục tiêu kép”, vừa kiểm soát được dịch bệnh tốt, duy trì sản xuất ổn định, hiệu quả, hoàn thành tốt các chỉ tiêu SXKD như đã đề ra. Bên cạnh đó, đồng chí Hoàng Quốc Vượng cũng đưa ra những dự báo về những khó khăn thách thức trong hoạt động SXKD mà PVFCCo đối mặt trong giai đoạn tới; đặc biệt trong đó có hai vấn đề là giá khí nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng và tác động từ thị trường phân bón Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, để PVFCCo tiếp tục phát triển hiệu quả, bền vững, đồng chí đề nghị các đồng chí lãnh đạo phải phát huy hơn nữa vai trò đầu tàu, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết trong tập thể lớn; tiếp tục phát huy trí tuệ của cả tập thể, đưa ra những giải pháp nâng cao tính cạnh tranh thông qua giảm chi phí, giá thành sản phẩm.

Đồng chí Hoàng Quốc Vượng cũng nhấn mạnh về việc triển khai đề án tái tạo văn hóa Petrovietnam với phương châm hành động “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả” tại PVFCCo. Đồng chí mong muốn trong thời gian tới, đồng chí Hoàng Trọng Dũng cùng tập thể lãnh đạo PVFCCo sẽ tiếp tục phát huy phương chăm hành động, văn hóa Petrovietnam, tiếp tục dẫn dắt, lãnh đạo chỉ đạo đơn vị vượt qua thách thức để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Đối với các đề xuất, kiến nghị của PVFCCo liên quan đến đề án tái cấu trúc đã được Chủ tịch HĐTV Petrovietnam giải đáp, chia sẻ chi tiết tại buổi làm việc.

Bản sắc văn hóa PetroVietNam

Trong quá trình xây dựng, hình thành và phát triển, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã không ngừng nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, với ý chí và bản lĩnh của “những người đi tìm lửa” thực hiện sứ mệnh tìm dầu để làm giàu cho Tổ quốc, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa chính là mấu chốt của chiến lược phát triển bền vững của Petrovietnam. Chính bản sắc văn hóa trở thành sức mạnh, làm nên thương hiệu Petrovietnam, khẳng định vị thế Petrovietnam – Tập đoàn kinh tế đầu tàu vững mạnh, tiên phong trong nền kinh tế quốc dân.

Thương hiệu Petrovietnam

Có thể khẳng định, thành tựu to lớn nhất của Petrovietnam cho đến nay, là đã đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp khí, điện và dịch vụ kỹ thuật – công nghệ cao. Từ chỗ không có dầu khí, đến nay công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được trữ lượng dầu khí của các phát hiện tới trên 1,4 tỉ tấn quy dầu và đã nghiên cứu đánh giá tiềm năng còn lại của Việt Nam là 1,6-2,8 tỉ tấn quy dầu, đủ khả năng cân đối bền vững cho hoạt động khai thác, bảo đảm an ninh năng lượng của đất nước trong những thập niên tới. Trong đó, đã có gần 30 mỏ được phát triển, gia tăng trên 800 triệu tấn trữ lượng thu hồi, khai thác trên 400 triệu tấn dầu và gần 150 tỷ m3 khí, 13 triệu tấn LPG và condensat, cung cấp khối lượng quan trọng các sản phẩm chế biến dầu khí, nguyên liệu cho năng lượng và sản xuất phân bón, nhịp độ tăng trưởng ổn định… Từ đó, các cơ sở hạ tầng dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao được hình thành, tiệm cận trình độ quốc tế để hỗ trợ các hoạt động thăm dò khai thác kinh tế biển quy mô và tầm cỡ khu vực, chế tạo và xây lắp các giàn khoan, phát triển nhiều công trình khoa học và ứng dụng công nghệ giá trị lớn, có nhiều công trình nhận được các Giải thưởng Hồ Chí Minh, Nhà Nước…

Với sự phát triển đồng bộ của chuỗi công nghiệp dầu khí, Petrovietnam đã trở thành hạt nhân trong việc hình thành các khu công nghiệp tập trung tại: Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai – Hiệp Phước, Cà Mau, Dung Quất – Quảng Ngãi, Vũng Áng – Hà Tĩnh, Nghi Sơn – Thanh Hóa… Sự đầu tư đồng bộ đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, cơ bản đáp ứng yêu cầu về năng lượng, phân bón của cả nước. Những dự án, công trình mang tầm cỡ khu vực là minh chứng rõ ràng cho trình độ, năng lực của cán bộ, kỹ sư, người lao động dầu khí Việt Nam, là tiền đề quan trọng nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu dịch vụ dầu khí ra nước ngoài.

Trên con đường phát triển của mình, Petrovietnam đã xây dựng và tích lũy được nguồn lực mạnh và chất lượng cả về vốn, thiết bị công nghệ, đặc biệt nguồn nhân lực khoa học công nghệ có trình độ, nhiều năm kinh nghiệm trong điều hành và quản lý các hoạt động dầu khí an toàn, hiệu quả theo chuẩn mực quốc tế. Sự phát triển mạnh cả về quy mô và tốc độ, chiều rộng cũng như chiều sâu, từ trong nước vươn ra nước ngoài mang lại hiệu quả ở nhiều mặt và có đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước, ngân sách nhà nước, nâng cao vị thế khu vực và quốc tế của Petrovietnam; xây dựng “Văn hóa Petrovietnam” và “Thương hiệu Petrovietnam” có uy tín trên thị trường nội địa và quốc tế, khẳng định vai trò của một Tập đoàn kinh tế chủ lực.

Bản lĩnh vượt khó

Có thể nói, nếu trong những điều kiện thuận lợi bình thường, người lao động Dầu khí luôn năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì trong hoàn cảnh bất thường, đầy khó khăn, người Dầu khí càng thể hiện bản lĩnh cũng như ý chí, nghị lực của mình. Ý chí và nghị lực đó nhiều năm qua đã được minh định phát xuất từ một động lực nội sinh truyền thống, được dung dưỡng bởi một chiều sâu văn hóa – Văn hóa Petrovietnam.

Năm 2020 là năm khó khăn nhất trong lịch sử 45 năm thành lập, Petrovietnam vừa phải tập trung ứng phó với đại dịch Covid-19, vừa phải ứng phó với suy giảm giá dầu thô chưa từng có trong lịch sử giao dịch dầu khí (có thời điểm xuống -37 USD/thùng). Tuy nhiên, với ý thức đầy đủ về trách nhiệm đối với đất nước, mọi kết quả hoạt động đều ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng GDP và nguồn thu ngân sách, Petrovietnam đã có những hành động quyết liệt, kịp thời ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả Gói giải pháp ứng phó khủng hoảng kép đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu, bằng định hướng và phương châm chỉ đạo xuyên suốt: “Quản trị biến động, Tối ưu giá trị, Đẩy mạnh tiêu thụ, Nỗ lực vượt khó, Nắm bắt cơ hội, An toàn về đích”. Kết quả, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu kế hoạch quan trọng năm 2020.

Bước sang năm 2021, khi cả đất nước một lần nữa đứng trước cơn khủng hoảng bởi đợt bùng phát dịch lớn nhất từ trước đến nay. 10 tháng đầu năm 2021, trong tình hình các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) song song với phòng chống dịch bệnh Covid-19 đòi hỏi tính cấp bách ngày càng nhiều, nhưng nhờ có sự chủ động, thống nhất trong triển khai, thực hiện, đặc biệt áp dụng nghiêm túc 5K và chiến lược tiêm vắc-xin kết hợp với chăm lo sức khỏe, tăng sức đề kháng cho người lao động, phát huy nét đẹp văn hóa Petrovietnam trong mọi hoạt động đã giúp công tác triển khai Đề án Tái tạo văn hóa Petrovietnam với khối lượng công việc lớn đã được triển khai đều khắp trong toàn Tập đoàn, góp phần tạo sự chuyển biến trong hoạt động SXKD; trong đó đáng chú ý là các chỉ tiêu tài chính toàn Tập đoàn đều hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Với nỗ lực cao của cả hệ thống cùng với phát huy kinh nghiệm, hiệu quả công tác quản trị, linh hoạt trong điều hành, có sự chuẩn bị và bắt nhịp tốt với thị trường, trong tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2021, Petrovietnam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đặc biệt, trước đà suy giảm sản lượng tự nhiên của các mỏ dầu khí hiện hữu sau thời gian dài khai thác và công tác đầu tư phát triển mỏ mới gặp nhiều vướng mắc về cơ chế, việc duy trì và hoàn thành kế hoạch sản lượng khai thác là thách thức rất lớn với Petrovietnam. Mặc dù vậy, Tập đoàn đã tập trung nỗ lực ứng dụng các giải pháp khoa học, kỹ thuật, công nghệ, áp dụng nhiều giải pháp nâng cao thu hồi dầu; kết quả khai thác dầu thô tháng 10 vượt 6,6% kế hoạch tháng 10, tính chung 10 tháng đạt 9,09 triệu tấn, vượt 12,4% kế hoạch 10 tháng. Từ đó, Petrovietnam đã đóng góp quan trọng vào nguồn thu NSNN 10 tháng đầu năm là 75,4 nghìn tỷ đồng, vượt 21% kế hoạch năm 2021 và vượt 23% so với cùng kỳ năm 2020; tiếp tục được Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập ở mức BB+; 5 năm liền trong top 5 Profit 500 – Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất Việt Nam…. Trong đó, VHDN được coi là một trong những giải pháp đã góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của Tập đoàn và các đơn vị qua việc triển khai được thực hiện một cách hệ thống, nghiêm túc với sự đồng thuận cao của CBCNV cũng như ý chí của lãnh đạo.

Cốt cách và bản sắc riêng biệt của người lao động Dầu khí là như vậy. Đó là những giá trị được kết tinh cùng năm tháng đã tạo nên truyền thống văn hóa của “những người đi tìm lửa”. Ngọn lửa Dầu khí được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác tạo nên bản sắc của văn hoá Dầu khí; là giá trị mà người dầu khí luôn trân trọng, gìn giữ và phát triển; là điểm đặc trưng riêng mà nhờ đó người Dầu khí luôn được nhận ra dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào. Chính vì vậy, khi nào ngọn lửa truyền thống còn cháy sáng, còn sưởi ấm trái tim và hun đúc nhiệt huyết của các thế hệ người lao động Dầu khí, Petrovietnam vẫn sẽ còn tiếp tục vững bước trên con đường phát triển của mình.

Tự hào văn hóa Petrovietnam

Tại các đơn vị thành viên của Tập đoàn, thời điểm chịu ảnh hưởng rất lớn từ dịch bệnh Covid 19 và giá dầu sụt giảm cũng chính là lúc công tác thực hiện VHDN được triển khai mạnh mẽ, phát huy tối đa các giá trị nền tảng của từng đơn vị, từ đó vận động CBCNV chung tay, hợp sức vượt qua khủng hoảng. Trong giai đoạn này, công việc, thu nhập của không ít cán bộ, nhân viên, người lao động trong Tập đoàn đã phần nào bị ảnh hưởng. Nhiều người trong số họ phải đảm nhận thêm phần việc của đồng nghiệp do thực hiện biện pháp giãn cách phòng chống dịch. Điều đó khiến người lao động khó tránh khỏi bị tác động đến tâm lý, tinh thần làm việc. Song, điều mà người ta nhận thấy trong các nhà máy, xí nghiệp của Petrovietnam, trên các giàn khai thác ngoài khơi hay các dự án trong đất liền… là sự kiên nhẫn, đoàn kết, chung lòng cùng vượt khó. Lãnh đạo động viên người lao động, các đồng nghiệp động viên nhau, mỗi người tự động viên mình phấn đấu. Ngay cả khi dịch bệnh bùng phát đến đỉnh điểm, chưa một công trình, dự án trọng điểm nào, chưa một nhà máy, xí nghiệp nào của Petrovietnam phải ngừng hoạt động. Gần 60 ngàn người lao động dầu khí vẫn miệt mài cống hiến, tận tâm, tận lực phấn đấu hoàn thành trọng trách, nhiệm vụ kế hoạch được giao.

Bên cạnh đó, mặc dù phải nỗ lực chống chọi với những khó khăn đan xen, phải thắt lưng buộc bụng cũng như tiết giảm tối đa chi phí ở nhiều mặt, nhưng nghĩa tình dầu khí vẫn được Tập đoàn và các đơn vị thành viên duy trì đều đặn thông qua việc thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hoá – xã hội, an sinh xã hội với hình thức phù hợp trong tình hình dịch bệnh. Từ hàng chục tỷ đồng hỗ trợ chống dịch bệnh, đến hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ đồng bào miền Trung và người nghèo trong cả nước đã được tập thể người lao động Petrovietnam trao đi bằng tất cả sự đồng cảm và sẻ chia.

Có thể khẳng định, “Tái tạo văn hóa Petrovietnam” đã trở thành một trong những giải pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của Tập đoàn và các đơn vị. Trong 10 tháng đầu năm 2021, công tác triển khai VHDN với khối lượng công việc lớn vẫn được thực hiện một cách nghiêm túc với sự đồng thuận cao của cả hệ thống chính trị và CBNV trong toàn Tập đoàn. Hầu hết các đơn vị thành viên Petrovietnam đã lựa chọn những nội dung cụ thể, có sự liên kết giữa các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện để tác động đến nhận thức, tạo nên sự chuyển biến hành vi tích cực của người lao động. Song song đó, việc triển khai thực hiện phương châm hành động “Đoàn kết – Kỷ cương- Sáng tạo – Hiệu quả” đã tạo được bước đột phá trong thực hiện tái tạo văn hóa Petrovietnam. Việc thực hiện nội dung phương châm hành động kết hợp với công tác tuyên truyền kịp thời đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng từ cán bộ, đảng viên, hội viên, người lao động đến cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị trong toàn Tập đoàn. Từ đó, giúp nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên, người lao động toàn Tập đoàn cùng hướng đến hoàn thành mục tiêu chung: Vượt mọi khó khăn trong đại dịch Covid -19 hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.

Với các giá trị bản sắc văn hóa Dầu khí được xây dựng, hình thành và hun đúc qua suốt chiều dài lịch sử phát triển Petrovietnam, đến nay, văn hóa Petrovietnam không còn là một điều gì đó mơ hồ, tách biệt với hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đã trở thành một phần không thể thiếu, gắn với mọi hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả, uy tín, giá trị thương hiệu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, là động lực để xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển bền vững Petrovietnam trong thời kỳ mới. Mỗi thành viên của đại gia đình Petrovietnam đều thấu hiểu, trân trọng, gìn giữ những giá trị tinh túy nhất của văn hóa dầu khí, coi đó là lẽ sống, là kim chỉ nam cho mỗi hành động để người dầu khí luôn được nhận ra dù ở bất cứ nơi đâu. Người lao động dầu khí, là học viên, công nhân, kỹ sư, hay các giảng viên, cán bộ, chuyên gia,… trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khi nhìn lên biểu tượng ngọn lửa Petrovietnam đều cảm thấy trái tim rung động, những cảm xúc tự hào, trân trọng, trách nhiệm trào dâng. Đó chính là giá trị tinh thần rất quan trọng của người lao động Dầu khí, tinh thần của văn hóa Petrovietnam./.

PVFCCo tổ chức lớp học về huấn luyện kỹ năng 5S cho CBCNV khối Văn phòng TCT

Trong 02 ngày 9 và 10/11/2021, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khi (PVFCCo)  tổ chức lớp học trực tuyến qua Microsoft Teams về huấn luyện kỹ năng 5S cho toàn thể CBCNV khối Văn phòng TCT. Giảng viên được mời là Thạc sỹ Trần Thanh Quang – GĐ Kỹ thuật – Cty Việt Phát Solution.

Tại lớp học, các học viên được nghe ông Trần Thanh Quang phổ biến, cung cấp các Nội dung kiến thức, trao đổi về nhận thức và những bước ban đầu của chương trình 5S tại Khối VPTCT: Thực trạng môi trường làm việc; Kỷ luật, nâng cao ý thức và tinh thần làm việc khoa học, chuyên nghiệp; Loại trừ lãng phí (tổ chức công việc, sắp xếp không khoa học, chậm trễ, chờ đợi, sai sót, mất mát, hư hỏng, làm thừa, làm dư, thái độ làm việc, giảm diện tích…); Hiệu quả và an toàn để nâng cao năng suất lao động; Hình ảnh công ty, ảnh hưởng văn hoá tổ chức

Vậy 5s là gì? Thực ra, 5S là tên gọi của một phương pháp để quản lý, sắp xếp môi trường làm việc. 5S được viết tắt từ 5 từ của tiếng Nhật. Đó là Seiri (整理 Sàng lọc), Seiton (整頓 Sắp xếp), Seiso (清掃 Sạch sẽ), Seiketsu (清潔 Săn sóc) và Shitsuke (躾 Sẵn sàng):

1. Sàng lọc – Sort : là xem xét, phân loại, chọn và loại bỏ những thứ không cần thiết tại nơi làm việc. Đây là bước đầu tiên trong phương pháp 5S.

2. Sắp xếp – Set in order : tổ chức, sắp xếp lại các vật dụng theo tiêu chí dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ trả lại. Mọi thứ cần được đặt đúng chỗ để tiện lợi khi cần sử dụng. 3. Sạch sẽ – Shine : thường xuyên vệ sinh, lau chùi, dọn dẹp mọi thứ gây bẩn tại nơi làm việc. Việc này giúp tạo ra một môi trường sạch sẽ, giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra còn nâng cao tính chính xác cho máy móc tránh khỏi bụi bẩn.

4. Săn sóc – Standardize : là tiếp tục duy trì các tiêu chuẩn 3S ở trên và thực hiện chúng một cách liên tục. Nó tạo tiền đề cho việc phát triển thành 5S.

5. Sẵn sàng – Sustain : rèn luyện, tạo ra thói quen tự giác, duy trì nề nếp, tác phong.

5S còn cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại nơi làm việc để luôn sẵn sàng sản xuất. Từ các văn phòng, công trường đến các nhà xưởng, nơi nào có hoạt động thì cũng cần sắp xếp, phân loại. Phương pháp 5S giúp ngăn chặn sự xuống cấp của các văn phòng, nhà xưởng. Nó tạo sự thông thoáng, tiện lợi và tránh lãng phí cho doanh nghiệp. Môi trường làm việc khoa học sẽ cải thiện tâm lý, điều kiện và tăng hiệu suất lao động.

Sau khóa học, các học viên sẽ hiểu và áp dụng chương trình 5S vào thực tế, nâng cao ý thức việc cải thiện và duy trì môi trường làm việc sạch sẽ, ngăn nắp theo chương trình 5S. Tầm quan trong của chương trình 5s là thế, nên việc PVFCCo tổ chức lớp học về huấn luyện kỹ năng 5s cho toàn thể CBCNV khối Văn phòng TCT là thực sự cần thiết.

VR 360