Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Thấm thoắt gần tròn 50 năm kể từ ngày tôi vào nghề dầu khí. Tháng 8-1971, tôi cùng 9 kỹ sư công nghệ lọc hóa dầu và thiết bị dầu khí vừa tốt nghiệp Học viện Dầu khí Rumani về nước, được giới thiệu về Tổng cục Hóa chất nhận công tác. Chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Biên, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất. Ông Biên được Chính phủ điều động từ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước sang Tổng cục Hóa chất.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 3-3-1972, Tổng cục Hóa chất có quyết định thành lập Ban Dầu mỏ và Khí đốt trực thuộc Tổng cục (gọi tắt là Ban Dầu khí), do Tổng cục trưởng Nguyễn Chấn kiêm Trưởng ban, Tổng cục phó Nguyễn Văn Biên và Tổng cục phó Hoàng Hữu Bình kiêm Phó ban. Ban Dầu khí biên chế 50 người.

Ngày 3-9-1975, Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Tôi có may mắn được làm việc dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Biên trong những năm ở Ban Dầu khí và thời kỳ đầu của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, gắn bó liên tục với nghề dầu khí cho tới lúc nghỉ hưu. Những ký ức về cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên luôn sống động trong tôi.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng. Ngày 20-7-1975, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) họp tại Sài Gòn để hoạch định đường lối phát triển ngành Dầu khí.

Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu, khí trên cả nước. Đây là văn bản đầu tiên của Đảng về dầu khí. Nghị quyết 244-NQ/TW thực sự là chiến lược phát triển toàn diện ngành Dầu khí trên đất nước Việt Nam, trong đó khẳng định: “Khai thác nhiều dầu khí, vừa đủ dùng trong nước, vừa có thể xuất khẩu”; “Hình thành một nền công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành Dầu khí… Tranh thủ triển khai song song việc thăm dò dầu và xây dựng công nghiệp chế biến gồm lọc dầu và hóa dầu”; “Nước ta phải vươn lên tự lực giải quyết những yếu tố cơ bản (khoa học, kỹ thuật, thiết bị, vốn, quản lý) để phát triển ngành Dầu khí trong khi vẫn mở rộng hợp tác với nước ngoài”…

Ngày 3-9-1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Ngày 23-9-1975, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nghiệm giữ chức vụ Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Nghị quyết 244-NQ/TW gây ấn tượng mạnh về con đường phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam, được cộng đồng dầu khí trên thế giới đánh giá: Nhìn xa, trông rộng, hoàn chỉnh, “mở cửa”, “đa phương”…, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước đang bề bộn công việc sau cuộc chiến tàn khốc và bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đó là khí thế “thần tốc”, thừa thắng xông lên. Song, những người trong cuộc lại biết rằng, đó còn là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng từ nhiều năm trước.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Được Nghị quyết 244-NQ/TW mở đường, Tổng cục Dầu khí đã nhanh chóng triển khai hàng loạt công việc để hình thành ngành công nghiệp dầu khí mới mẻ của đất nước theo đường lối hợp tác đa phương, đó là:

Tiếp tục hợp tác với Liên Xô thăm dò dầu khí tại miền võng Hà Nội, do các đơn vị từ Tổng cục Địa chất chuyển sang thực hiện. Hình thức hợp tác giữa hai nước là vay vốn dài hạn, lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để Việt Nam tự đầu tư, tự điều hành. Liên Xô cử các chuyên gia kỹ thuật và cung cấp thiết bị thăm dò địa vật lý, thiết bị khoan cho Việt Nam với giá thấp hơn thị trường được quy định trong khối SEV. Giai đoạn 1976-1985, có trên 600 chuyên gia Liên Xô sang tham gia với các đơn vị trong Tổng cục Dầu khí.

Tháng 3-1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô ký Hiệp định về việc hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam và thành lập Liên doanh Dầu khí Việt – Xô. Hiệp định này được sửa đổi vào năm 1991 và tiếp tục đạt kết quả tốt, phát huy thành công của sự hợp tác truyền thống giữa hai nước. Sự hợp tác được đánh giá là hiệu quả nhất cho cả hai bên trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Cuối tháng 8-1975, ông Nguyễn Văn Biên cùng bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) và ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sang thăm Mexico, trao đổi về khả năng hợp tác giữa hai nước. Công ty Dầu lửa quốc gia PEMEX cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm và mời 2 đoàn cán bộ Việt Nam sang thực tập tại các cơ sở của họ. Đây có thể coi là sự mở đầu cho việc triển khai hợp tác với các nước sau này, như Rumani (1976-1978 bàn hợp tác thăm dò ở Đồng bằng sông Cửu Long), Ấn Độ, Iraq, Algeria…

Đầu tháng 9-1975, ông Nguyễn Văn Biên từ Mexico sang Pháp cùng Đại sứ Võ Văn Sung thăm và trao đổi sơ bộ với hãng Elf Aquitaine, mở đầu cho việc tiếp xúc, hợp tác với các công ty dầu lửa ở nước tư bản phương Tây. Công ty dầu lửa của Pháp tỏ ý muốn hợp tác với Việt Nam cả khâu thăm dò, khai thác dầu khí và lọc hóa dầu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong năm 1976, Tổng cục Dầu khí đã tiếp xúc vòng đầu về hợp đồng dầu khí với 17 công ty và chính phủ các nước Pháp, CHLB Đức, Australia, Canada, Na Uy, Italia, Nhật Bản, Mexico, Anh. Năm 1978, Tổng cục Dầu khí đã ký với Công ty GECO của Na Uy hợp đồng khảo sát địa vật lý; ký với Công ty Deminex của CHLB Đức, Công ty Agip của Italia, Công ty Bow Valley của Canada tổng cộng 5 hợp đồng dầu khí trên các lô thềm lục địa phía Nam.

Từ quý IV/1975, chúng ta đã xúc tiến song song 2 dự án lọc hóa dầu. Liên Xô cử đoàn chuyên gia đầu tiên sang giúp Việt Nam, đề xuất lập luận chứng kinh tế kỹ thuật (TEO) xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu 6 triệu tấn/năm. Việc triển khai lập luận chứng kinh tế kỹ thuật từ năm 1979 và chuẩn bị đầu tư suốt thập niên 80 của thế kỷ trước theo cơ chế phối hợp kế hoạch 5 năm giữa Việt Nam và Liên Xô.

Tháng 4-1976, Tổng cục Dầu khí trình Chính phủ phương án xây dựng 2 khu liên hợp lọc hóa dầu trong giai đoạn 1976-1985: Một nhà máy 6 triệu tấn/năm hợp tác với Liên Xô; một nhà máy 5 triệu tấn/năm hợp tác với Pháp, Nhật và các nước khác. Đối với dự án lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm, Tổng cục Dầu khí đàm phán với các đối tác Pháp như tổng thầu Technip, tài chính Credit Lyonaise (1976-1978); với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) nhằm tài trợ thuê BEICIP lập Báo cáo chuẩn bị đầu tư và nghiên cứu khả thi (1977-1980); với các đối tác Nhật Bản đề xuất dự án lọc hóa dầu (1976-1978); với Rumani về dự án lọc dầu và dầu nhờn (1976-1978)… nhưng không thành công vì bị Mỹ cấm vận.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Giai đoạn 1980-1988, Tổng cục Dầu khí tập trung các nguồn lực hợp tác với Liên Xô trong khuôn khổ hiệp định giữa hai chính phủ, thông qua Liên doanh Dầu khí Việt – Xô đạt kết quả tốt.

Từ năm 1989, việc hợp tác đa phương được tiếp tục đẩy mạnh cho cả khâu thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật.

Có thể thấy, đường lối hợp tác đa phương đã bảo đảm cho ngành Dầu khí Việt Nam đứng vững và phát triển trước các biến động lớn của thời cuộc (như sự tan rã của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa vào năm 1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong bối cảnh những năm 1970, thế giới được chi phối bởi phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu, công nghệ, kỹ thuật, thiết bị dầu khí cũng theo hai trường phái tương ứng.

Việt Nam đứng trong phe xã hội chủ nghĩa, được các nước anh em giúp đỡ, viện trợ về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và hệ thống quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung và thủ tục xây dựng cơ bản đều theo tiêu chuẩn GOST của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tuy vậy, Tổng cục Dầu khí đã mạnh dạn đề xuất và được Nhà nước chấp thuận sử dụng ngay các công nghệ, thiết bị tiên tiến trên thế giới, như: Công nghệ và thiết bị thăm dò dầu khí bằng phương pháp địa chấn từ năm 1975 tại phía Bắc kết hợp giữa máy của Liên Xô và của Pháp; tại Đồng bằng sông Cửu Long hợp tác với Tổng công ty Địa vật lý (CGG) của Pháp; tại thềm lục địa phía Nam hợp tác với Công ty Địa vật lý GECO của Na Uy (năm 1978). Số liệu khảo sát địa vất lý và mẫu địa chất được xử lý, phân tích, tổng hợp bằng các thiết bị, phần mềm tiên tiến thông qua các hợp đồng hợp tác giữa Tổng cục Dầu khí và các đối tác Liên Xô, Pháp, Anh (1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Viện Dầu khí được trang bị bổ sung máy móc phân tích, thí nghiệm bằng các thiết bị phương Tây hiện đại, qua việc sử dụng nguồn tài trợ của Chính phủ Pháp giai đoạn 1977-1980.

Công tác thăm dò của các công ty dầu khí phương Tây từ năm 1978 đều được thực hiện bằng các thiết bị tiên tiến nhất lúc bấy giờ, như các thiết bị địa chấn, địa vật lý giếng khoan, dàn khoan biển, thiết bị lên lạc qua vệ tinh, vận chuyển bằng trực thăng đặc chủng của Liên doanh Việt Pháp (HELIVIFRA)…

Hệ thống quản lý, điều hành của Tổng cục Dầu khí từ rất sớm được tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và GOST của Liên Xô, ngành Dầu khí bắt đầu sử dụng hệ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và của các nước phương Tây (Mỹ, Pháp, Đức, Anh…). Việc quản lý trong xây dựng cơ bản cũng bắt đầu vận dụng kết hợp giữa hệ thống quản lý của Việt Nam, Liên Xô và phương Tây.

Năm 1979, tôi và anh Nguyễn Hữu Hiếu được Tổng cục Dầu khí cử đi đào tạo vể quản lý dự án và thực hiện hợp đồng EPC (thiết kế, mua sắm, xây lắp) theo thông lệ phương Tây bằng tài trợ của UNDP, kết hợp giám sát việc lập luận chứng khả thi (FS) liên hợp lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm do hãng tư vấn BEICIP của Pháp thực hiện.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật làm việc ngoài biển, Tổng cục Dầu khí đã thành lập Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí vào ngày 7-11-1975 tại Bà Rịa. Trong đó, Trung tâm Đào tạo công nhân kỹ thuật dầu khí biển do Chính phủ Na Uy tài trợ được xây dựng từ tháng 7-1978, rồi nâng cấp thành trường dạy nghề chuyên ngành dầu khí, đào tạo thợ lặn, hàn, khoan, cơ điện… Các thiết bị, phương tiện và giáo trình giảng dạy tại Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí Bà Rịa áp dụng hệ thống đào tạo dầu khí phương Tây.

Trong hoàn cảnh những năm 1971-1975, đất nước đang có chiến tranh, chưa có công nghiệp dầu khí, chưa có đủ cán bộ có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí, cũng chưa thể thuê chuyên gia nước ngoài, ông Nguyễn Văn Biên trực tiếp chỉ đạo và điều hành Ban Dầu khí đã rất mạnh dạn tin dùng các cán bộ trẻ vừa mới tốt nghiệp từ các trường đại học dầu khí ở Đông Âu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Đầu năm 1972, tôi được ông Biên giao nhiệm vụ chủ trì tính toán các phương án công nghệ của nhà máy lọc dầu có công suất 1,5-3 triệu tấn/năm do Trung Quốc hứa viện trợ cho Việt Nam. Lúc đó tôi mới tốt nghiệp kỹ sư công nghệ chế biến dầu khí ở Rumani về nước tháng 7-1971, chỉ có thể tính bằng tay và dùng thước logarit; sơ đồ công nghệ vẽ bút chì trên giấy croky. Hàng chục phương án khác nhau, có so sánh chuyên sâu đã được hình thành như vậy. Trong quá trình tính toán, ông Biên luôn động viên, khích lệ các sáng kiến, phương pháp thuyết minh, trình bày để truyền tải ý tưởng và có sức thuyết phục. Ông còn rèn tôi kỹ năng viết báo cáo, tờ trình bằng cách yêu cầu tôi viết đi, viết lại tới 12 lần, đến khi đạt được yêu cầu về nội dung, hình thức, cách truyền tải thông tin khác nhau. Từ một thanh niên nhà quê nhút nhát, có tính cẩu thả, đại khái, tôi dần trở nên cẩn thận hơn, đặc biệt học được phương pháp tư duy của ông để thực hành nhiệm vụ.

Trong cuộc đàm phán về nhà máy lọc dầu tại Bắc Kinh từ tháng 12-1973 đến tháng 2-1974, ý tưởng hai bên khác nhau khá xa, có nguy cơ không đạt kết quả. Ông Biên đã ủng hộ đề xuất của tôi và ông Đông Hải, chủ động nêu phương án hợp lý. Tôi tính toán, vẽ sơ đồ, ông Đông Hải trình bày phương án bằng tiếng Hoa trên giấy của khách sạn Bắc Kinh, mất mấy đêm làm việc tới 2-3 giờ sáng mới xong (ông Biên và ông Hải thông thạo Trung văn), được ông Biên xem xét, đồng ý đưa ra thảo luận và cuối cùng hai bên ký được biên bản vào ngày 18-2-1974.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Lúc đó, tôi là 1 trong 2 cán bộ trẻ nhất trong đoàn đàm phán Việt Nam gồm hơn ba chục chuyên gia đại diện cho Tổng cục Hóa chất, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Ngoại thương, Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc. Có sự tin dùng cán bộ trẻ của ông Biên, tôi mới đủ tự tin để đề xuất giải pháp.

Chuyến công tác cuối tháng 8-1975 ở Mexico, tôi được đi cùng đoàn ông Biên. Công ty Dầu lửa quốc gia Mexico (PEMEX) mời đoàn đi thăm giàn khoan biển ngoài vịnh Mexico. Tôi chưa bao giờ được lên giàn khoan biển, thực lòng cũng muốn đi xem. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ tìm hiểu khâu hạ nguồn của PEMEX, tôi đề xuất đi thăm nhà máy lọc dầu và đề nghị PEMEX cử cán bộ biết tiếng Anh đi cùng, vì tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Ông Biên và ông Nguyễn Cơ Thạch chấp thuận. Ông Biên dặn tôi tìm hiểu về công nghệ, thiết bị, chuyên gia của PEMEX.

Hôm sau, trong khi đoàn Việt Nam đi thăm giàn khoan thì Trưởng phòng Kế hoạch của PEMEX lái xe đưa tôi đi thăm nhà máy lọc dầu. Đại diện Ban Giám đốc nhà máy đón tiếp rất trịnh trọng đoàn Việt Nam sang thăm nhà máy, mà đoàn chỉ có một kỹ sư trẻ. Phía bạn rất chu đáo dẫn đi xem các xưởng sản xuất, cởi mở trao đổi các kinh nghiệm về xây dựng và vận hành, các vấn đề về công nghệ và thiết bị mà phần lớn được nhập khẩu từ Mỹ và các nước Tây Âu. Thời điểm đó, Mexico mới chế tạo được khoảng 50% thiết bị tĩnh.

Kết quả là sau chuyến thăm Mexico của đoàn Việt Nam, PEMEX cử chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm phát triển ngành dầu khí và mời 2 đoàn cán bộ dầu khí Việt Nam sang PEMEX thực tập trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo và dịch vụ kỹ thuật.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao năng lực, cập nhật trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế. Năng lực của đội ngũ ấy chính là di sản mà ông Nguyễn Văn Biên đã dày công gây dựng.

Khi sang Paris (Pháp) đầu tháng 9-1975, Công ty Elf Aquitaine mời ông Biên và Đại sứ Võ Văn Sung đi thăm cơ sở khai thác, chế biến khí thiên nhiên ở miền Nam nước Pháp, còn tôi ở lại gặp gỡ, làm quen và học hỏi một số chuyên gia Việt kiều đang làm việc cho các công ty thiết kế, viện nghiên cứu công nghệ dầu khí ở Paris, do Đại sứ quán giới thiệu.

Việc đàm phán các hợp đồng của Tổng cục Dầu khí Việt Nam với nước ngoài trong những năm 1976-1978 rất gay go. Thống nhất được quan điểm trong nội bộ Việt Nam đã khó, vì lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ, thuyết phục được đối tác nước ngoài chấp nhận giải pháp của nước chủ nhà cũng không dễ. Ông Biên rất kiên trì động viên và tin tưởng các cán bộ trẻ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế của Tổng cục Dầu khí, như các kỹ sư Đỗ Văn Hà, Vũ Trọng Đức, Đỗ Văn Luyện, những người đã từng được bổ túc về lĩnh vực này, nghiên cứu sâu, tính toán cụ thể, để thuyết phục các bên đi đến ký kết được 8 hợp đồng dầu khí đầu tiên vào năm 1978.

Đối với cán bộ trẻ, ông Biên luôn khích lệ sự tự tin, dám nghĩ, dám làm với những sáng kiến, tìm tòi giải pháp, nhưng cũng khá khắt khe và yêu cầu cao.

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông Nguyễn Văn Biên là ông hỏi rất nhiều về kiến thức chuyên môn. Cách nói chuyện của ông không phải là để kiểm tra trình độ của cán bộ trẻ, mà thể hiện sự cầu thị, muốn học hỏi, hiểu biết thêm về một lĩnh vực mới mẻ đối với ông. Một số câu hỏi của ông làm tôi lúng túng, vì lý thuyết được trang bị ở trường đại học là chưa đủ. Tôi được biết, ông cũng mời nhiều kỹ sư, phó tiến sĩ, chuyên gia Việt kiều ở nhiều lĩnh vực như thiết bị dầu khí, chất dẻo, sợi tổng hợp, khai thác dầu, kinh tế dầu khí… tới nhà riêng để nói chuyện, học hỏi thêm chuyên môn ngoài giờ làm việc.

Từ một cán bộ Mặt trận Việt Minh và làm công tác Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại ở Đông Dương, ông đã vừa làm, vừa học thêm, nắm được kiến thức về công nghiệp hóa chất, sản xuất phân bón, dầu khí, trở thành Viện phó Viện Công nghiệp hóa chất, Phó giám đốc Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, Ủy viên Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí. Đó là một hành trình liên tục học hỏi, bổ túc thêm những kiến thức mới.

Nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

Khi bắt đầu công tác chuẩn bị xây dựng ngành Dầu khí, ông Biên cũng học thêm tiếng Anh, ngoài tiếng Pháp và tiếng Hoa mà ông đã biết từ trước. Ông động viên anh chị em cán bộ Ban Dầu khí học tiếng Anh buổi tối, bản thân ông cũng đi học như mọi người. Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, ông còn học thêm tiếng Nga. Theo ông, làm nghề dầu khí, muốn có trình độ ngang tầm quốc tế, phải biết ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.

Thấy mọi người đi học tản mạn, có người phải vất vả đi rất xa mới có lớp, ông Biên cho tổ chức lớp học ngoài giờ, mời giáo viên đến dạy ngay tại cơ quan, một lớp sơ cấp, một lớp nâng cao. Sau mỗi khóa học, mọi người đăng ký thi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, lấy chứng chỉ trình độ A, B, C.

Cũng nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế và Cục Xây dựng cơ bản của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo nâng cao sau này ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao và phát huy được năng lực, cập nhật được trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế, nhất là từ các công ty dầu lửa đa quốc gia và các tập đoàn công nghệ tiên tiến ở các nước tư bản phương Tây. Năng lực của đội ngũ dầu khí ấy chính là di sản, là dấu ấn mà ông Nguyễn Văn Biên – thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi – đã truyền cảm hứng và dày công gây dựng.

Những năm cuối thập niên 80, thỉnh thoảng tôi ra Hà Nội công tác, hay đến thăm ông Biên ở khu tập thể Giảng Võ. Cả khi ông còn là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch phân vùng và khi đã nghỉ hưu, mỗi lần gặp tôi, ông lại say sưa nói về các chủ đề chiến lược phát triển, hay các cuốn sách đề cập tới những vấn đề lý thú, như sự giao thoa của hai hệ thống, sự trỗi dậy và sụp đổ của các đế chế trên thế giới… Ông luôn truyền cảm hứng, cho tôi niềm đam mê học hỏi không ngừng nghỉ.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

Kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống của ngành Dầu khí Việt Nam, tôi thấy vinh dự được đứng trong đội ngũ đồng nghiệp đã cùng nhau đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp dầu khí đáng tự hào. Tôi luôn biết ơn cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên, một người thầy đã truyền nhiệt huyết và niềm đam mê nghề nghiệp cho những thế hệ người làm dầu khí đầu tiên.

Nội dung: Bỳ Văn Tứ – Nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Thiết kế: Duy Tiến

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+

petrotimes.vn | Ngày 21/9/2021

Ngày 9/9/2021, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đã xác nhận Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) có xếp hạng tín nhiệm độc lập ở mức BB+, xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) tại mức BB với “Triển vọng tích cực”. Đồng thời, xếp hạng nợ ưu tiên không có tài sản bảo đảm của Petrovietnam được đánh giá tại mức BB. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm riêng của Petrovietnam ở mức BB+.

Fitch Ratings cũng đánh giá lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) của Petrovietnam năm 2021 sẽ tăng gấp đôi lên hơn 45 nghìn tỷ VNĐ, hồ sơ tài chính vững chắc với những tiến triển tốt trong các lĩnh vực kinh doanh chủ chốt của Tập đoàn và tính thanh khoản cao – “Fitch không nhận thấy khó khăn trong việc huy động vốn của Petrovietnam với vị thế là một trong những doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất của Việt Nam” – báo cáo của Fitch đánh giá.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Vững vàng trước giông bão – Ảnh: Phạm Phương

Trong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4, việc Petrovietnam tiếp tục duy trì các mức xếp hạng tích cực do Tập đoàn đã có những biện pháp ứng phó với dịch bệnh và biến động của giá dầu thô, có sự chủ động, linh hoạt trong điều hành, quản trị doanh nghiệp. Cùng với đó, công tác dự báo, quản trị biến động, kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị của Tập đoàn theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh đã tối đa hóa giá trị của từng đơn vị và mở rộng thị trường… giúp Tập đoàn ứng phó kịp thời với những khó khăn, đạt được kết quả rất đáng khích lệ.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Giữ nhịp độ sản xuất

Kết thúc 8 tháng năm 2021, cơ bản các chỉ tiêu SXKD của Petrovietnam đều đạt kế hoạch đề ra, khai thác dầu thô vượt 12,7% so với với kế hoạch 8 tháng; sản xuất các sản phẩm như đạm, xăng dầu, LPG… đều vượt từ 2-11%. Các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam đều vượt và tăng trưởng so với cùng kỳ tạo nên hồ sơ tài chính vững chắc cho Tập đoàn.

Ngoài ra, Tổ chức xếp hạng này cũng đánh giá Hồ sơ tín dụng độc lập (SCP) của Petrovietnam ở mức BB+, phản ánh mức độ tích hợp, đa dạng hóa và hồ sơ tài chính thận trọng của Tập đoàn. Xếp hạng này khẳng định vị thế của Petrovietnam là nhà sản xuất dầu khí lớn nhất Việt Nam, tích hợp theo ngành dọc với hoạt động thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn, doanh thu ổn định từ phân phối khí và điện.

Cùng với việc duy trì các kết quả đạt được, Petrovietnam chủ động nắm bắt thời cơ để phục hồi hoạt động sau dịch bệnh Covid-19 trong “trạng thái bình thường mới”.

H.A

Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Thấm thoắt gần tròn 50 năm kể từ ngày tôi vào nghề dầu khí. Tháng 8-1971, tôi cùng 9 kỹ sư công nghệ lọc hóa dầu và thiết bị dầu khí vừa tốt nghiệp Học viện Dầu khí Rumani về nước, được giới thiệu về Tổng cục Hóa chất nhận công tác. Chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Biên, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất. Ông Biên được Chính phủ điều động từ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước sang Tổng cục Hóa chất.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 3-3-1972, Tổng cục Hóa chất có quyết định thành lập Ban Dầu mỏ và Khí đốt trực thuộc Tổng cục (gọi tắt là Ban Dầu khí), do Tổng cục trưởng Nguyễn Chấn kiêm Trưởng ban, Tổng cục phó Nguyễn Văn Biên và Tổng cục phó Hoàng Hữu Bình kiêm Phó ban. Ban Dầu khí biên chế 50 người.

Ngày 3-9-1975, Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Tôi có may mắn được làm việc dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Biên trong những năm ở Ban Dầu khí và thời kỳ đầu của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, gắn bó liên tục với nghề dầu khí cho tới lúc nghỉ hưu. Những ký ức về cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên luôn sống động trong tôi.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng. Ngày 20-7-1975, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) họp tại Sài Gòn để hoạch định đường lối phát triển ngành Dầu khí.

Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu, khí trên cả nước. Đây là văn bản đầu tiên của Đảng về dầu khí. Nghị quyết 244-NQ/TW thực sự là chiến lược phát triển toàn diện ngành Dầu khí trên đất nước Việt Nam, trong đó khẳng định: “Khai thác nhiều dầu khí, vừa đủ dùng trong nước, vừa có thể xuất khẩu”; “Hình thành một nền công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành Dầu khí… Tranh thủ triển khai song song việc thăm dò dầu và xây dựng công nghiệp chế biến gồm lọc dầu và hóa dầu”; “Nước ta phải vươn lên tự lực giải quyết những yếu tố cơ bản (khoa học, kỹ thuật, thiết bị, vốn, quản lý) để phát triển ngành Dầu khí trong khi vẫn mở rộng hợp tác với nước ngoài”…

Ngày 3-9-1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Ngày 23-9-1975, ông Nguyễn Văn Biên được bổ nghiệm giữ chức vụ Tổng cục trưởng.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Nghị quyết 244-NQ/TW gây ấn tượng mạnh về con đường phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam, được cộng đồng dầu khí trên thế giới đánh giá: Nhìn xa, trông rộng, hoàn chỉnh, “mở cửa”, “đa phương”…, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước đang bề bộn công việc sau cuộc chiến tàn khốc và bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đó là khí thế “thần tốc”, thừa thắng xông lên. Song, những người trong cuộc lại biết rằng, đó còn là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng từ nhiều năm trước.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Được Nghị quyết 244-NQ/TW mở đường, Tổng cục Dầu khí đã nhanh chóng triển khai hàng loạt công việc để hình thành ngành công nghiệp dầu khí mới mẻ của đất nước theo đường lối hợp tác đa phương, đó là:

Tiếp tục hợp tác với Liên Xô thăm dò dầu khí tại miền võng Hà Nội, do các đơn vị từ Tổng cục Địa chất chuyển sang thực hiện. Hình thức hợp tác giữa hai nước là vay vốn dài hạn, lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để Việt Nam tự đầu tư, tự điều hành. Liên Xô cử các chuyên gia kỹ thuật và cung cấp thiết bị thăm dò địa vật lý, thiết bị khoan cho Việt Nam với giá thấp hơn thị trường được quy định trong khối SEV. Giai đoạn 1976-1985, có trên 600 chuyên gia Liên Xô sang tham gia với các đơn vị trong Tổng cục Dầu khí.

Tháng 3-1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô ký Hiệp định về việc hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam và thành lập Liên doanh Dầu khí Việt – Xô. Hiệp định này được sửa đổi vào năm 1991 và tiếp tục đạt kết quả tốt, phát huy thành công của sự hợp tác truyền thống giữa hai nước. Sự hợp tác được đánh giá là hiệu quả nhất cho cả hai bên trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Cuối tháng 8-1975, ông Nguyễn Văn Biên cùng bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) và ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sang thăm Mexico, trao đổi về khả năng hợp tác giữa hai nước. Công ty Dầu lửa quốc gia PEMEX cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm và mời 2 đoàn cán bộ Việt Nam sang thực tập tại các cơ sở của họ. Đây có thể coi là sự mở đầu cho việc triển khai hợp tác với các nước sau này, như Rumani (1976-1978 bàn hợp tác thăm dò ở Đồng bằng sông Cửu Long), Ấn Độ, Iraq, Algeria…

Đầu tháng 9-1975, ông Nguyễn Văn Biên từ Mexico sang Pháp cùng Đại sứ Võ Văn Sung thăm và trao đổi sơ bộ với hãng Elf Aquitaine, mở đầu cho việc tiếp xúc, hợp tác với các công ty dầu lửa ở nước tư bản phương Tây. Công ty dầu lửa của Pháp tỏ ý muốn hợp tác với Việt Nam cả khâu thăm dò, khai thác dầu khí và lọc hóa dầu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong năm 1976, Tổng cục Dầu khí đã tiếp xúc vòng đầu về hợp đồng dầu khí với 17 công ty và chính phủ các nước Pháp, CHLB Đức, Australia, Canada, Na Uy, Italia, Nhật Bản, Mexico, Anh. Năm 1978, Tổng cục Dầu khí đã ký với Công ty GECO của Na Uy hợp đồng khảo sát địa vật lý; ký với Công ty Deminex của CHLB Đức, Công ty Agip của Italia, Công ty Bow Valley của Canada tổng cộng 5 hợp đồng dầu khí trên các lô thềm lục địa phía Nam.

Từ quý IV/1975, chúng ta đã xúc tiến song song 2 dự án lọc hóa dầu. Liên Xô cử đoàn chuyên gia đầu tiên sang giúp Việt Nam, đề xuất lập luận chứng kinh tế kỹ thuật (TEO) xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu 6 triệu tấn/năm. Việc triển khai lập luận chứng kinh tế kỹ thuật từ năm 1979 và chuẩn bị đầu tư suốt thập niên 80 của thế kỷ trước theo cơ chế phối hợp kế hoạch 5 năm giữa Việt Nam và Liên Xô.

Tháng 4-1976, Tổng cục Dầu khí trình Chính phủ phương án xây dựng 2 khu liên hợp lọc hóa dầu trong giai đoạn 1976-1985: Một nhà máy 6 triệu tấn/năm hợp tác với Liên Xô; một nhà máy 5 triệu tấn/năm hợp tác với Pháp, Nhật và các nước khác. Đối với dự án lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm, Tổng cục Dầu khí đàm phán với các đối tác Pháp như tổng thầu Technip, tài chính Credit Lyonaise (1976-1978); với Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) nhằm tài trợ thuê BEICIP lập Báo cáo chuẩn bị đầu tư và nghiên cứu khả thi (1977-1980); với các đối tác Nhật Bản đề xuất dự án lọc hóa dầu (1976-1978); với Rumani về dự án lọc dầu và dầu nhờn (1976-1978)… nhưng không thành công vì bị Mỹ cấm vận.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Giai đoạn 1980-1988, Tổng cục Dầu khí tập trung các nguồn lực hợp tác với Liên Xô trong khuôn khổ hiệp định giữa hai chính phủ, thông qua Liên doanh Dầu khí Việt – Xô đạt kết quả tốt.

Từ năm 1989, việc hợp tác đa phương được tiếp tục đẩy mạnh cho cả khâu thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật.

Có thể thấy, đường lối hợp tác đa phương đã bảo đảm cho ngành Dầu khí Việt Nam đứng vững và phát triển trước các biến động lớn của thời cuộc (như sự tan rã của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa vào năm 1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Trong bối cảnh những năm 1970, thế giới được chi phối bởi phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu, công nghệ, kỹ thuật, thiết bị dầu khí cũng theo hai trường phái tương ứng.

Việt Nam đứng trong phe xã hội chủ nghĩa, được các nước anh em giúp đỡ, viện trợ về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và hệ thống quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung và thủ tục xây dựng cơ bản đều theo tiêu chuẩn GOST của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tuy vậy, Tổng cục Dầu khí đã mạnh dạn đề xuất và được Nhà nước chấp thuận sử dụng ngay các công nghệ, thiết bị tiên tiến trên thế giới, như: Công nghệ và thiết bị thăm dò dầu khí bằng phương pháp địa chấn từ năm 1975 tại phía Bắc kết hợp giữa máy của Liên Xô và của Pháp; tại Đồng bằng sông Cửu Long hợp tác với Tổng công ty Địa vật lý (CGG) của Pháp; tại thềm lục địa phía Nam hợp tác với Công ty Địa vật lý GECO của Na Uy (năm 1978). Số liệu khảo sát địa vất lý và mẫu địa chất được xử lý, phân tích, tổng hợp bằng các thiết bị, phần mềm tiên tiến thông qua các hợp đồng hợp tác giữa Tổng cục Dầu khí và các đối tác Liên Xô, Pháp, Anh (1989-1990).

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Viện Dầu khí được trang bị bổ sung máy móc phân tích, thí nghiệm bằng các thiết bị phương Tây hiện đại, qua việc sử dụng nguồn tài trợ của Chính phủ Pháp giai đoạn 1977-1980.

Công tác thăm dò của các công ty dầu khí phương Tây từ năm 1978 đều được thực hiện bằng các thiết bị tiên tiến nhất lúc bấy giờ, như các thiết bị địa chấn, địa vật lý giếng khoan, dàn khoan biển, thiết bị lên lạc qua vệ tinh, vận chuyển bằng trực thăng đặc chủng của Liên doanh Việt Pháp (HELIVIFRA)…

Hệ thống quản lý, điều hành của Tổng cục Dầu khí từ rất sớm được tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và GOST của Liên Xô, ngành Dầu khí bắt đầu sử dụng hệ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và của các nước phương Tây (Mỹ, Pháp, Đức, Anh…). Việc quản lý trong xây dựng cơ bản cũng bắt đầu vận dụng kết hợp giữa hệ thống quản lý của Việt Nam, Liên Xô và phương Tây.

Năm 1979, tôi và anh Nguyễn Hữu Hiếu được Tổng cục Dầu khí cử đi đào tạo vể quản lý dự án và thực hiện hợp đồng EPC (thiết kế, mua sắm, xây lắp) theo thông lệ phương Tây bằng tài trợ của UNDP, kết hợp giám sát việc lập luận chứng khả thi (FS) liên hợp lọc hóa dầu 5 triệu tấn/năm do hãng tư vấn BEICIP của Pháp thực hiện.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật làm việc ngoài biển, Tổng cục Dầu khí đã thành lập Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí vào ngày 7-11-1975 tại Bà Rịa. Trong đó, Trung tâm Đào tạo công nhân kỹ thuật dầu khí biển do Chính phủ Na Uy tài trợ được xây dựng từ tháng 7-1978, rồi nâng cấp thành trường dạy nghề chuyên ngành dầu khí, đào tạo thợ lặn, hàn, khoan, cơ điện… Các thiết bị, phương tiện và giáo trình giảng dạy tại Trường Công nhân kỹ thuật dầu khí Bà Rịa áp dụng hệ thống đào tạo dầu khí phương Tây.

Trong hoàn cảnh những năm 1971-1975, đất nước đang có chiến tranh, chưa có công nghiệp dầu khí, chưa có đủ cán bộ có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí, cũng chưa thể thuê chuyên gia nước ngoài, ông Nguyễn Văn Biên trực tiếp chỉ đạo và điều hành Ban Dầu khí đã rất mạnh dạn tin dùng các cán bộ trẻ vừa mới tốt nghiệp từ các trường đại học dầu khí ở Đông Âu.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Đầu năm 1972, tôi được ông Biên giao nhiệm vụ chủ trì tính toán các phương án công nghệ của nhà máy lọc dầu có công suất 1,5-3 triệu tấn/năm do Trung Quốc hứa viện trợ cho Việt Nam. Lúc đó tôi mới tốt nghiệp kỹ sư công nghệ chế biến dầu khí ở Rumani về nước tháng 7-1971, chỉ có thể tính bằng tay và dùng thước logarit; sơ đồ công nghệ vẽ bút chì trên giấy croky. Hàng chục phương án khác nhau, có so sánh chuyên sâu đã được hình thành như vậy. Trong quá trình tính toán, ông Biên luôn động viên, khích lệ các sáng kiến, phương pháp thuyết minh, trình bày để truyền tải ý tưởng và có sức thuyết phục. Ông còn rèn tôi kỹ năng viết báo cáo, tờ trình bằng cách yêu cầu tôi viết đi, viết lại tới 12 lần, đến khi đạt được yêu cầu về nội dung, hình thức, cách truyền tải thông tin khác nhau. Từ một thanh niên nhà quê nhút nhát, có tính cẩu thả, đại khái, tôi dần trở nên cẩn thận hơn, đặc biệt học được phương pháp tư duy của ông để thực hành nhiệm vụ.

Trong cuộc đàm phán về nhà máy lọc dầu tại Bắc Kinh từ tháng 12-1973 đến tháng 2-1974, ý tưởng hai bên khác nhau khá xa, có nguy cơ không đạt kết quả. Ông Biên đã ủng hộ đề xuất của tôi và ông Đông Hải, chủ động nêu phương án hợp lý. Tôi tính toán, vẽ sơ đồ, ông Đông Hải trình bày phương án bằng tiếng Hoa trên giấy của khách sạn Bắc Kinh, mất mấy đêm làm việc tới 2-3 giờ sáng mới xong (ông Biên và ông Hải thông thạo Trung văn), được ông Biên xem xét, đồng ý đưa ra thảo luận và cuối cùng hai bên ký được biên bản vào ngày 18-2-1974.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Lúc đó, tôi là 1 trong 2 cán bộ trẻ nhất trong đoàn đàm phán Việt Nam gồm hơn ba chục chuyên gia đại diện cho Tổng cục Hóa chất, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Ngoại thương, Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc. Có sự tin dùng cán bộ trẻ của ông Biên, tôi mới đủ tự tin để đề xuất giải pháp.

Chuyến công tác cuối tháng 8-1975 ở Mexico, tôi được đi cùng đoàn ông Biên. Công ty Dầu lửa quốc gia Mexico (PEMEX) mời đoàn đi thăm giàn khoan biển ngoài vịnh Mexico. Tôi chưa bao giờ được lên giàn khoan biển, thực lòng cũng muốn đi xem. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ tìm hiểu khâu hạ nguồn của PEMEX, tôi đề xuất đi thăm nhà máy lọc dầu và đề nghị PEMEX cử cán bộ biết tiếng Anh đi cùng, vì tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Ông Biên và ông Nguyễn Cơ Thạch chấp thuận. Ông Biên dặn tôi tìm hiểu về công nghệ, thiết bị, chuyên gia của PEMEX.

Hôm sau, trong khi đoàn Việt Nam đi thăm giàn khoan thì Trưởng phòng Kế hoạch của PEMEX lái xe đưa tôi đi thăm nhà máy lọc dầu. Đại diện Ban Giám đốc nhà máy đón tiếp rất trịnh trọng đoàn Việt Nam sang thăm nhà máy, mà đoàn chỉ có một kỹ sư trẻ. Phía bạn rất chu đáo dẫn đi xem các xưởng sản xuất, cởi mở trao đổi các kinh nghiệm về xây dựng và vận hành, các vấn đề về công nghệ và thiết bị mà phần lớn được nhập khẩu từ Mỹ và các nước Tây Âu. Thời điểm đó, Mexico mới chế tạo được khoảng 50% thiết bị tĩnh.

Kết quả là sau chuyến thăm Mexico của đoàn Việt Nam, PEMEX cử chuyên gia sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm phát triển ngành dầu khí và mời 2 đoàn cán bộ dầu khí Việt Nam sang PEMEX thực tập trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo và dịch vụ kỹ thuật.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao năng lực, cập nhật trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế. Năng lực của đội ngũ ấy chính là di sản mà ông Nguyễn Văn Biên đã dày công gây dựng.

Khi sang Paris (Pháp) đầu tháng 9-1975, Công ty Elf Aquitaine mời ông Biên và Đại sứ Võ Văn Sung đi thăm cơ sở khai thác, chế biến khí thiên nhiên ở miền Nam nước Pháp, còn tôi ở lại gặp gỡ, làm quen và học hỏi một số chuyên gia Việt kiều đang làm việc cho các công ty thiết kế, viện nghiên cứu công nghệ dầu khí ở Paris, do Đại sứ quán giới thiệu.

Việc đàm phán các hợp đồng của Tổng cục Dầu khí Việt Nam với nước ngoài trong những năm 1976-1978 rất gay go. Thống nhất được quan điểm trong nội bộ Việt Nam đã khó, vì lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ, thuyết phục được đối tác nước ngoài chấp nhận giải pháp của nước chủ nhà cũng không dễ. Ông Biên rất kiên trì động viên và tin tưởng các cán bộ trẻ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế của Tổng cục Dầu khí, như các kỹ sư Đỗ Văn Hà, Vũ Trọng Đức, Đỗ Văn Luyện, những người đã từng được bổ túc về lĩnh vực này, nghiên cứu sâu, tính toán cụ thể, để thuyết phục các bên đi đến ký kết được 8 hợp đồng dầu khí đầu tiên vào năm 1978.

Đối với cán bộ trẻ, ông Biên luôn khích lệ sự tự tin, dám nghĩ, dám làm với những sáng kiến, tìm tòi giải pháp, nhưng cũng khá khắt khe và yêu cầu cao.

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông Nguyễn Văn Biên là ông hỏi rất nhiều về kiến thức chuyên môn. Cách nói chuyện của ông không phải là để kiểm tra trình độ của cán bộ trẻ, mà thể hiện sự cầu thị, muốn học hỏi, hiểu biết thêm về một lĩnh vực mới mẻ đối với ông. Một số câu hỏi của ông làm tôi lúng túng, vì lý thuyết được trang bị ở trường đại học là chưa đủ. Tôi được biết, ông cũng mời nhiều kỹ sư, phó tiến sĩ, chuyên gia Việt kiều ở nhiều lĩnh vực như thiết bị dầu khí, chất dẻo, sợi tổng hợp, khai thác dầu, kinh tế dầu khí… tới nhà riêng để nói chuyện, học hỏi thêm chuyên môn ngoài giờ làm việc.

Từ một cán bộ Mặt trận Việt Minh và làm công tác Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại ở Đông Dương, ông đã vừa làm, vừa học thêm, nắm được kiến thức về công nghiệp hóa chất, sản xuất phân bón, dầu khí, trở thành Viện phó Viện Công nghiệp hóa chất, Phó giám đốc Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, Ủy viên Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí. Đó là một hành trình liên tục học hỏi, bổ túc thêm những kiến thức mới.

Nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

Khi bắt đầu công tác chuẩn bị xây dựng ngành Dầu khí, ông Biên cũng học thêm tiếng Anh, ngoài tiếng Pháp và tiếng Hoa mà ông đã biết từ trước. Ông động viên anh chị em cán bộ Ban Dầu khí học tiếng Anh buổi tối, bản thân ông cũng đi học như mọi người. Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, ông còn học thêm tiếng Nga. Theo ông, làm nghề dầu khí, muốn có trình độ ngang tầm quốc tế, phải biết ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.

Thấy mọi người đi học tản mạn, có người phải vất vả đi rất xa mới có lớp, ông Biên cho tổ chức lớp học ngoài giờ, mời giáo viên đến dạy ngay tại cơ quan, một lớp sơ cấp, một lớp nâng cao. Sau mỗi khóa học, mọi người đăng ký thi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, lấy chứng chỉ trình độ A, B, C.

Cũng nhờ có trình độ ngoại ngữ và cập nhật thông tin tích lũy từ thời sơ khai của Ban Dầu khí giai đoạn 1971-1975, ngay những năm đầu của ngành Dầu khí Việt Nam, một số cán bộ của Vụ Kinh tế kỹ thuật và Hợp tác quốc tế và Cục Xây dựng cơ bản của Tổng cục Dầu khí đã rất vững vàng khi giao tiếp, làm việc với các đối tác nước ngoài, thảo luận những chuyên đề mới mẻ, các hợp đồng dầu khí, các dự án lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật…

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Quá trình được đào tạo nâng cao sau này ở Tổng cục Dầu khí giai đoạn 1976-1980 làm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý của ngành Dầu khí Việt Nam nâng cao và phát huy được năng lực, cập nhật được trình độ công nghệ, kỹ thuật dầu khí ở tầm quốc tế, nhất là từ các công ty dầu lửa đa quốc gia và các tập đoàn công nghệ tiên tiến ở các nước tư bản phương Tây. Năng lực của đội ngũ dầu khí ấy chính là di sản, là dấu ấn mà ông Nguyễn Văn Biên – thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi – đã truyền cảm hứng và dày công gây dựng.

Những năm cuối thập niên 80, thỉnh thoảng tôi ra Hà Nội công tác, hay đến thăm ông Biên ở khu tập thể Giảng Võ. Cả khi ông còn là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch phân vùng và khi đã nghỉ hưu, mỗi lần gặp tôi, ông lại say sưa nói về các chủ đề chiến lược phát triển, hay các cuốn sách đề cập tới những vấn đề lý thú, như sự giao thoa của hai hệ thống, sự trỗi dậy và sụp đổ của các đế chế trên thế giới… Ông luôn truyền cảm hứng, cho tôi niềm đam mê học hỏi không ngừng nghỉ.

[E-Magazine] Nhớ cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên

Những kết quả công việc cụ thể và sự trưởng thành của dàn cán bộ trẻ trong ngành Dầu khí là minh chứng quan điểm “dụng nhân” của vị thủ trưởng đầu tiên của chúng tôi. Trong thời kỳ mà việc sử dụng cán bộ còn nặng về “quá trình”, “sống lâu lên lão làng”, không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

Kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống của ngành Dầu khí Việt Nam, tôi thấy vinh dự được đứng trong đội ngũ đồng nghiệp đã cùng nhau đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp dầu khí đáng tự hào. Tôi luôn biết ơn cố Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên, một người thầy đã truyền nhiệt huyết và niềm đam mê nghề nghiệp cho những thế hệ người làm dầu khí đầu tiên.

Nội dung: Bỳ Văn Tứ – Nguyên Trưởng ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ

Thiết kế: Duy Tiến

Gặp mặt trực tuyến kỷ niệm ngày truyền thống PVFCCo

Nối tiếp truyền thống nhiều năm qua, sáng ngày 21/9/2021, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã tổ chức buổi Gặp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Tổng công ty (ngày 21/9 hàng năm), theo hình thức trực tuyến đến hơn 120 điểm kết nối trên cả nước. Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, CBCNV TCT đã liên tục “3 tại chỗ” hoặc tuân thủ giãn cách, làm việc online nhiều tháng qua, đây là một sự kiện hết sức đặc biệt và tràn đầy xúc động, tình cảm ấm áp, không chỉ giúp ôn lại truyền thống, quá trình hình thành phát triển đáng tự hào của Tổng công ty, mà còn là cơ hội quý báu để anh chị em tương tác, thăm hỏi, động viên, bày tỏ sự quan tâm đến nhau, đến ngôi nhà chung PVFCCo, đến ngành Dầu khí. Đó cũng chính là truyền thống, là nét đẹp văn hóa của Tổng công ty, của người dầu khí.

Tham dự buổi Gặp mặt trực tuyến này có các đồng chí Nguyên lãnh đạo TCT: đồng chí Bỳ Văn Tứ – Nguyên Giám đốc Ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ; đồng chí Nguyễn Xuân Thắng – Nguyên UVHĐTV TĐ, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT TCT; đồng chí Phan Đình Đức – Nguyên UVHĐTV TĐ, nguyên TGĐ TCT. Về phía TCT có đồng chí Hoàng Trọng Dũng – Bí thư Đảng ủy, CT HĐQT TCT; đồng chí Lê Cự Tân- P.BT Đảng ủy, TGĐ TCT; các đồng chí trong BTV Đảng ủy, BCH Đảng bộ, Hội đồng Quản trị, Ban Tổng Giám đốc, Ban Kiểm soát; Chi ủy, lãnh đạo, đại diện các đơn vị thành viên, trực thuộc TCT, Công ty Bao bì Đạm Phú Mỹ; lãnh đạo, đại diện các tổ chức đoàn thể, đại diện người lao động TCT và các đơn vị.

 

Phát biểu khai mạc buổi gặp mặt, đồng chí Hoàng Trọng Dũng đã khẳng định ngày 21/9/2004 – ngày diễn ra lễ bàn giao Nhà máy Đạm Phú Mỹ – dự án cấp quốc gia – từ liên danh nhà thầu Technip – Samsung cho Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – tiền thân của Tổng công ty, để rồi ngày này được chọn là ngày truyền thống TCT, đã trở thành cột mốc quan trọng không chỉ trong lịch sử phát triển của Tổng công ty chúng ta, mà còn của cả ngành phân bón Việt Nam. Kể từ ngày đó tới hôm nay, mười bảy năm trôi qua, Tổng công ty đã không ngừng phát triển, lớn mạnh. Từ chỗ chỉ có một Nhà máy sản xuất ra một loại sản phẩm phân bón duy nhất, Tổng công ty đã triển khai hàng loạt dự án, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phát triển, để hiện nay có Tổ hợp sản xuất đa dạng các sản phẩm phân bón từ phân đơn, phân hỗn hợp các loại. Từ chỗ chỉ sản xuất một sản phẩm hóa chất là amoniac nay đã cung ứng hàng loạt hóa phẩm dầu khí, phụ gia phục vụ sản xuất phân bón, khí C02 thực phẩm, tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế…, đưa tổng sản lượng phân bón và hóa chất hàng năm lên tới trên 1 triệu tấn các loại. Song song đó, PVFCCo đã xây dựng hệ thống đối tác, phân phối khắp các vùng miền của đất nước và đang vươn ra thị trường quốc tế, có đội ngũ nhân sự vững vàng, hệ thống quản trị hiện đại. Thương hiệu Phân bón Phú Mỹ đứng số 1 trong ngành phân bón và trong nhóm 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Đây là những kết quả hết sức tuyệt vời trong suốt 17 năm qua và nhân dịp này, thay mặt cho Ban lãnh đạo TCT, đồng chí đã gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thế hệ CBCNV, người lao động, đặc biệt là các đồng chí nguyên lãnh đạo TCT qua các thời kỳ, những cán bộ đã có thời gian dài công tác, cống hiến cả tuổi trẻ cho sự phát triển của TCT. Đồng chí bày tỏ tin tưởng rằng: Tiếp nối truyền thống đáng tự hào đã được dày công vun đắp qua các thế hệ và lứa tuổi 17-18, tuổi thanh niên rất đẹp, sung sức, nhiều khát vọng, hoài bão, tập thể Tổng công ty sẽ luôn luôn là một khối đoàn kết, thống nhất và vững chắc, để cùng nhau nhận diện thách thức, đổi mới xây dựng chiến lược kịp thời thích ứng trong bối cảnh “kinh tế xanh”, “kinh tế số”, sự chuyển dịch năng lượng tái tạo đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nền kinh tế, nhằm đưa Tổng công ty tiếp tục tiến lên, đi tới các bến bờ mới.

Tiếp lời đồng chí Hoàng Trọng Dũng, đồng chí Lê Cự Tân đã thông tin, chia sẻ về tình hình thực hiện KH SXKD năm 2021; bối cảnh, thuận lợi, khó khăn, các kịch bản ứng phó và dự kiến các chỉ tiêu KH của TCT. Theo đó, mặc dù năm 2021 chúng ta đang phải đối mặt với tình hình dịch Covid-19 đang diễn ra phức tạp, vừa phải chống dịch mà phải đảm bảo công tác sản xuất kinh doanh song với sự nỗ lực, đồng lòng thì trong 9 tháng đã qua, TCT đã cơ bản vượt tất cả các chỉ tiêu đề ra, đặc biệt các chế độ chính sách, thu nhập cho người lao động đều đảm bảo. Tổng giám đốc cũng lưu ý trong 3 tháng cuối năm chúng ta cần tận dụng nguồn khí để gia tăng năng suất, tăng sản lượng lên tối đa, đẩy nhanh và hoàn thành việc thanh quyết toán dự án. Đồng chí cũng lưu ý năm 2022 sẽ là 1 năm hết sức khó khăn về nguồn khí đầu vào, dịch Covid-19 tiếp tục khó lường… điều này đòi hỏi chúng ta cần xây dựng các kế hoạch, kịch bản cẩn trọng, tối ưu nhất và cùng nhau đoàn kết vượt qua khó khăn.

Trong chương trình buổi gặp mặt, các đại biểu tham dự đã được nghe những chia sẻ xúc động về truyền thống, về kỷ niệm với Tổng công ty cũng như những góp ý chân thành, hiến kế để Tổng công ty ngày càng phát triển hơn nữa từ các Nguyên lãnh đạo Tổng công ty: đồng chí Bỳ Văn Tứ – Nguyên Giám đốc Ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ; đồng chí Nguyễn Xuân Thắng – Nguyên UVHĐTV TĐ, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT TCT; đồng chí Phan Đình Đức – Nguyên UVHĐTV TĐ, nguyên TGĐ TCT. Các đồng chí khẳng định, việc đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ thời điểm đó là một quyết định dũng cảm, sáng suốt của Đảng, Nhà nước trong điều kiện ngân sách eo hẹp và sứ mệnh, quá trình phát triển, kết quả, đóng góp của TCT đã chứng minh tính đúng đắn của quyết sách ấy. Chúng ta đã đi từ không đến có, từ sản xuất đến kinh doanh: Xây dựng nên 1 nhà máy hiện đại công suất lớn đến 1 hệ thống phân phối vững chắc trong cả nước, được bà con nông dân yêu mến, tin dùng, góp phần thực hiện mục tiêu Tam nông của Đảng và Chính phủ. Đồng thời, Nhà máy Đạm Phú Mỹ còn là cái nôi đào tạo nên 1 đội ngũ cán bộ giỏi, điều hành các nhà máy sản xuất cho khâu sau Dầu khí tại các đơn vị trong Tập đoàn và trong ngành phân bón. Các đồng chí dặn dò thế hệ sau cần tiếp tục phát huy tinh thần “những người đi tìm lửa”, tiếp tục cập nhật chiến lược phát triển để thích ứng với tình hình mới, đa dạng hóa sản phẩm phân bón, hóa chất, hóa dầu, các giải pháp tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất cạnh tranh, bắt nhịp xu hướng phát triển nông nghiệp rất rõ ràng và mạnh mẽ, 4.0 thời kỳ “hậu Covid”.

Trong chương trình, đại diện các tổ chức đoàn thể, người lao động đã chia sẻ những cảm xúc tự hào của mình trong suốt những năm tháng làm việc tại TCT, chia sẻ về tình hình làm việc trong điều kiện sản xuất kinh doanh “3 tại chỗ” và trân trọng cảm ơn sự chăm lo kịp thời của BLĐ TCT và các đơn vị, các tổ chức đoàn thể để CBNV yên tâm công tác, qua đó, càng thêm tin tưởng vào TCT, cam kết sẽ nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ban lãnh đạo TCT cũng chia sẻ về chiến lược TCT trong thời gian tới, về công tác tái cơ cấu, triển khai các dự án trọng điểm và cập nhật các thông tin, chế độ chính sách ….cho người lao động tiếp tục yên tâm công tác, gắn bó với TCT.

Phát biểu kết thúc buổi họp mặt, đồng chí Hoàng Trọng Dũng và đồng chí Lê Cự Tân đã gửi lời tri ân đến Ban Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, các đồng chí nguyên là lãnh đạo Tổng công ty qua các thời kỳ, đến toàn thể CBCNV TCT, trân trọng tiếp thu các góp ý tâm huyết của các đại biểu và gửi lời chúc sức khỏe, an lành đến toàn thể đại biểu và gia đình.

Có thể nói, đại gia đình PVFCCo đã cùng nhau trải qua chương trình Gặp mặt trực tuyến đầy ý nghĩa, cho thấy dù ảnh hưởng của dịch bệnh, chúng ta tuy xa mặt mà chẳng hề cách lòng, luôn đồng tâm hiệp lực, tiếp tục gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của Tổng công ty đã được các thế hệ dày công vun đắp trong nhiều năm qua; tăng cường đoàn kết, siết chặt kỷ cương, sáng tạo hơn nữa trong tư duy, dũng cảm hơn nữa trong việc ra quyết sách, và quyết liệt hơn nữa trong hành động, tự tin nhìn về phía trước, nắm bắt cơ hội, biến thách thức thành cơ hội, lập nên những kỳ tích mới.

Chi bộ Công ty Miền Trung tổ chức chương trình Lễ kết nạp đảng viên mới và sinh hoạt chuyên đề “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả”

Nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 17 năm Ngày truyền thống PVFCCo, chiều ngày 20/9/2021, Chi bộ Công ty Miền Trung đã tổ chức chương trình trực tuyến Lễ kết nạp đảng viên mới và sinh hoạt chuyên đề “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả”.

Tham dự chương trình có đồng chí Cao Trung Kiên – UV BCH Đảng bộ TCT, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch HĐQT Công ty; đồng chí Mai Thanh Hải – Phó bí thư Chi bộ, Giám đốc Công ty và  các Đảng viên đang sinh hoạt tại Chi bộ và toàn thể CBNV Công ty Miền Trung.

Lễ kết nạp được diễn ra trong không khí trang nghiêm, đúng trình tự, thủ tục của Điều lệ Đảng. Tại buổi lễ đồng chí Mai Thanh Hải – Phó Bí thư Chi bộ, Giám đốc Công ty đã trao Quyết định kết nạp đảng viên của BTV Đảng ủy Tổng Công ty cho đồng chí Nguyễn Tư Sang. Thay mặt Chi ủy, đồng chí Mai Thanh Hải phân công nhiệm vụ cho Đảng viên mới, đề nghị đồng chí tiếp tục giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, nhiệt tình, năng động trong công tác, góp phần cùng Chi bộ hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Đồng chí Mai Thanh Hải cũng phân công các đồng chí Đảng viên chính thức trong Chi bộ tiếp tục giúp đỡ đồng chí Nguyễn Tư Sang trong 12 tháng thử thách.

Phát biểu khai mạc tại chương trình sinh hoạt chuyên đề “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả”, đồng chí Cao Trung Kiên – Bí thư Chi bộ cho biết với phương châm hành động và chủ đề xuyên suốt nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ Tập đoàn chỉ đạo triển khai thực hiện nội dung Đề án Tái tạo văn hóa Petrovietnam là “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả”, nhằm xây dựng văn hoá trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, làm cho các giá trị văn hoá thấm sâu vào mọi hoạt động của tổ chức Đảng, hoạt động quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh (SXKD) của Tập đoàn và các đơn vị thành viên; tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên tu dưỡng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất, lối sống; người lao động dầu khí tin tưởng, yên tâm, tự hào và gắn bó với ngành Dầu khí.

Việc sinh hoạt chuyên đề không chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, phân tích làm rõ các khái niệm, nội dung của phương châm hành động mà còn là cơ hội để mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên xác định cụ thể hơn vai trò, trách nhiệm của mình và cụ thể hóa bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, để góp phần nâng cao hiệu quả, uy tín, giá trị thương hiệu của Công ty, Tổng công ty và Tập đoàn tại khu vực. Các đảng viên, các bạn đoàn viên thanh niên và một số CBNV chia sẻ về nhận thức, việc thực hiện từng nội dung chuyên đề của bản thân, liên hệ với đặc thù của Chi bộ/Công ty, đề xuất các giải pháp để từ đó thống nhất cùng thực hiện.

Tại buổi sinh hoạt, các đảng viên, CBNV Công ty cũng đã có những chia sẻ thẳng thắn, cởi mở về nhận thức, yêu cầu, tác dụng của chuyên đề với bản thân và liên hệ với đặc thù của Chi bộ mình. Qua đó các Đảng viên thống nhất cùng hành động, đưa ra những giải pháp thiết thực trong thời gian tới, tục cụ thể hóa bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, để từng bước thấm nhuần trong từng CBNV, trở thành nếp nghĩ, thói quen trong công việc hàng ngày; để văn hóa doanh nghiệp không phải là một điều gì đó mơ hồ, tách biệt với hoạt động kinh doanh của Công ty, mà thực chất, là một phần không thể thiếu, gắn với mọi hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả, uy tín, giá trị thương hiệu của TCT, Công ty.

Chương trình đã thông qua Nghị quyết Chi bộ về việc thực hiện phương châm hành động “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả” tại Chi bộ hiện nay.

Kỷ niệm 17 năm Ngày truyền thống PVFCCo

Ngày 21/9/2021 là tròn 17 năm ngày Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) tiếp nhận Nhà máy Đạm Phú Mỹ từ Tổ hợp liên danh nhà thầu quốc tế. Đây là cột mốc quan trọng và đáng tự hào mở ra một giai đoạn mới của ngành phân bón Việt Nam – từ chỗ phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào nguồn cung của nước ngoài, chuyển sang tự chủ sản xuất trong nước. 

Trước năm 2004 rất ít người ở Việt Nam biết đến địa danh Phú Mỹ – vốn chỉ là một khu công nghiệp như hàng trăm khu công nghiệp khác trên khắp đất nước. Nhưng từ cuối năm 2004, khi những bao phân đạm ure đầu tiên được sản xuất từ nguồn khí đồng hành khai thác ngoài biển đang bị bỏ phí được đưa tới các vùng miền, thì cái tên Phú Mỹ rất nhanh chóng trở nên quen thuộc và gắn bó với hàng chục triệu nông dân trên cả nước. Sản phẩm Đạm Phú Mỹ xuất hiện trên thị trường đã làm thay đổi căn bản tình hình cung cầu và thị trường phân bón Việt Nam, từ chỗ hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu, luôn biến động thất thường, đã có thể tự chủ được 50% nguồn cung phân đạm, góp phần giúp ngành nông nghiệp tăng trưởng và trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản của thế giới. Chỉ sau một thời gian ngắn thương hiệu Đạm Phú Mỹ đã trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất nhì trong lĩnh vực nông nghiệp, và tiếp tục giữ vững vị thế đó đến tận bây giờ, được tạp chí Forbes Việt Nam lựa chọn là thương hiệu duy nhất trong ngành vật tư nông nghiệp lọt vào Top 50 thương hiệu có giá trị nhất Việt Nam. Với ý nghĩa mang tính lịch sử như vậy, ngày 21/9 đã được chọn làm ngày truyền thống của PVFCCo. 

Trong suốt những năm qua, Tổng công ty đã phát huy nội lực, vận hành Nhà máy sản xuất an toàn, ổn định, hiệu quả, không ngừng đa dạng hóa sản phẩm, liên tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu SXKD; xây dựng hệ thống phân phối, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm khắp các vùng miền của đất nước; giữ vững vị thế thương hiệu dẫn đầu ngành phân bón Việt Nam. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, bồi đắp truyền thống “Tiên phong, tương trợ và thích ứng”, toàn thể CBCNV PVFCCo luôn là một tập thể đoàn kết, gắn bó, động viên nhau để cùng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chung. Đồng thời PVFCCo cũng là đơn vị đi đầu trong hoạt động an sinh xã hội, chăm lo cho những mảnh đời còn khó khăn tại các vùng nông thôn

Năm nay, ngày truyền thống diễn ra trong 1 bối cảnh đặc biệt khi đại dịch Covid-19 đang hoành hành trên khắp mọi miền đất nước, gây ra những khó khăn chồng chất cho toàn xã hội. Các hoạt động của  truyền thống sẽ không thể tổ chức một cách bình thường như các năm trước đây nhưng sẽ được sáng tạo ra các hình thức mới và đầy ý nghĩa.

Để hưởng ứng ngày truyền thống, PVFCCo đã và sẽ triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, tiêu biểu như: Tọa đàm trực tuyến đối thoại giữa BLĐ TCT với người lao động; chương trình khuyến mãi của Phân Bón Phú Mỹ tri ân bà con nông dân; tặng gạo cho CBCNV của Công Đoàn PVFCCo; chương trình “Tết đoàn viên” mùa trung thu năm 2021 do Ban lãnh đạo TCT, Đoàn Thanh niên và Ban Nữ công TCT tổ chức; thay đổi và cho ra mắt các phiên bản thiết kế trên các trang mạng xã hội của TCT nhằm quảng bá những thông điệp tốt đẹp, truyền tải hình ảnh ý nghĩa đánh dấu chặng đường 17 năm đã qua…

Thông cáo báo chí:  “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia” –  Hơn 3.000 tấn phân bón trị giá hơn 30 tỷ đồng tặng bà con nông dân

Tp.HCM, ngày 15 tháng  9 năm 2021 – Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – mã chứng khoán DPM, nhà sản xuất kinh doanh phân bón Phú Mỹ) cho biết sẽ triển khai chương trình “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia” nhằm hỗ trợ bà con nông dân trong vụ Thu Đông – Đông Xuân 2021.

Cụ thể, trong thời gian từ ngày 16/9/2021 đến ngày 15/10/2021, hoặc đến khi hết quà tặng tùy điều kiện nào đến trước, tại các điểm bán được công bố, bà con nông dân khi mua 3 bao Đạm Phú Mỹ sẽ được tặng 1 bao NPK Phú Mỹ 16 – 7 – 16 (loại 15kg, theo hình ảnh đính kèm) do chính PVFCCo sản xuất. Tổng số quà tặng mà PVFCCo gửi đến bà con nông dân là hơn 3.000 tấn phân bón, với giá trị hơn 30 tỷ đồng.

Đây là hoạt động thiết thực của PVFCCo nhằm trực tiếp hỗ trợ nông dân khi bước vào vụ canh tác mới trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn vì dịch Covid-19 bùng phát trong thời gian qua.

Chi tiết về chương trình được đăng tải tại website www.dpm.vn. Khách hàng cần thông tin hoặc phản hồi có thể liên hệ với công ty qua số điện thoại Đường dây nóng của chương trình: 0969.65.66.67 hoặc email: lienhe@pvfcco.com.vn.

 Được biết, các sản phẩm phân bón Phú Mỹ từ khi xuất hiện trên thị trường tới nay liên tục được nông dân bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, thương hiệu Phân bón Phú Mỹ được công nhận là Thương hiệu Quốc gia. Bên cạnh việc cung ứng cho ngành nông nghiệp những sản phẩm chất lượng cao, PVFCCo còn là đơn vị tích cực trong công tác an sinh xã hội. Đến nay, PVFCCo đã đóng góp hơn 26 tỷ đồng cho các hoạt động phòng chống Covid-19 và giúp đỡ các gia đình, địa phương có hoàn cảnh khó khăn vì dịch bệnh.

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng liên hệ:

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo)

Điện thoại: 028 38256258, email: vdkhoi@pvfcco.com.vn

                          

Thông cáo báo chí:  “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia” –  Hơn 3.000 tấn phân bón trị giá hơn 30 tỷ đồng tặng bà con nông dân

Tp.HCM, ngày 15 tháng  9 năm 2021 – Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – mã chứng khoán DPM, nhà sản xuất kinh doanh phân bón Phú Mỹ) cho biết sẽ triển khai chương trình “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia” nhằm hỗ trợ bà con nông dân trong vụ Thu Đông – Đông Xuân 2021.

Cụ thể, trong thời gian từ ngày 16/9/2021 đến ngày 15/10/2021, hoặc đến khi hết quà tặng tùy điều kiện nào đến trước, tại các điểm bán được công bố, bà con nông dân khi mua 3 bao Đạm Phú Mỹ sẽ được tặng 1 bao NPK Phú Mỹ 16 – 7 – 16 (loại 15kg, theo hình ảnh đính kèm) do chính PVFCCo sản xuất. Tổng số quà tặng mà PVFCCo gửi đến bà con nông dân là hơn 3.000 tấn phân bón, với giá trị hơn 30 tỷ đồng.

Đây là hoạt động thiết thực của PVFCCo nhằm trực tiếp hỗ trợ nông dân khi bước vào vụ canh tác mới trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn vì dịch Covid-19 bùng phát trong thời gian qua.

Chi tiết về chương trình được đăng tải tại website www.dpm.vn. Khách hàng cần thông tin hoặc phản hồi có thể liên hệ với công ty qua số điện thoại Đường dây nóng của chương trình: 0969.65.66.67 hoặc email: lienhe@pvfcco.com.vn.

Được biết, các sản phẩm phân bón Phú Mỹ từ khi xuất hiện trên thị trường tới nay liên tục được nông dân bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, thương hiệu Phân bón Phú Mỹ được công nhận là Thương hiệu Quốc gia. Bên cạnh việc cung ứng cho ngành nông nghiệp những sản phẩm chất lượng cao, PVFCCo còn là đơn vị tích cực trong công tác an sinh xã hội. Đến nay, PVFCCo đã đóng góp hơn 26 tỷ đồng cho các hoạt động phòng chống Covid-19 và giúp đỡ các gia đình, địa phương có hoàn cảnh khó khăn vì dịch bệnh.

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng liên hệ:

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo)

Điện thoại: 028 38256258, email: vdkhoi@pvfcco.com.vn

 

Chương trình “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia”

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí triển khai chương trình “Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia” nhằm hỗ trợ bà con nông dân trong vụ Thu Đông – Đông Xuân 2021. Cụ thể, trong thời gian từ ngày 16/9/2021 đến ngày 15/10/2021, hoặc đến khi hết quà tặng tùy điều kiện nào đến trước, tại các điểm bán được công bố, bà con nông dân khi mua 3 bao Đạm Phú Mỹ sẽ được tặng 1 bao NPK Phú Mỹ 16 – 7 – 16 (loại 15kg, theo hình ảnh đính kèm) do chính PVFCCo sản xuất. Tổng số quà tặng mà PVFCCo gửi đến bà con nông dân là hơn 3.000 tấn phân bón, với giá trị hơn 30 tỷ đồng.

Đây là hoạt động thiết thực của PVFCCo nhằm trực tiếp hỗ trợ nông dân khi bước vào vụ canh tác mới trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn vì dịch Covid-19 bùng phát trong thời gian qua.

Được biết, các sản phẩm phân bón Phú Mỹ từ khi xuất hiện trên thị trường tới nay liên tục được nông dân bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, thương hiệu Phân bón Phú Mỹ được công nhận là Thương hiệu Quốc gia. Bên cạnh việc cung ứng cho ngành nông nghiệp những sản phẩm chất lượng cao, PVFCCo còn là đơn vị tích cực trong công tác an sinh xã hội. Đến nay, PVFCCo đã đóng góp hơn 26 tỷ đồng cho các hoạt động phòng chống Covid-19 và giúp đỡ các gia đình, địa phương có hoàn cảnh khó khăn vì dịch bệnh.                        

1. Thông báo chính thức Chương trình khuyến mại Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia

2. Danh sách các tỉnh thành tham gia Chương trình khuyến mại Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia

3. Danh sách các cửa hàng tham gia Chương trình khuyến mại Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia

4. Sản phẩm tham gia Chương trình khuyến mại Đạm Phú Mỹ – Ngàn sẻ chia

Petrovietnam: Khó khăn không chỉ từ dịch bệnh covid-19

8 tháng đầu năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, song Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh (SXKD) đề ra. Đặc biệt, thông tin với báo chí, Bộ Tài chính cho biết: “Trong khi các nguồn thu nội địa, thu từ xuất nhập khẩu đạt mức thấp so với dự toán thì thu ngân sách từ dầu thô 8 tháng vẫn ghi nhận kết quả tích cực, đạt 25,7 nghìn tỷ đồng, bằng 111% dự toán, tăng 0,9% so cùng kỳ”.

Đối diện khó khăn

Ngay từ khi dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư ở trong nước từ ngày 29/4/2021, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã ý thức rất rõ mức độ nghiêm trọng do biến thể mới Delta vô cùng nguy hiểm. Tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19 đã dẫn đến nhiều tỉnh, thành áp dụng biện pháp giãn cách xã hội phạm vi toàn địa bàn trong đó có nhiều tỉnh, thành lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các tỉnh Đông Nam bộ, Tây Nam bộ – nơi có nhiều công trình, dự án, nhà máy dầu khí hoạt động; nhiều địa phương siết chặt thêm các biện pháp phòng dịch như hạn chế đi lại, tạm ngừng các hoạt động không thiết yếu… đã ảnh hưởng nặng nề, toàn diện đến hoạt động SXKD và đầu tư của Petrovietnam ở cả 05 lĩnh vực hoạt động chính, trong đó các lĩnh vực: lọc hóa dầu và phân phối sản phẩm dầu khí; công nghiệp khí; công nghiệp điện; dịch vụ dầu khí chịu ảnh hưởng trực tiếp, nặng nề nhất.

Chuỗi cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn, đứt gãy, lưu thông hàng hóa, sản phẩm, nguyên nhiên vật liệu của các đơn vị đã gặp khó khăn do nhân lực, phương tiện vận chuyển phải tuân thủ các biện pháp phòng dịch chặt chẽ như xét nghiệm PCR, cách ly trước và sau khi di chuyển ra khỏi các tỉnh, thành…

Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm khí, điện, xăng dầu và hóa dầu suy giảm mạnh do giãn cách xã hội và siết chặt giao thông; tồn kho sản phẩm cao dẫn đến các nhà máy lọc dầu đã phải giảm công suất, nguy cơ dừng sản xuất trong thời gian tới là rất lớn, cụ thể: sản lượng khí khô cung ứng và tiêu thụ 8 tháng đầu năm 2021 giảm 15% so với với cùng kỳ năm 2020; kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hóa chất, phân bón đều giảm mạnh so với cùng kỳ; tồn kho xăng dầu của các nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn tăng cao dẫn đến phải giảm công suất xuống mức tối thiểu và đứng trước nguy cơ phải dừng hoạt động.

Công tác tổ chức làm việc kéo dài ngoài biển và ở nước ngoài (Malaysia, Brunei, Quarta…); việc nhập cảnh chuyên gia nước ngoài vào các nhà máy, công trình dầu khí gặp nhiều khó khăn làm ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm như Sông Hậu 1, Thái Bình 2,… ảnh hưởng tiến độ bảo dưỡng tổng thể, sửa chữa tại một số nhà máy, công trình tại các đơn vị thành viên.

Những khó khăn từ dịch bệnh không chỉ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD của Tập đoàn mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu ngân sách nhà nước và các địa phương có hoạt động Dầu khí. Vừa qua, trước tình hình khó khăn của Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), UBND Tỉnh Quảng Ngãi đã phải có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ xem xét ưu tiên sử dụng nguồn xăng dầu từ các nhà máy lọc dầu trong nước để đảm bảo cân đối cung cầu thị trường, nhằm hỗ trợ ổn định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xăng dầu.

Không chỉ khó khăn từ dịch bệnh Covid-19, Petrovietnam còn gặp phải những vướng mắc không nhỏ do cơ chế, chính sách chưa được điều chỉnh kịp thời như Luật Dầu khí, cơ chế đầu tư cho lĩnh vực E&P,… Hiện, Petrovietnam có 48 nhóm việc đang được kiến nghị cần được Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan tháo gỡ. Cùng với việc phải đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động, duy trì ổn định hoạt động SXKD, Petrovietnam còn phải chịu áp lực hết sức nặng nề đối với các chỉ tiêu, nhiệm vụ mới được giao.

Đương đầu thách thức

Đứng trước muôn vàn khó khăn, trên cơ sở thống nhất của cả hệ thống chính trị, Tổng giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đã tổ chức nhiều cuộc họp chuyên đề, tổng thể cập nhật tình hình diễn biến dịch bệnh Covid-19, diễn biến thị trường ảnh hưởng đến hoạt động của Tập đoàn, yêu cầu gắt gao việc thực hiện nghiêm túc các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19, các Ban chỉ đạo địa phương; đã ban hành 53 thông báo, 43 chỉ thị, văn bản chỉ đạo các đơn vị thành viên theo từng lĩnh vực, khối theo chuỗi giá trị. Với mục tiêu “Đảm bảo sức khỏe cho người lao động, hoạt động sản xuất xuất kinh doanh đầu tư tiếp tục duy trì ổn định, an toàn, tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm thông suốt”, cùng với nhận diện các khó khăn và cơ hội phát sinh để giữ vững kết quả đã đạt được trong 8 tháng đầu năm, đảm bảo dòng tiền hoạt động của các đơn vị thành viên được thông suốt đáp ứng tốt nhu cầu SXKD và đầu tư, hoàn thành kế hoạch cả năm 2021 ở mức cao nhất, Tập đoàn đã và đang thực hiện quyết liệt, đồng bộ 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp ứng phó dịch Covid-19 đó là:

Đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động, trong đó tập trung vào: (i) tiếp tục nghiêm túc thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động và SXKD cao hơn so với yêu cầu chung; (ii) Tiếp cận các nguồn vắc xin và tổ chức tiêm vắc xin an toàn, đảm bảo 2 liều/1 người cho toàn bộ người lao đông trong Tập đoàn; (iii) Sẵn sàng trang thiết bị an toàn phòng chống dịch tại Tập đoàn và các đơn vị để kịp thời hỗ trợ cho các đơn vị khi phát sinh nhu cầu; (iv) Hỗ trợ kịp thời về vật chất, tinh thần, điều kiện an toàn cho CBCNV khi thực hiện các giải pháp “ba tại chỗ” cũng như kéo dài thời gian đổi ca… nhằm động viên tinh thần cho người lao động.

Đảm bảo sản xuất kinh doanh – đầu tư duy trì ổn định an toàn, liên tục: trong đó tập trung thực hiện: (i) Tổ chức thực hiện tốt phương châm “ba tại chỗ”, “hai điểm đến, một cung đường” đối với người lao động trực tiếp làm việc tại các nhà máy, dự án, công trình dầu khí. (ii) Chủ động áp dụng các kịch bản xuất hiện F0 tại khu vực sản xuất (đã được xây dựng) để đưa ra phương án ứng phó phù hợp; (iii) Chia sẻ, điều phối nguồn lực, nhân lực, vật lực (kho chứa) để giảm áp lực tồn kho giữa các đơn vị trong Petrovietnam – đã chỉ đạo PVOIL, BSR, PVNDB, PVTRANS triển khai thực hiện, ngoài ra đã có văn bản gửi Bộ Quốc phòng để hỗ trợ, bố trí kho cho phép các đơn vị Petrovietnam gửi kho xăng, dầu; (iv) Xây dựng các kịch bản điều hành hoạt động SXKD trong toàn Tập đoàn đảm bảo linh hoạt và phù hợp với các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Đảm bảo lưu thông nguyên nhiên vật liệu sản xuất, sản phẩm nhằm duy trì công tác tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm thông suốt góp phần ổn định thị trường; trong đó tập trung thực hiện bám sát các diễn biến của thị trường, rà soát số liệu tồn kho, nhu cầu thuê kho của các đơn vị trong bối cảnh nhu cầu các sản phẩm đang giảm sút nghiêm trọng.

Đảm bảo tiến độ các dự án đầu tư; trong đó tập trung thực hiện: (i) Đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án hoàn thành trong năm 2021, 2022; phân cấp triệt để trong công tác quản trị đầu tư, đi đôi với tăng cường giám sát kiểm tra thực hiện; (ii) Hoàn thành các thủ tục liên quan đến đầu tư lĩnh vực E&P để trình cấp thẩm quyền xem xét, phê duyệt/thông qua làm cơ sở triển khai thực hiện; tập trung cho các dự án E&P trong khu vực truyền thống.

Bảo vệ thành quả

Trên cơ sở thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu 8 tháng đầu năm 2021, trong thời gian còn lại của năm 2021, Tập đoàn phấn đấu giữ vững kết quả đã đạt được, tiếp tục tập trung 5 nhóm giải pháp đó là:

Người đại diện/Thủ trưởng các đơn vị triển khai cập nhật, dự báo diễn biến của dịch bệnh, chuẩn bị nguồn lực, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kịp thời việc tiêm vắc-xin mũi 2 cho người lao động toàn Tập đoàn.

Đảm bảo SXKD – đầu tư duy trì ổn định an toàn, liên tục. Xây dựng mô hình hoạt động tại các nhà máy, công trường phù hợp từng giai đoạn kiểm soát dịch bệnh đảm bảo chủ động trong hoạt động SXKD.

Rà soát việc thực hiện công tác đầu tư và quản trị Danh mục đầu tư tại Tập đoàn và các đơn vị thành viên nhằm đảm bảo tiến độ các dự án: (i) Tập trung đưa dự án Sông Hậu 1 vận hành vào đầu tháng 11/2021; (ii) Sớm đưa các công trình mới (BK 19, BK 18A) vào khai thác để gia tăng sản lượng khai thác dầu trong năm 2021…

Trên cơ sở dự báo về kinh tế vĩ mô, thị trường, triển khai xây dựng kế hoạch hoạt động SXKD năm 2022 tại Tập đoàn và các đơn vị thành viên. Rà soát, triển khai các công việc chuẩn bị cho sản xuất, kinh doanh đón đầu phục hồi kinh tế, cập nhật danh mục sản phẩm chủ lực, sản phẩm thay thế và kế hoạch phát triển thị trường thích nghi với thay đổi về nhu cầu cũng như tình hình chuyển dịch năng lượng, triển khai trong quý IV/2021.

Triển khai đồng bộ chuyển đổi số và ứng dụng các nền tảng số ở tất cả các đơn vị trong Tập đoàn, (tập trung triển khai thống nhất hệ thống ERP); hoàn thành số hóa toàn bộ nghiệp vụ, quy trình, hệ thống quản trị trong năm 2021.

Trong bối cảnh hiện nay, thị trường giữ vai trò “sống còn” đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Với vị thế là doanh nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước, Petrovietnam đã chủ động nắm bắt thời cơ, tiếp tục đẩy mạnh “quản trị biến động”, thường xuyên cập nhật dữ liệu, dự báo thị trường, đưa ra kịch bản tối ưu, đảm bảo hiệu quả cho các hoạt động của Tập đoàn. Bên cạnh đó, Petrovietnam tiếp tục xây dựng các giải pháp, kế hoạch tiêu thụ các sản phẩm dầu khí, đẩy mạnh xuất khẩu song song với việc phát triển, củng cố, kiểm soát thị trường, tạo cơ sở phát triển và nắm bắt cơ hội tiêu thụ sản phẩm khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát kéo theo nhu cầu của thị trường tăng trong thời gian tiếp theo. Đặc biệt, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao và tạo điều kiện thuận lợi của Đảng, Chính phủ, của các cấp, các ngành và các địa phương, cùng với truyền thống “vượt khó” – giá trị cốt lõi của Văn hóa Petrovietnam, người lao động Dầu khí sẽ nỗ lực, kiên cường để có thể hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

VR 360