Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

9 tháng đầu năm 2021: PVFCCo vượt thách thức, tận dụng thời cơ, tăng trưởng ấn tượng

Chiều 19/10, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã tổ chức giao ban sơ kết SXKD 9 tháng đầu năm 2021, triển khai kế hoạch Quý IV năm 2021, chương trình được tổ chức trực tuyến từ VP TCT tới các điểm cầu trên cả nước.

Tham dự chương trình có đồng chí Hoàng Trọng Dũng, CT HĐQT TCT; đồng chí Lê Cự Tân, TGĐ TCT; các đồng chí trong Hội đồng Quản trị, Ban Tổng Giám đốc, Ban Kiểm soát, lãnh đạo và đại diện các đơn vị thành viên, các tổ chức chính trị, đoàn thể của TCT.

9 tháng đầu năm 2021, trong bối cảnh khó khăn và thuận lợi đan xen, với sự quan tâm, hỗ trợ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, sự đồng hành của đối tác, khách hàng, cổ đông, đặc biệt là nỗ lực của toàn thể CBNV, nhất là các bộ phận trực tiếp SXKD, bảo dưỡng, ”3 tại chỗ”…, TCT đã vượt thách thức, tận dụng thời cơ, ứng phó chủ động, bài bản, linh hoạt với đại dịch, xuất sắc hoàn thành hầu hết kế hoạch, nhiệm vụ đặt ra.

Tổng sản lượng sản xuất đạt trên 756.000 tấn phân bón và hóa chất các loại, vượt từ 3-11% so với KHSX từng mặt hàng trong 9 tháng, trong đó tăng trưởng ấn tượng nhất là sản lượng sản xuất NPK Phú Mỹ với 128.777 tấn, đạt 111% KH 9 tháng đầu năm và 86% KH năm 2021, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng kinh doanh đạt trên 900.000 tấn phân bón, hóa chất các loại, nổi bật là kinh doanh NPK Phú Mỹ đạt gần 123.000 tấn, hoàn thành 112% kế hoạch 9 tháng, 88% KH năm 2021 và tăng 77% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đại dịch, Nhà máy Đạm Phú Mỹ xuất sắc hoàn thành bảo dưỡng tổng thể định kỳ, công tác phòng chống dịch, việc triển khai các dự án, chuyển đổi số, tiết giảm chi phí…cũng có những kết quả tích cực, đáng ghi nhận.

Các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận vượt xa so với kế hoạch, cổ phiếu DPM có sự “thăng hoa” trên thị trường chứng khoán. Việc làm, thu nhập, chăm lo về tinh thần, sức khỏe cho người lao động đều được thực hiện rất tốt, TCT đã cơ bản “phủ vaccine” CBNV, cán bộ hưu trí, người thân…, giúp người lao động yên tâm công tác, cống hiến cho TCT. Phát huy tinh thần “trách nhiệm – sẻ chia”, TCT tích cực chung tay cùng ngành dầu khí và cả nước trong các hoạt động an sinh xã hội, cộng đồng, đặc biệt là các hoạt động hỗ trợ phòng chống dịch Covid-19, với trên 20 công trình/chương trình trị giá khoảng 50 tỷ đồng đã thực hiện trong 9 tháng đầu năm 2021.

Trong phần thảo luận, trên cơ sở tình hình thực hiện, kết quả cũng như các tồn tại, hạn chế, các đại biểu đã sôi nổi đưa ra nhiều đề xuất, giải pháp cho quý IV/2021 và cả năm 2022, như đầu tư cho công tác dự báo, phân tích, quản trị rủi ro, quản trị danh mục đầu tư, quản trị chi phí, chăm lo cho bộ phận người lao động “3 tại chỗ”, kịch bản cho điều kiện “bình thường mới” và kịch bản ứng phó khi thị trường có nhiều thay đổi bất thường, cập nhật Chiến lược phát triển và tiếp tục công tác tái cấu trúc, tái tạo văn hóa doanh nghiệp…

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Hoàng Trọng Dũng – Chủ tịch HĐQT TCT và đồng chí Lê Cự Tân đã đánh giá cao, trân trọng cảm ơn và khẳng định những kết quả mà TCT đạt được trong 9 tháng đầu năm là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cả tập thể Ban lãnh đạo và CBCNV PVFCCo. Quý IV/2021 vẫn còn nhiều thách thức, biến động khó lường và Ban lãnh đạo TCT mong muốn các đơn vị, người lao động tiếp tục phát huy các thuận lợi, nêu cao tinh thần sáng tạo, nỗ lực hơn nữa để chinh phục các mục tiêu mới, đáp ứng kỳ vọng của Tập đoàn, cổ đông.

NPK Phú Mỹ tăng trưởng sản xuất, kinh doanh

vnexpress.net| Ngày 14/10/2021

Hết quý III/2021, NPK Phú Mỹ có sản lượng ước đạt gần 128.500 tấn, mức tiêu thụ gần 121.500 tấn, tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2020.

Dù đối diện nhiều khó khăn trong điều kiện sản xuất “3 tại chỗ” và giá nguyên liệu tăng cao, NPK Phú Mỹ vẫn liên tục tăng trưởng, trở thành một trong những sản phẩm chủ lực của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí (PVFCCo).

Tăng trưởng trong sản xuất và kinh doanh

Nhờ tính toán khoa học, kết hợp nhịp nhàng giữa các công đoạn và thực hiện nghiêm công tác phòng chống dịch, sản xuất “3 tại chỗ” nên từ đầu năm đến nay, nhà máy NPK Phú Mỹ liên tục vận hành tốt, ngay cả trong thời gian tổ hợp nhà máy bảo dưỡng. Bước vào năm thứ 3 sau khi tiếp nhận nhà máy NPK có công nghệ hiện đại, đội ngũ vận hành đã nắm bắt, thuần thục. Cộng thêm sự khớp nối liền lạc trong khâu cung ứng nguyên vật liệu, sản lượng sản xuất hết quý III/2021 ước đạt gần 128.500 tấn, đạt 110% kế hoạch 9 tháng đầu năm và 86% kế hoạch cả năm 2021, vượt 44% so với cùng kỳ năm 2020.

Nhà máy có công nghệ hiện đại

Không chỉ tăng trưởng về sản lượng, bộ sản phẩm NPK Phú Mỹ ngày càng nâng cao về chất lượng, mở rộng chuỗi công thức mới, đáp ứng đa dạng và kịp thời nhu cầu dinh dưỡng, tăng sức đề kháng cho cây trồng trong điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt. Liên tục từ đầu năm đến nay, hàng loạt công thức mới như NPK Phú Mỹ 16-8-8 + TE; NPK Phú Mỹ 15-5-20 + TE; NPK Phú Mỹ 16-6-19+TE; NPK Phú Mỹ 16-7-16… ra mắt, được khách hàng đón nhận, đánh giá cao.

Nỗ lực vượt qua thách thức to lớn vì đại dịch Covid-19 làm gián đoạn nghiêm trọng lưu thông, vận chuyển hàng hóa, công tác kinh doanh cũng có bước tăng trưởng ấn tượng. Đơn vị tận dụng lợi thế về hệ thống kho bãi, nhà phân phối bao phủ rộng rãi trên khắp cả nước, điều độ hợp lý, triển khai các chương trình marketing linh hoạt… Nhờ vậy, mức tiêu thụ đạt gần 121.500 tấn NPK Phú Mỹ, đạt 111% kế hoạch 9 tháng đầu năm và 87% kế hoạch năm 2021, tăng tới 75% so với cùng kỳ năm 2020.

Sản phẩm có mức tiêu thụ cao trên thị trường

Mục tiêu 160.000 tấn NPK đến hết năm

Quý IV/2021, dự báo tình hình sản xuất kinh doanh phân bón sẽ có nhiều thách thức khi dịch Covid-19 vẫn phức tạp, giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng, thiên tai… PVFCCo đã xây dựng các kịch bản nhằm đạt mục tiêu sản lượng 160.000 tấn NPK Phú Mỹ. Trong 3 tháng cuối năm, PVFCCo đặt kế hoạch sản xuất và tiêu thụ khoảng 30.000 tấn; lũy kế cả năm dự kiến sản xuất 160.000 tấn và tiêu thụ 150.000 tấn.

Nếu hoàn thành theo mục tiêu đề ra, đây sẽ là những kết quả tốt nhất từ khi Nhà máy NPK Phú Mỹ đi vào vận hành, chứng minh tính đúng đắn trong triển khai dự án và vị thế trên thị trường. Đặt trong bối cảnh hiện nay, khi sự khủng hoảng nguồn cung phân bón, lương thực trên toàn thế giới đang có diễn biến phức tạp, sự tăng trưởng này góp phần tích cực giúp đảm bảo nguồn cung cho ngành nông nghiệp Việt Nam.

Minh Huy (Ảnh: NPK Phú Mỹ)

Đạm Phú Mỹ được vinh danh Top 100 Thương hiệu mạnh Việt Nam 2020 – 2021

Ngày 13/10/2021, thương hiệu Đạm Phú Mỹ đã được vinh danh trong TOP 100 Thương hiệu Mạnh Việt Nam năm 2020 – 2021, giải thưởng uy tín do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức bình chọn. 

Trong năm 2020 – 2021, đại dịch Covid-19 hoành hành khắp thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, do vậy, những thương hiệu được vinh danh trong chương trình phải thể hiện khả năng thích ứng, trụ vững và tăng trưởng trong đại dịch Covid-19, như chủ đề “Vượt thách thức” mà Ban Tổ chức đặt ra.

Hơn 17 năm hiện diện trên thị trường với tổng sản lượng lên đến hàng chục triệu tấn, Đạm Phú Mỹ – sản phẩm chủ lực của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã khẳng định vị thế là thương hiệu hàng đầu trong ngành phân bón, nhận được sự tin yêu của bà con nông dân, đóng góp quan trọng vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của PVFCCo nói riêng và ngành dầu khí, ngành nông nghiệp nói chung. Trong muôn vàn khó khăn vì đại dịch, điều kiện sản xuất kinh doanh “3 tại chỗ”, giá nguyên liệu tăng phi mã…, PVFCCo và Đạm Phú Mỹ đã và đang thực sự “vượt thách thức”, liên tục duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả. Uớc tổng sản lượng PVFCCo cung cấp ra thị trường trong 9 tháng đầu năm 2021 đạt khoảng 870.000 tấn phân bón hóa chất, trong đó riêng Đạm Phú Mỹ là trên 512.000 tấn, cơ bản vượt kế hoạch đề ra.

NPK Phú Mỹ năm 2021: tăng trưởng vượt bậc

9 tháng đầu năm 2021, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn trong điều kiện SXKD “3 tại chỗ” và giá nguyên liệu tăng phi mã nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt, đúng đắn của Ban lãnh đạo PVFCCo và nỗ lực không ngừng nghỉ của khối SXKD, bộ sản phẩm NPK Phú Mỹ đã liên tục tăng trưởng ấn tượng, trở thành một trong những sản phẩm chủ lực của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí (PVFCCo).

Sản xuất và kinh doanh NPK Phú Mỹ đều tăng trưởng vượt bậc

Nhờ tính toán khoa học, kết hợp nhịp nhàng giữa các công đoạn và thực hiện nghiêm công tác phòng chống dịch, sản xuất “3 tại chỗ” nên từ đầu năm 2021 đến nay, Nhà máy NPK Phú Mỹ liên tục vận hành tốt cả trong thời gian Tổ hợp Nhà máy thực hiện bảo dưỡng chung. Bước vào năm thứ 3 sau khi tiếp nhận Nhà máy NPK có công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới, đội ngũ vận hành đã nắm bắt, thuần thục, “làm chủ” hoàn toàn Nhà máy. Cộng thêm sự khớp nối liền lạc trong các khâu cung ứng nguyên vật liệu nên sản lượng sản xuất 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt gần 128.500 tấn, đạt 110% kế hoạch 9 tháng đầu năm và 86% kế hoạch cả năm 2021, vượt 44% so với cùng kỳ năm 2020.

Không chỉ tăng trưởng về sản lượng, bộ sản phẩm NPK Phú Mỹ ngày càng được nâng cao về chất lượng, mở rộng chuỗi công thức mới, đáp ứng đa dạng và kịp thời nhu cầu dinh dưỡng, tăng sức đề kháng cho cây trồng trong điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt. Liên tục từ đầu năm đến nay, hàng loạt công thức mới như NPK Phú Mỹ 16-8-8 + TE; NPK Phú Mỹ 15-5-20 + TE; NPK Phú Mỹ 16-6-19+TE; NPK Phú Mỹ 16-7-16 …được Nhà máy liên tục cho “ra lò” và nhanh chóng được khách hàng đón nhận, đánh giá cao.

Thi đua với sản xuất và nỗ lực vượt qua các thách thức to lớn vì đại dịch Covid-19 làm gián đoạn nghiêm trọng lưu thông, vận chuyển hàng hóa, công tác kinh doanh NPK Phú Mỹ trong 9 tháng đầu năm 2021 cũng có bước tăng trưởng ấn tượng. Tận dụng lợi thế về hệ thống kho bãi, nhà phân phối bao phủ rộng rãi trên khắp cả nước, điều độ hợp lý, triển khai các chương trình marketing linh hoạt… nên tiêu thụ được gần 121.500 tấn NPK Phú Mỹ, đạt 111% kế hoạch 9 tháng đầu năm và 87% kế hoạch năm 2021, tăng tới 75% so với cùng kỳ năm 2020. So với sản lượng sản xuất nêu trên, có thể nói, “NPK Phú Mỹ sản xuất tới đâu, bán hết tới đấy”.

Phấn đấu hoàn thành mục tiêu 160.000 tấn NPK trong năm 2021

Quý IV/2021, dự báo tình hình sản xuất kinh doanh phân bón, trong đó có NPK, sẽ có nhiều thách thức khó lường khi mà dịch Covid-19 vẫn rất phức tạp, giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng, thiên tai bão lũ dồn dập…., PVFCCo đã xây dựng các kịch bản để chinh phục mục tiêu sản lượng 160.000 tấn NPK Phú Mỹ trong cả năm. Trong 3 tháng cuối năm 2021, PVFCCo đặt kế hoạch sản xuất và tiêu thụ khoảng 30.000 tấn NPK Phú Mỹ, lũy kế cả năm 2021, PVFCCo dự kiến sản xuất 160.000 tấn và tiêu thụ 150.000 tấn NPK Phú Mỹ.

Nếu hoàn thành theo mục tiêu đề ra, đây sẽ là những kết quả tốt nhất từ khi Nhà máy NPK Phú Mỹ đi vào vận hành, là những con số “biết nói”, có ý nghĩa rất lớn đối với PVFCCo, đặc biệt trong điều kiện đại dịch Covid-19 hoành hành trên toàn thế giới. Những con số này cũng chứng minh tính đúng đắn trong triển khai dự án cũng như khẳng định vị thế của NPK Phú Mỹ trên thị trường và trong tâm trí của bà con nông dân. Đặt trong bối cảnh hiện nay, khi mà sự khủng hoảng nguồn cung phân bón, lương thực trên toàn thế giới đang có diễn biến phức tạp, sự tăng trưởng của NPK Phú Mỹ đã và đang góp phần tích cực giúp đảm bảo nguồn cung để nền nông nghiệp tiếp tục là chỗ dựa vững chắc, trụ đỡ của nền kinh tế nước nhà.

Cảnh báo về cuộc chiến phân bón thế giới

diendandoanhnghiep.vn| Ngày 07/10/2021

Thiếu nguyên liệu đầu vào, đứt gãy chuỗi logistic, nguồn cung khan hiếm, tăng giá kỷ lục với phân urê và các loại phân bón khác, được các chuyên gia lo ngại cảnh báo là “chiến tranh phân bón thế giới”

Theo các bản tin của Argus và Fertecon (các Công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế), thị trường NPK đang dồn sự chú ý vào châu Âu khi mà hàng loạt Nhà máy tại lục địa này tuyên bố tạm dừng sản xuất do các nguyên liệu chính là ammonia, phosphate, khí đốt khan hiếm và tăng giá cao.

Khu vực châu Âu chiếm phần lớn sản lượng sản xuất, xuất khẩu NPK của thế giới, nên việc dừng sản xuất này đã lập tức làm nguồn cung giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó, nhu cầu đang tăng lên ở khu vực châu Phi, Đông Nam Á, Ấn Độ và nhiều nơi khác trên thế giới do bước vào vụ sản xuất mới khiến giá mặt hàng này dự đoán còn tiếp tục tăng cao.

Theo các bản tin của Argus và Fertecon (các Công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế), thị trường NPK đang dồn sự chú ý vào châu Âu khi mà hàng loạt Nhà máy tại lục địa này tuyên bố tạm dừng sản xuất do các nguyên liệu chính là ammonia, phosphate, khí đốt khan hiếm và tăng giá cao.

Tại châu Á, việc Trung Quốc dự kiến dừng xuất khẩu NP/NPK cho đến giữa năm 2022 đã dấy lên làn sóng lo ngại thiếu hụt NPK, nhất là tại các quốc gia Đông Nam Á. Trong sản lượng xuất khẩu 1.1 triệu tấn NPK hàng năm của Trung Quốc thì Thái Lan và Philipines là 2 nước nhập khẩu nhiều nhất, chiếm gần 70%. Sau động thái dừng xuất khẩu của Trung Quốc, giá NPK 15-15-15/16-16-16 sản xuất tại Nga chào bán về Đông Nam Á đã tăng thêm 40$/tấn, đạt mức giá 600$/tấn CFR. Các nhà quan sát cho rằng mức nâng giá này chủ yếu thăm do thị trường và đánh giá phản ứng của người mua để chuẩn bị cho một mức tăng tiếp theo.

Nguồn cung giảm trong khi cầu tăng nên mặc dù giá tăng, các nước sản xuất nông nghiệp lớn buộc phải tích trữ NPK. Tại Thái Lan, trong tháng 8, nước này đã nhập khẩu 161.600 tấn NPK – tăng 44% so với cùng kỳ năm ngoái; còn trong tháng 9, Brasil đã nhập khẩu lượng NP/NPK lên tới hơn 348.000 tấn, tăng 125% so với cùng kỳ năm 2020 về lượng và về giá tăng hơn 125USD so với giá tháng 4/2021.

Kali cũng là mặt hàng tăng giá mạnh tại tất cả các khu vực do nguồn cung thắt chặt. Giá MOP tăng mạnh nhất tại Đông Nam Á khi đã tăng 50 USD/tấn so với tuần trước lên mức 550-570 USD/tấn CFR – tăng gần gấp đôi chỉ trong vòng 4 tháng khi mà hồi tháng 5 giá mặt hàng này là 285 USD/tấn CFR. Tại Hoa Kỳ giá tăng 28 USD/tấn so với tuần trước lên mức 602-620 USD/tấn FOB Nola, tại châu Âu giá MOP miểng đã tăng từ mức 460-480 Euro/tấn CFR lên mức 460-500 Euro/tấn CFR.

Brazil là nước mua nhiều kali miểng nhất, với giá cao nhất thế giới hiện nay, xung quanh mức 750-760$/tấn CFR và dự báo sẽ đạt 800$/tấn vào cuối tháng 10/2021. Việc không chắn chắn về các lệnh trừng phạt với Belarus, nguồn cung khí đốt eo hẹp tiếp tục chi phối các giao dịch và giá trên thị trường. Giá Kali được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong quý 4/2021 trong bối cảnh nhu cầu tăng mạnh tại tất cả các thị trường do chuẩn bị bước vào vụ chính.

Giá DAP thế giới cũng liên tục tăng lên mức cao. Tại Hoa Kỳ và Brazil giá mặt hàng này neo ở mức 665-675 USD/tấn FOB Nola khi nguồn cung giao ngay ngày càng giảm. Giá tại Ấn Độ tuần này cũng tăng lên mức 677 USD/tấn CFR. Nhiều nhà máy đóng cửa sản xuất khi giá khí đốt tăng cao hoặc do ảnh hưởng của thiên tai, chính sách hạn chế xuất khẩu Phosphate của Trung Quốc được đưa ra đã kéo tụt nguồn cung trong Quý 4 và đẩy giá DAP tăng lên tại nhiều khu vực do chuẩn bị bước vào vụ sản xuất chính.

Có thể thấy tất cả các loại phân bón trên thế giới đều lâm vào tình trạng khan hàng do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, nhiều nhà máy buộc phải đóng cửa làm nguồn cung bị cắt giảm nghiêm trọng.

Nguồn cung các mặt hàng phân bón hạn chế và giá còn được cộng hưởng bởi cước vận chuyển vẫn tiếp tục xác lập các mặt bằng giá mới do sự gián đoạn chuỗi cung ứng, logistics, giá xăng dầu tăng cao vì đại dịch gây ra làm tình hình càng “trầm trọng” thêm. Các hãng tàu hiện khuyến nghị đặt chỗ trước từ 4-5 tuần khi tàu và container đều khan hiếm. Việc vận chuyển dự kiến sẽ chịu thêm áp lực khi thị trường bước vào mùa thu và mùa đông, sự tắc nghẽn tại các cảng biển sẽ làm ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu trong ít nhất hai năm tới – trong đó việc giao thương phân bón không phải là ngoại lệ.

Như vậy có thể thấy tất cả các loại phân bón trên thế giới đều lâm vào tình trạng khan hàng do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, nhiều nhà máy buộc phải đóng cửa làm nguồn cung bị cắt giảm nghiêm trọng. Trong những tháng cuối năm và thậm chí cả năm 2022, thế giới có thể sẽ bước vào một “cuộc chiến giành giật phân bón” và đẩy giá mặt hàng lên những mốc kỷ lục mới. Việt Nam nằm trong dòng chảy chung của kinh tế thế giới và giá mặt hàng này cũng không ngoại lệ nên chắc chắn sẽ có những tác động tăng giá mạnh trong thời gian tới.

Minh Ngọc

PetroVietnam chủ động linh hoạt thích ứng với trạng thái bình thường mới

Ngày 4/10, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) Lê Mạnh Hùng đã chủ trì buổi giao ban điều hành sản xuất, kinh doanh thường kỳ lần thứ 10 năm 2021 trực tuyến với thủ trưởng các đơn vị trong toàn Tập đoàn nhằm “linh hoạt thích ứng” với trạng thái bình thường mới.

Tham dự buổi giao ban có đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn; các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, thành viên HĐTV, Phó Tổng giám đốc, Trưởng các ban chuyên môn/văn phòng Tập đoàn cùng lãnh đạo các đơn vị thành viên của Tập đoàn.

Trong tháng 9, hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) của Tập đoàn tiếp tục gặp nhiều tác động tiêu cực do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, thị trường các sản phẩm dầu khí đứt gãy chuỗi cung ứng, đặc biệt là tình trạng giãn cách xã hội diện rộng tại nhiều địa phương. Trong bối cảnh đó, Petrovietnam đã triển khai hàng loạt các biện pháp để ứng phó, công tác dự báo, quản trị biến động, linh hoạt trong điều hành, kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị của Tập đoàn theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh đã tối đa giá trị của từng đơn vị và mở rộng thị trường… giúp Tập đoàn ứng phó kịp thời với những khó khăn, giữ vững và duy trì nhịp độ SXKD.

Với nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2021, Petrovietnam đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Cụ thể, khai thác dầu thô tháng 9 vượt 15,4% kế hoạch tháng 9, tính chung 9 tháng đạt 8,20 triệu tấn, vượt 13,0% kế hoạch 9 tháng. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn tháng 9/2021 ước đạt 44,9 nghìn tỷ đồng, vượt 11% kế hoạch tháng 9/2021, lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 đạt 437,8 nghìn tỷ đồng, vượt 16% kế hoạch 9 tháng. Petrovietnam góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách Nhà nước khi đã nộp NSNN 9 tháng đạt 65,9 nghìn tỷ đồng, vượt 5,0% kế hoạch năm 2021 và vượt 17% so với cùng kỳ năm 2020. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp lớn gặp khó khăn, thua lỗ, những đóng góp quan trọng của Petrovietnam thể hiện nỗ lực rất lớn của tập thể lãnh đạo Tập đoàn, các đơn vị thành viên và gần 60.000 người lao động Dầu khí.

Công tác quản trị điều hành được triển khai sát với diễn biến thực tế, kịp thời thích ứng với những biến động của thị trường, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị từ khâu thượng nguồn, trung nguồn đến hạ nguồn. Đảm bảo tối ưu công tác quản lý dòng tiền tại các đơn vị và không làm gián đoạn chuỗi sản xuất, cung ứng. Kiểm soát và linh hoạt trong công tác tồn trữ các sản phẩm. Quản trị tận dụng tối đa sự phối hợp giữa các đơn vị trong chuỗi giá trị nhằm bảo đảm lợi ích chung của Petrovietnam và của Nhà nước.

Công tác quản trị đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực, 9 tháng đầu năm đã hoàn thành đưa mỏ Sư Tử Trắng pha 2 vào khai thác theo đúng kế hoạch, các dự án phát triển mỏ như BK-18A, BK-19 đã và đang được triển khai tích cực theo tiến độ đề ra (dự kiến sẽ đưa công trình BK-19 vào hoạt động vào cuối tháng 10/2021, công trình BK-18A vào cuối tháng 11/2021); tiếp tục tập trung  mọi nguồn lực để sớm đưa vào vận hành các dự án điện Sông Hậu 1, Thái Bình 2, trong đó dự kiến đưa vào vận hành thương mại Tổ máy số 1 dự án Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1 vào đầu tháng 11/2021.

Bên cạnh hoạt động SXKD, Petrovietnam còn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, ủng hộ công tác phòng chống dịch Covid-19. Từ đầu năm 2021, toàn Tập đoàn đã thực hiện nghiêm túc các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19; triển khai thực hiện hiệu quả mô hình sản xuất, vận hành “ba tại chỗ” có vùng đệm, vùng kết nối. Đặc biệt, thực hiện nhanh, kịp thời chiến lược tiêm vắc-xin kết hợp với chăm lo sức khỏe cho người lao động. Tính đến 30/9/2021, toàn Tập đoàn đã tham gia ủng hộ công tác phòng chống Covid là 775,8 tỷ đồng, trong đó đóng góp cho Quỹ vắc-xin 554,9 tỷ đồng. Công tác tiêm chủng trong toàn Tập đoàn được đặc biệt quan tâm và khẩn trương triển khai, đến nay, hầu hết người lao động trong Tập đoàn đã được tiêm ít nhất 1 mũi vắc-xin, đặc biệt ưu tiên người lao động trực tiếp tại các công trình, dự án, nhà máy…

Công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí 9 tháng đầu năm 2021 đạt 2.209,6 tỷ đồng bằng 80,9% kế hoạch tiết giảm năm 2021. Công tác chuyển đổi số triển khai tích cực. Công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác truyền thông, văn hóa doanh nghiệp được triển khai đồng bộ, sâu rộng và đạt hiệu quả tích cực; thương hiệu, uy tín của Tập đoàn ngày càng được nâng cao, hình ảnh Petrovietnam đã tạo ấn tượng tốt đẹp trong dư luận xã hội. Các công tác khác như đào tạo, quản lý, chính sách tiền lương cũng được tập trung triển khai đúng như kế hoạch.

Ngày 9/9, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đã xác nhận Petrovietnam có xếp hạng tín nhiệm độc lập ở mức BB+, xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) tại mức BB với “Triển vọng tích cực”; xếp hạng nợ ưu tiên không có tài sản bảo đảm của Petrovietnam được đánh giá tại mức BB. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm riêng của Petrovietnam ở mức BB+. Đánh giá tích cực này từ Fitch Ratings cho thấy sự ghi nhận những kết quả đạt được của Petrovietnam trong những năm qua.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả hoạt động SXKD tháng 9 và 9 tháng năm 2021, Ban Tổng giám đốc và lãnh đạo các Ban theo từng lĩnh vực phụ trách đã trao đổi xử lý, giải quyết các khó khăn và đưa ra các giải pháp hỗ trợ các đơn vị thành viên trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư.

Sau khi nghe ý kiến trao đổi, xử lý, giải quyết công việc của lãnh đạo các đơn vị, lãnh đạo các Ban và các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, đồng thời tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn, Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng ghi nhận và đánh giá cao kết quả đã đạt được trong 9 tháng năm 2021, định hướng phát triển sau khi kiểm soát dịch bệnh chuyển từ “Zero Covid” sang “chủ động thích ứng linh hoạt, an toàn với dịch bệnh”; lưu ý Tập đoàn cùng các đơn vị cập nhật đánh giá tình hình, sẵn sàng “thích ứng linh hoạt” với diễn biến của dịch bệnh Covid-19, từ đó có giải pháp khắc phục khó khăn, mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, nắm bắt cơ hội phục hồi tăng trưởng. Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng đề nghị các đơn vị tiếp tục nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động SXKD ổn định, đảm bảo an toàn cho người lao động; giao nhiệm vụ để các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các ban chuyên môn, lãnh đạo các đơn vị thành viên nhanh chóng rà soát, xử lý các nhiệm vụ, các kết luận, chỉ đạo của lãnh đạo Tập đoàn đúng tiến độ. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai đồng bộ chuyển đổi số trong toàn Tập đoàn.

Lãnh đạo Tập đoàn cũng đề nghị các đơn vị tổ chức lấy ý kiến góp ý của cán bộ, người lao động, các đơn vị, đối tác, nhà thầu liên quan vào Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi và nhấn mạnh, đây là nội dung, là cơ sở quan trọng tạo lực đẩy phát triển bền vững của Petrovietnam trong những năm tới./.

Khủng hoảng nguồn cung, giá phân urê thế giới tăng liên tục

Thanhnien.vn| Ngày 4/10/2021

Giá phân bón tiếp tục tăng nóng sau 1 tháng có phần hạ nhiệt. Các mức giá cao kỷ lục trên thế giới liên tục được thiết lập trong tháng 9 và 10, gây bất lợi không nhỏ cho nhà sản xuất trong nước.

Khan hiếm toàn thế giới

Covid-19 lại tiếp tục gây khó khăn cho thị trường phân bón thế giới. Trong 3 tuần qua, nhiều nhà máy sản xuất amôniắc (NH3) tại châu Âu buộc phải tạm dừng hoạt động do giá thành sản xuất tăng cao vì thiếu khí đốt.

Giá phân bón trong nước dự báo sẽ biến động theo giá thế giới trong thời gian tới

Bản tin Argus cho biết, Công ty Yara – Na Uy tuyên bố giảm công suất 40% trên toàn châu Âu còn Công ty BASF của Đức đã đóng cửa nhà máy NH3 tại Antewerp và Ludwigshafen vì với mức giá khí mới, giá thành sản xuất NH3 tại châu Âu đã gần chạm ngưỡng 950 USD/tấn trong khi giá nhập khẩu về châu Âu là 670 – 700 USD/tấn CFR (giá tiền hàng và cước phí). NH3 là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại phân bón chứa nitơ như urê, DAP, NPK…, do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp tới giá phân bón, đặc biệt là urê.

Bản tin của Argus và Fertecon (các công ty dự báo, phân tích thị trường uy tín quốc tế) đều cho biết, nguồn cung urê trên toàn thế giới ngày càng khan hiếm, giá tiếp tục tăng tại tất cả thị trường. Cuối tháng 9 thị trường urê thế giới đã chứng kiến nhiều kỷ lục được thiết lập tại các khu vực sau khi duy trì đà tăng liên tiếp trong 3 tuần qua.

Tại Mỹ, giá đã tăng vượt mức 650 USD/tấn theo giá FOB, thiết lập một mức giá kỷ lục mới trong vòng 10 năm trở lại đây. Tại Ai Cập, sau khi tăng 75 USD/tấn tuần trước, tuần này giá urê tiếp tục tăng thêm 80 USD/tấn và đạt mức kỷ lục 700 USD/tấn giá FOB cho hàng giao tháng 12.2021. Giá urê tăng mạnh trong trạng thái nguồn cung thắt chặt tại châu Âu khi giá khí đốt tăng cao đã khiến nhiều nhà máy phải tạm dừng sản xuất. Cùng với đó, nguồn cung còn bị đe dọa khi chính sách hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 27.9 vừa qua. Giá tăng mạnh, nguồn cung hạn chế, nhu cầu đang tăng trở lại tại tất cả các thị trường do chuẩn bị bước vào vụ sản xuất, điển hình là các đấu thầu tại Ấn độ, Tây Phi… sẽ là yếu tố tiếp tục hỗ trợ thị trường urê trong thời gian tới.

Kỷ lục giá trong 1 thập kỷ

Ngày 1.10 vừa qua, Công ty RCF Ấn Độ đã mở thầu mua 1,5 triệu tấn urê, các nhà cung cấp phải giao hàng trong tháng 10 và 11 năm nay. Kết quả mở thầu cho thấy Công ty Amber có giá chào thấp nhất là 665,5 USD/tấn CFR nhưng chỉ cung cấp được 65.000 tấn. Số lượng hàng còn lại có mức giá chào dao động trong khoảng 720 – 790 USD/tấn CFR. Như vậy, mức giá mới này đã lập kỷ lục trong 10 năm trở lại đây còn so với gói thầu mua urê trước đó vào cuối tháng 7.2021, đơn giá đã tăng thêm 150 USD/tấn. Nếu giá nhập khẩu tại Ấn Độ bình quân 730 USD/tấn CFR thì giá thành nhập khẩu sau khi đóng bao 50 kg tại cảng tương đương 17.000 đồng/kg.

Bản tin dự báo thị trường Đông Nam Á sẽ bị “khô hạn” urê, đến nay chỉ có 3 quốc gia chủ động được nguồn cung urê cho nội địa là Việt Nam, Indonesia, Malaysia trong khi các quốc gia còn lại phải nhập khẩu 100% urê vì không có nhà máy sản xuất, trong đó 2 quốc gia nhập khẩu nhiều nhất là Thái Lan nhập khẩu 2,5 triệu tấn và Philippines nhập 1 triệu tấn/năm.

Tuy chủ động được nguồn cung urê, nhưng chi phí đầu vào tăng mạnh (giá dầu, giá khí, giãn cách ngừa Covid-19 thời gian dài…) khiến nhiều dự báo cho thấy, giá phân bón trong nước sẽ biến động trong thời gian tới.

Ngày 4.10, giá phân bón trong nước tiếp tục duy trì mức ổn định từ đầu tháng đến nay. Theo đó, phân urê hạt đục Cà Mau, Phú Mỹ, Ninh Bình giữ mức 12.500 đồng/kg; phân kali Israel các loại tại thị trường TP.HCM từ 12.000 – 13.500 đồng/kg, thấp hơn thị trường Hà Nội 500 đồng/kg, từ 12.500 – 14.000 đồng/kg; phân DAP Đình Vũ, DAP Lào Cai 16.000 đồng/kg, DAP Korea đen 19.500; NPK Nga từ 11.200 – 13.500 đồng/kg.

Đầu tư xây dựng dự án dầu khí: nhiều bất cập trong văn bản pháp luật

Với đặc thù có vốn đầu tư lớn, rủi ro lại cao cũng như không chỉ chịu sự chi phối của luật pháp Việt Nam mà còn phải tuân theo các thông lệ quốc tế, việc triển khai đầu tư các dự án dầu khí, trong đó có các dự án ở lĩnh vực thượng nguồn như thăm dò khai thác dầu khí đang gặp rất nhiều khó khăn. Và khó khăn này lại càng lớn hơn khi bản thân các dự án dầu khí đang bị “trói buộc” bởi hệ thống văn bản pháp luật chồng chéo, không còn phù hợp trong môi trường đầu tư có nhiều thay đổi để ngành Dầu khí có thể đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế.

Kỳ 1: Đặc thù của hoạt động đầu tư các dự án dầu khí

Với đặc điểm khác biệt so với các dự án đầu tư thông thường, các dự án dầu khí, thường có quy mô đầu tư lớn, được xếp vào nhóm các dự án quan trọng quốc gia, công nghệ cao và đi kèm với các rủi ro không hề nhỏ trong triển khai, đặc biệt là các rủi ro về địa chất đối với các dự án thăm dò khai thác dầu khí.

Trong khi đó, việc triển khai dự án dầu khí lại đang chịu sự chi phối lớn nhất của Luật Dầu khí – văn bản pháp luật đã không còn phù hợp trong bối cảnh có nhiều thay đổi. Hơn thế nữa, việc triển khai này càng gặp khó khăn lớn hơn khi chịu thêm sự chi phối chồng chéo của nhiều luật khác như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản dưới luật khác…

Theo ông Nguyễn Văn Phúc – Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, trong bối cảnh có nhiều thay đổi, hành lang pháp lý cho hoạt động của ngành Dầu khí, đặc biệt là Luật Dầu khí đã không còn phù hợp để ngành Dầu khí phát triển mạnh mẽ và đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế.

Làm rõ hơn về bất cập này, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) Lê Mạnh Hùng cho biết, hoạt động thăm dò khai thác dầu khí đang phải đối mặt với khó khăn về điều kiện kỹ thuật, địa chất, tình hình triển khai thực địa. Đặc biệt, cơ chế chính sách pháp luật về dầu khí không còn phù hợp với tình hình mới, ảnh hưởng không nhỏ tới lĩnh vực cốt lõi này.

Cụ thể, Luật Dầu khí và các điều khoản Hợp đồng dầu khí hiện hành còn tồn tại bất cập và kém hấp dẫn so với các nước trong khu vực, không phù hợp tiềm năng trữ lượng dầu khí hiện nay nên không thu hút được nhà đầu tư nước ngoài.

Giếng khoan Kèn Bầu 2X, Lô 114, bể Sông Hồng, thềm lục địa Việt Nam được giàn khoan SAGA thi công. Ảnh: Trương Hoài Nam

Trên thực tế, Luật Dầu khí được ban hành năm 1993, sau đó được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2000 và 2008. Trong bối cảnh giá dầu thô thế giới biến động, xu hướng chuyển dịch năng lượng (từ năng lượng truyền thống sang các dạng năng lượng mới) và điều kiện thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam, các cơ chế trong Luật Dầu khí không đủ khuyến khích các nhà đầu tư phát triển các mỏ nhỏ/mỏ cận biên, hay áp dụng các giải pháp để tận thăm dò, nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR).

Minh chứng rõ nét nhất là Luật Dầu khí dù đã thể hiện khá đầy đủ các giai đoạn, bước thực hiện đối với dự án thăm dò khai thác dầu khí/Hợp đồng dầu khí nhưng lại chưa chỉ rõ các thủ tục đầu tư đầy đủ khi một doanh nghiệp nhà nước (PVN/đơn vị thuộc PVN) có tham gia đầu tư vào dự án dầu khí (trong khi Luật Đầu tư cũng không quy định).

Chính sự chồng chéo, thiếu quy định này đã khiến cho việc triển khai các dự án thăm dò khai thác dầu khí đang gặp nhiều khó khăn và khiến nhiều doanh nghiệp nước ngoài “nản chí” khi có ý định đầu tư vào các dự án loại này, nhất là khi điều kiện khai thác hiện nay chủ yếu là mỏ nhỏ, ở vùng nước sâu, xa bờ đòi hỏi chi phí lớn.

Trên thực tế, việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực thăm dò khai thác những năm gần đây gần như “giẫm chân tại chỗ”. Trong giai đoạn 2016 – 2020, PVN chỉ ký được 8 hợp đồng dầu khí mới, chưa bằng 1/3 so với giai đoạn 2010 – 2015 (27 hợp đồng dầu khí mới).

Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật này chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư của các bên với vai trò là các nhà thầu dầu khí nói chung (quan hệ giữa nhà đầu tư với nước chủ nhà/Chính phủ Việt Nam), còn với vai trò là nhà đầu tư vào thăm dò khai thác dầu khí có sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp thì vẫn phải tuân thủ các luật chung liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư.

Thực tế là các dự án thăm dò khai thác dầu khí trong nước được thực hiện bởi tổ hợp các nhà thầu dầu khí quốc tế và/hoặc nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn đầu tư để triển khai công tác thăm dò khai thác dầu khí tại 1 khu vực/lô/cụm lô nào đó tại thềm lục địa Việt Nam với điều kiện phải tuân thủ các cam kết về quyền và nghĩa vụ trong Hợp đồng dầu khí (thường là Hợp đồng chia sản phẩm – PSC) được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam (đại diện là PVN) và tổ hợp các nhà thầu, đồng thời tuân thủ các quy định liên quan trong Luật Dầu khí cũng như văn bản dưới Luật Dầu khí.

Theo đó, nếu kết quả thăm dò – thẩm lượng xác định được mỏ dầu khí thương mại, các nhà thầu sẽ tiến hành hoạt động khai thác và bán dầu thô hoặc khí ngay tại miệng giếng, theo đó các hoạt động này chỉ tuân thủ quy định trong PSC và Luật Dầu khí.

Tuy nhiên, trong trường hợp các lô/khu vực hợp đồng có khai thác khí và các nhà thầu thực hiện bán khí đến tận hộ tiêu thụ trên bờ (trường hợp này được xem là PSC mở rộng), các nhà thầu sẽ cần đầu tư bổ sung các công trình đường ống để dẫn khí về bờ và các trạm xử lý, tiếp nhận, vận chuyển khí đến các hộ tiêu thụ. Trong khi đó, hoạt động xây dựng các công trình trên bờ hiện nay đang điều chỉnh bởi Luật Xây dựng và các văn bản dưới Luật Xây dựng.

Cùng với đó, Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014) quy định đối với các dự án nhóm A cần phải có chấp thuận của đại diện chủ sở hữu trước khi chủ đầu tư quyết định đầu tư.

Với đặc thù của ngành dầu khí (Nhà nước vừa quản lý đầu tư, vừa quản lý tài nguyên), Luật Dầu khí quy định rất chặt chẽ các bước thực hiện dự án thăm dò khai thác dầu khí, toàn bộ các thay đổi của Hợp đồng dầu khí cần được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các bước đầu tư dự án thăm dò khai thác dầu khí (ODP, EDP, FDP) khi thẩm định đều có sự tham gia của đại diện các Bộ ngành và Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (đại diện chủ sở hữu của PVN).

Vì vậy, việc yêu cầu phải trình và đạt được chấp thuận của đại diện chủ sở hữu trước khi quyết định đầu tư theo Luật 69/2014/QH13 sẽ dẫn đến doanh nghiệp sử dụng vốn có nguồn gốc vốn Nhà nước (như PVEP) phải trình phê duyệt dự án theo 2 quy trình thủ tục khác nhau làm kéo dài thời gian phê duyệt và nhiều khi không khả thi vì tiến độ và nội dung phê duyệt theo 2 quy trình không giống nhau. Đây chính là khó khăn khiến việc triển khai đầu tư các dự án thăm dò khai thác đang bị chậm chễ.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), không chỉ có các dự án thượng nguồn gặp khó khăn, việc triển khai các dự án dầu khí ở lĩnh vực trung nguồn và hạ nguồn như chế biến khí, điện khí cũng gặp “trắc trở” bởi sự chồng chéo về văn bản quy phạm pháp luật và một loạt thông tư hướng dẫn của các bộ, liên bộ, ngành liên quan cũng như các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư, lập và thẩm định dự án đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho đến quản lý quá trình triển khai xây dựng và kết thúc đưa dự án vào vận hành khai thác.

Ví dụ rất rõ có thể thấy là trong việc triển khai các dự án đường ống dẫn khí từ mỏ/miệng giếng khai thác ngoài khơi về bờ và đến các hộ tiêu thụ (nhà máy điện, nhà máy đạm…).

Thực tế là việc triển khai các dự án này đòi hỏi tính đồng bộ trong công tác đầu tư giữa hoạt động khai thác, vận chuyển và sử dụng khí (hay nói cách khác tiến độ đầu tư, vận hành dự án đường ống dẫn khí cần đảm bảo đồng bộ với tiến độ khai thác khí tại mỏ và tiến độ đầu tư, vận hành các nhà máy nhiệt điện khí, nhà máy đạm sử dụng khí làm nguyên liệu đầu vào).

Số lượng hợp đồng dầu khí ký mới trong giai đoạn 2010 – 2020.

Với các dự án này, có nhiều chủ thể cùng liên quan trong chuỗi hoạt động khí, bao gồm: chủ mỏ (đơn vị/nhà thầu khai thác khí); đơn vị kinh doanh khí (mua khí từ chủ mỏ và bán cho các hộ tiêu thụ); đơn vị vận chuyển và xử lý khí (thực hiện dịch vụ vận chuyển, xử lý khí từ mỏ đến các hộ tiêu thụ) và các hộ tiêu thụ khí (các nhà máy nhiệt điện khí là hộ tiêu thụ chính). Trong đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có nhiều vai trò khác nhau: Mua khí từ mỏ, tham gia đầu tư đường ống, bán khí cho các hộ tiêu thụ khí. Ngoài ra, giá khí mua của chủ mỏ tại điểm giao nhận từ mỏ (giá khí miệng giếng), giá khí bán cho các hộ tiêu thụ điện/đạm và giá điện bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đều do Chính phủ quyết định.

Bên cạnh đó, có một số nguồn khí do điều kiện khai thác/sử dụng đặc thù nên được áp dụng cơ chế chuyển ngang (pass through) giá mua khí sang giá điện (ví dụ như khí khu vực PM3-CAA; Cụm mỏ Lô B, 48/95, 52/97). Điều này cho thấy, quan hệ lợi ích hài hòa giữa các bên liên quan trong chuỗi hoạt động khí mới có thể đảm bảo được sự đồng bộ trong chuỗi dự án, điều này luôn là thách thức trong thực tiễn triển khai.

Đáng chú ý, các dự án chế biến dầu khí, các dự án nhà máy nhiệt điện (khí, than) thường có quy mô đầu tư rất lớn (đến 2 tỷ USD tương đương hơn 40.000 tỷ đồng trở lên) và thời gian xây dựng dài, dẫn đến việc huy động vốn rất phức tạp, phải huy động vốn từ các nguồn tài chính nước ngoài và cần có bảo lãnh/hỗ trợ của Chính phủ/Bộ Tài chính. Ngoài ra còn chịu nhiều tác động từ các quy định về an toàn, môi trường, chất lượng sản phẩm buộc chủ đầu tư phải đầu tư nâng cấp làm ảnh đáng kể đến hiệu quả của nhà máy.

Ngoài ra, có dự án bắt buộc phải sử dụng công nghệ bản quyền, nghĩa là mua/thuê bản quyền công nghệ (bao gồm thiết kế công nghệ, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ kỹ thuật, thiết bị độc quyền, hóa chất xúc tác…) từ các tổ chức nước ngoài để phù hợp với yêu cầu chế biến của từng nhà máy/dự án, đảm bảo tương thích với nguồn nguyên liệu dầu thô đầu vào và cơ cấu sản phẩm đầu ra. Do đó, khi triển khai đầu tư (như khâu thiết kế, lựa chọn nhà thầu EPC) thường phải tuân thủ theo thông lệ quốc tế.

Với các bất cập này, nhiều chuyên gia cho rằng việc sớm rà soát, sửa đổi các văn bản pháp lý không còn phù hợp và chồng chéo trong bối cảnh mới sẽ là “liều thuốc” quan trọng để các dự án dầu khí có thể triển khai thuận lợi, đồng thời tạo sự yên tâm tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài “rót vốn” vào lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí./.

PVFCCo: Đồng tâm hiệp lực, sáng tạo để viết tiếp truyền thống tự hào

nhandan.vn| Ngày 23/9

 

Vào ngày 21/9 đã diễn ra lễ bàn giao Nhà máy Đạm Phú Mỹ – Dự án trọng điểm cấp quốc gia – từ Liên danh nhà thầu Technip – Samsung, Ban Quản lý Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ cho Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – tiền thân của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã trở thành cột mốc quan trọng không chỉ trong lịch sử phát triển của PVFCCo, mà còn của cả ngành phân bón Việt Nam.

Ngày 21/9 hằng năm cũng trở thành Ngày truyền thống của PVFCCo, là dịp để “ôn cố tri tân”, tạo thêm động lực để tập thể PVFCCo đồng tâm hiệp lực, sáng tạo, viết tiếp truyền thống tự hào.

Đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ – một tầm nhìn chiến lược sáng suốt

Cuối thập niên 1990, sau giai đoạn hình thành và phát triển công nghiệp khai thác dầu khí, đặc biệt sau khi dòng khí đầu tiên được đưa vào bờ năm 1995, ngành dầu khí Việt Nam đi vào giai đoạn phát triển khâu sau bằng việc triển khai các dự án chế biến dầu khí.

Một trong số đó là dự án sản xuất phân đạm quy mô lớn từ nguồn nguyên liệu khí, với mục tiêu đa dạng hóa phương thức sử dụng, qua đó nâng cao giá trị nguồn tài nguyên dầu khí, đưa những thành tựu của nền công nghiệp hiện đại tới người nông dân, tiết kiệm ngoại tệ chi cho nhập khẩu phân bón, bảo đảm an ninh lương thực và góp phần vào sự phát triển nông nghiệp nước nhà. Khi đó, hơn 90% lượng phân đạm sử dụng trong nước phải nhập từ nước ngoài, nguồn cung ứng phụ thuộc vào thị trường thế giới và khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nên rất thiếu ổn định.

Thực hiện chủ trương của Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1996) về việc xây dựng Nhà máy phân đạm số 1 từ khí có công suất 60-80 vạn tấn/năm và Nghị quyết số 06/1997/QH10 ngày 5/12/1997 của Quốc hội khóa X về Dự án khí điện đạm tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Chính phủ đã đưa dự án sản xuất phân đạm vào chương trình kêu gọi đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Do chi phí đầu tư lớn và thời điểm đó giá phân bón thế giới đang ở mức thấp, nếu xem xét đơn thuần về hiệu quả kinh tế thì dự án có độ rủi ro cao, thiếu hấp dẫn, nên không có nhà đầu tư nước ngoài nào quan tâm đầu tư dự án. Tuy nhiên, với tầm nhìn vĩ mô dài hạn, các cấp lãnh đạo vẫn quyết tâm thực hiện dự án bằng nội lực.

Ngày 27/12/2000, Chính phủ ra quyết định giao cho Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất phân đạm tại khu công nghiệp Phú Mỹ I, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ là nhà máy đầu tiên ở Việt Nam thuộc khâu sau của ngành dầu khí và được thực hiện theo phương thức hợp đồng EPCC, với tổng dự toán 445 triệu USD, công suất 740.000 tấn urê/năm. Liên danh nhà thầu quốc tế uy tín Technip (Italy) – Samsung (Hàn Quốc) là đơn vị thực hiện.

Ngày 21/9/2004, Nhà máy được bàn giao cho Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – đơn vị được thành lập từ năm 2003 để tiếp nhận, vận hành, kinh doanh các sản phẩm của Nhà máy. Tháng 12/2004, Nhà máy Đạm Phú Mỹ chính thức khánh thành. 

Sản phẩm Đạm Phú Mỹ xuất hiện trên thị trường đã làm thay đổi căn bản tình hình cung cầu và thị trường phân bón, góp phần đáng kể vào việc bình ổn thị trường.

Thêm vào đó, giá lương thực và phân bón trên thế giới liên tục tăng cao trong các năm sau đó vừa giúp dự án nhanh chóng thu hồi vốn, vừa giúp ngành nông nghiệp Việt Nam thu lợi lớn.

Mặc dù đây là yếu tố khách quan, nhưng nếu không có quyết định dũng cảm trước đó thì cơ hội này đã vuột khỏi tay. Đặc biệt, trong tình hình khủng hoảng lương thực trên thế giới ngày một gay gắt, càng chứng tỏ quyết định đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ không chỉ có sự dũng cảm mà còn hết sức đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn chiến lược sáng suốt và dài hạn.

Mười bảy năm trôi qua, PVFCCo đã không ngừng phát triển, lớn mạnh, càng minh chứng cho quyết sách đúng đắn ấy. Từ chỗ chỉ có một Nhà máy sản xuất ra một loại sản phẩm phân bón duy nhất, Tổng Công ty đã triển khai hàng loạt dự án, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phát triển, để hiện nay có Tổ hợp sản xuất đa dạng các sản phẩm phân bón từ phân đơn, phân hỗn hợp các loại.

Từ chỗ chỉ sản xuất một sản phẩm hóa chất là amoniac, nay đã cung ứng hàng loạt hóa phẩm dầu khí, phụ gia phục vụ sản xuất phân bón, khí C02 thực phẩm, tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế… đưa tổng sản lượng phân bón và hóa chất hàng năm lên tới hơn 1 triệu tấn các loại.

Song song đó, PVFCCo đã xây dựng hệ thống đối tác, phân phối khắp các vùng miền của đất nước và đang vươn ra thị trường quốc tế, có đội ngũ nhân sự vững vàng, hệ thống quản trị hiện đại. Thương hiệu Phân bón Phú Mỹ đứng số 1 trong ngành phân bón và trong nhóm 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. 

Đồng thời, Nhà máy Đạm Phú Mỹ còn là cái nôi đào tạo nên một đội ngũ cán bộ giỏi, điều hành các nhà máy sản xuất cho khâu sau Dầu khí tại các đơn vị trong Tập đoàn và trong ngành phân bón.

Đồng tâm hiệp lực, quyết tâm, sáng tạo để viết tiếp truyền thống tự hào

Nối tiếp truyền thống nhiều năm qua, sáng ngày 21/9/2021, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) đã tổ chức buổi gặp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Tổng Công ty, theo hình thức trực tuyến đến hơn 120 điểm kết nối trên cả nước.

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, CBCNV PVFCCo đã liên tục “3 tại chỗ” hoặc tuân thủ giãn cách, làm việc online nhiều tháng qua, đây là một sự kiện hết sức đặc biệt và tràn đầy xúc động, tình cảm ấm áp, không chỉ giúp ôn lại truyền thống, quá trình hình thành phát triển đáng tự hào, mà còn là cơ hội quý báu để anh chị em tương tác, thăm hỏi, động viên, bày tỏ sự quan tâm đến nhau, đến ngôi nhà chung PVFCCo, đến ngành dầu khí. Đó cũng chính là truyền thống, là nét đẹp văn hóa của PVFCCo, văn hóa Petrovietnam.

Tham dự buổi gặp mặt có các đồng chí lãnh đạo PVFCCo qua các thời kỳ, ban lãnh đạo Tổng Công ty, các công ty con, các đơn vị trực thuộc, các tổ chức chính trị, đoàn thể và người lao động.

Trong chương trình buổi gặp mặt, Ban lãnh đạo PVFCCo đã trân trọng tri ân đến ban lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, toàn thể các thế hệ CBCNV, người lao động, đặc biệt là các đồng chí nguyên lãnh đạo TCT qua các thời kỳ, những cán bộ đã có thời gian dài công tác, cống hiến cả tuổi trẻ cho sự phát triển của TCT.

Đối với tình hình thực hiện kế hoạch năm 2021, với sự nỗ lực, đoàn kết, mặc dù phải đối mặt với tình hình dịch Covid-19 đang diễn ra phức tạp, vừa phải chống dịch mà phải bảo đảm công tác sản xuất kinh doanh song với sự chỉ đạo sát sao của Tập đoàn, sự nỗ lực đồng lòng, đoàn kết từ Đảng ủy, HĐQT, Ban điều hành đến đội ngũ CBCNV thì trong 9 tháng đã qua, PVFCCo đã cơ bản vượt tất cả các chỉ tiêu đề ra: Sản xuất kinh doanh vượt kế hoạch góp phần đáp ứng đủ nhu cầu phân bón trong nước, các dự án mới sau khi đưa vào hoạt động tiếp tục phát huy hiệu quả kinh tế góp phần đa dạng hóa sản phẩm; PVFCCo được đánh giá có hoạt động quản trị minh bạch, các hoạt động tuân thủ các quy định của pháp luật theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước, đặc biệt các chế độ chính sách, thu nhập cho người lao động đều đảm bảo và được nâng cao ngay cả trong tình hình dịch Covid-19.

Về kế hoạch năm 2022 và định hướng phát triển thời gian tới, tiếp nối truyền thống đáng tự hào đã được dày công vun đắp qua các thế hệ, tiếp thu các góp ý tâm huyết của các thế hệ CBCNV và lứa tuổi 17-18, tuổi thanh niên rất đẹp, sung sức, nhiều khát vọng, hoài bão, tập thể PVFCCo luôn là một khối đoàn kết, thống nhất và vững chắc, để cùng nhau nhận diện thách thức, đổi mới xây dựng chiến lược kịp thời thích ứng trong bối cảnh “kinh tế xanh”, “kinh tế số”, sự chuyển dịch năng lượng tái tạo đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nền kinh tế, nhằm đưa Tổng công ty tiếp tục tiến lên, đi tới các bến bờ mới, viết tiếp truyền thống đáng tự hào.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+

petrotimes.vn | Ngày 21/9/2021

Ngày 9/9/2021, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đã xác nhận Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) có xếp hạng tín nhiệm độc lập ở mức BB+, xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) tại mức BB với “Triển vọng tích cực”. Đồng thời, xếp hạng nợ ưu tiên không có tài sản bảo đảm của Petrovietnam được đánh giá tại mức BB. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm riêng của Petrovietnam ở mức BB+.

Fitch Ratings cũng đánh giá lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) của Petrovietnam năm 2021 sẽ tăng gấp đôi lên hơn 45 nghìn tỷ VNĐ, hồ sơ tài chính vững chắc với những tiến triển tốt trong các lĩnh vực kinh doanh chủ chốt của Tập đoàn và tính thanh khoản cao – “Fitch không nhận thấy khó khăn trong việc huy động vốn của Petrovietnam với vị thế là một trong những doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất của Việt Nam” – báo cáo của Fitch đánh giá.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Vững vàng trước giông bão – Ảnh: Phạm Phương

Trong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4, việc Petrovietnam tiếp tục duy trì các mức xếp hạng tích cực do Tập đoàn đã có những biện pháp ứng phó với dịch bệnh và biến động của giá dầu thô, có sự chủ động, linh hoạt trong điều hành, quản trị doanh nghiệp. Cùng với đó, công tác dự báo, quản trị biến động, kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị của Tập đoàn theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh đã tối đa hóa giá trị của từng đơn vị và mở rộng thị trường… giúp Tập đoàn ứng phó kịp thời với những khó khăn, đạt được kết quả rất đáng khích lệ.

Fitch Ratings duy trì mức xếp hạng tín dụng độc lập của Petrovietnam ở mức BB+
Giữ nhịp độ sản xuất

Kết thúc 8 tháng năm 2021, cơ bản các chỉ tiêu SXKD của Petrovietnam đều đạt kế hoạch đề ra, khai thác dầu thô vượt 12,7% so với với kế hoạch 8 tháng; sản xuất các sản phẩm như đạm, xăng dầu, LPG… đều vượt từ 2-11%. Các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam đều vượt và tăng trưởng so với cùng kỳ tạo nên hồ sơ tài chính vững chắc cho Tập đoàn.

Ngoài ra, Tổ chức xếp hạng này cũng đánh giá Hồ sơ tín dụng độc lập (SCP) của Petrovietnam ở mức BB+, phản ánh mức độ tích hợp, đa dạng hóa và hồ sơ tài chính thận trọng của Tập đoàn. Xếp hạng này khẳng định vị thế của Petrovietnam là nhà sản xuất dầu khí lớn nhất Việt Nam, tích hợp theo ngành dọc với hoạt động thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn, doanh thu ổn định từ phân phối khí và điện.

Cùng với việc duy trì các kết quả đạt được, Petrovietnam chủ động nắm bắt thời cơ để phục hồi hoạt động sau dịch bệnh Covid-19 trong “trạng thái bình thường mới”.

H.A

VR 360