Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Bình Định: Vụ sản xuất Đông – Xuân 2012 – 2013: Sẽ bắt đầu xuống giống lúa từ 25.11

(Nguồn: Báo Bình Định) – Theo Sở NN-PTNT, để chủ động mùa vụ sản xuất trong điều kiện có khả năng xảy ra hạn hán, vụ sản xuất Đông Xuân (ĐX) 2012 – 2013, sẽ bắt đầu xuống giống lúa từ 25.11 đến 15.12, sớm hơn 5 ngày so với lịch thời vụ ban hành trước đây.

Hiện nay, ngành Nông nghiệp tỉnh cũng đã ban hành cơ cấu các giống lúa được phép gieo sạ trong vụ sản xuất ĐX gồm các giống chủ lực: ĐV 108, ĐB 6, VĐ 8, SH 2, Nhị Ưu 838, TBR 1, ML 202, ML 214, ML 48, HT 1, VTNA 1, PAC 807… Yêu cầu chính quyền các địa phương và bà con nông dân triển khai các điều kiện chuẩn bị sản xuất ĐX theo đúng quy định lịch thời vụ và cơ cấu giống đã ban hành.

Trung tâm Giống cây trồng tỉnh và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống lúa đang tổ chức cung ứng các giống lúa lai và lúa thuần cho nông dân, đảm bảo đủ lượng giống sản xuất.

Tăng cường công tác quản lý kinh doanh phân bón

(Báo Nam Định)Với tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp là 89 nghìn ha gồm 80 nghìn ha lúa và 9 nghìn ha đất màu, mỗi năm nông dân tỉnh ta (Nam Định) sử dụng khoảng 170 nghìn tấn phân bón các loại để chăm sóc cây trồng, gồm trên 90 nghìn tấn phân NPK các loại, 33 nghìn tấn phân đạm u-rê, còn lại là phân lân, kali và các loại phân khác.

Tuy nhiên, do chưa có nhà máy sản xuất nên 100% lượng phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh đều phải nhập khẩu từ nước ngoài hoặc nhập từ tỉnh khác. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một hệ thống kinh doanh phân bón rộng khắp với trên 700 cơ sở kinh doanh, trong đó có gần 10 đại lý cấp 1; 30 đại lý cấp 2; 190 HTX nông nghiệp và hàng trăm đại lý cấp 3. Bên cạnh một số phân bón có nhãn hiệu đảm bảo chất lượng thì trên thị trường tỉnh đã xuất hiện nhiều loại phân bón giả, phân bón kém chất lượng.

Cty Vật tư nông nghiệp Nghĩa Hưng (Nghĩa Hưng) cung ứng phân bón cho nông dân.

Trong 3 năm gần đây, Chi cục Quản lý thị trường (Sở Công thương) đã tiến hành kiểm tra, kiểm soát trên 1.000 lượt, xử lý vi phạm hành chính và tịch thu số lượng phân bón giả trị giá 400 triệu đồng. Riêng 9 tháng đầu năm 2012, đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã kiểm tra 17 cơ sở, phát hiện 3 mẫu phân bón kém chất lượng, xử phạt 8 triệu đồng. Điển hình như trong tháng 5-2012, lực lượng thanh tra liên ngành đã phát hiện Cty CP Vật tư tổng hợp Nam Ninh, xã Nam Thanh (Nam Trực) lưu trữ trên 10 tấn phân bón kém chất lượng mang nhãn hiệu Việt Pháp. Đoàn kiểm tra đã tạm giữ toàn bộ số phân bón trên và xử phạt theo quy định của pháp luật đối với Cty này. Mở rộng điều tra, các lực lượng chức năng đã phát hiện phân bón giả nhãn hiệu NPK được lưu hành chủ yếu ở các huyện: Nam Trực, Hải Hậu, Giao Thủy.

Nguyên nhân của việc sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng trong thời gian qua là do giá phân bón các loại tăng 20-30% so với cùng kỳ năm ngoái; một số đối tượng đã lợi dụng đưa vào lưu thông các loại phân bón kém chất lượng với giá bán rẻ hơn nhằm vào tâm lý “thích rẻ” và tình hình khó khăn về kinh tế của nông dân. Một nguyên nhân nữa là do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, trong khi người dân chưa chấp nhận mặt bằng giá mới, doanh nghiệp sản xuất đã giảm nguyên liệu đầu vào, nhất là các thành phần có giá thành cao để hạ giá thành sản phẩm.

Bên cạnh đó, nhiều cơ sở kinh doanh không có giấy phép hoạt động nhưng đã tìm cách pha chế các loại phân bón. Một chủ cửa hàng kinh doanh phân bón ở xã Yên Khánh (Ý Yên) đã kinh doanh mặt hàng phân bón hơn 20 năm, mỗi năm cửa hàng của ông cung ứng bình quân khoảng 1.000 tấn phân bón các loại, cho biết, đôi khi cửa hàng của ông vẫn phải phân phối cả phân đạm xuất xứ từ Trung Quốc, mặc dù biết chất lượng của các loại phân bón này không ổn định và từ nhiều nguồn không rõ ràng, thậm chí không có tem nhãn theo quy định, nhưng do các sản phẩm này có giá rẻ hơn nhiều so với các sản phẩm trong nước, nên nhiều bà con nông dân vẫn lựa chọn mua.

Về mặt quản lý Nhà nước, hoạt động quản lý kinh doanh phân bón chủ yếu mới được thực hiện ở cấp tỉnh, ở các đại lý lớn, còn ở các địa phương nhất là các cửa hàng nhỏ còn lỏng lẻo, do chính quyền ở nhiều địa phương hầu như bỏ ngỏ. Yếu tố nữa là thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động phân tích mẫu, nhất là đối với mẫu sản phẩm phân bón NPK luôn có số lượng, chủng loại lớn và liên tục được bổ sung dẫn đến khó kiểm soát về chất lượng.

Đồng thời, việc một số Cty sản xuất đưa trực tiếp phân bón về các HTX, các đại lý nhỏ lẻ để bán trực tiếp cho nông dân với số lượng ít cũng gây không ít khó khăn cho công tác quản lý cũng như lấy mẫu để kiểm tra chất lượng. Đây là thách thức đối với các lực lượng chức năng trong việc thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và phát hiện xử lý các vi phạm.

Tiếp đó, chế tài xử lý đối với các hành vi gian lận thương mại còn chưa được đồng bộ, một số văn bản về xử phạt vi phạm sản xuất kinh doanh các loại vật tư nông nghiệp khó áp dụng trong thực tiễn. Nghị định 15/2010/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt hành chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón quy định: phạt tiền từ 50-60 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sai số định lượng cho phép trong sản xuất, gia công phân bón… Với mức phạt cao, khung phạt ngắn nên khi mời đơn vị, cá nhân đến xử lý thì hầu hết đều có ý kiến xin được lấy mẫu để đem phân tích lại lần hai hoặc lần ba. Kết quả mỗi lần khác nhau, thậm chí còn mâu thuẫn với ban đầu, phát sinh nhiều khiếu nại nên cơ quan thanh tra khó xử lý.

Do vậy, để tránh thiệt hại, nông dân phải chủ động tìm hiểu, nắm bắt thông tin, thông số trên nhãn hàng hóa ghi trên bao bì, túi đựng sản phẩm như tên, địa chỉ cơ sở sản xuất, thành phần phân bón nhất là khi mua phân NPK tổng hợp, phân sinh học. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phân bón có uy tín cũng cần có các hình thức cụ thể bảo vệ thương hiệu của mình, xây dựng kế hoạch ngay từ đầu vụ để có phương án nhập đủ lượng, đảm bảo chất lượng phục vụ nhu cầu của nông dân, không để xảy ra tình trạng thiếu phân bón hoặc tăng giá phân bón tùy tiện, tình trạng tư thương ép cấp, ép giá.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón cho từng loại cây trồng, từng chân đất và mùa vụ một cách hợp lý, có hiệu quả; tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm. Ngoài ra, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại phân bón được quảng cáo, tiếp thị nên bà con nông dân rất khó kiểm chứng chất lượng. Vì vậy các cơ quan chức năng cần có định hướng, hướng dẫn để bà con lựa chọn được những loại phân bón có chất lượng tốt nhất. Đặc biệt cần có các chế tài, biện pháp nghiêm khắc xử lý hành vi sản xuất, buôn bán phân bón giả, kém chất lượng để bảo vệ sản xuất và quyền lợi của nông dân./.
 

Thị trường phân bón trầm lắng

 

Tính đến hết tháng 10/2012 thị trường phân bón trong nước nhìn chung ổn định. Do thời điểm hiện nay nhu cầu trong nước không cao nên giá các loại phân bón và lượng hàng tiêu thụ ở mức thấp.

CôngThương – Giá phân bón tại một số vùng như sau: Tại Thái Bình và các tỉnh lân cận, do bị ảnh hưởng nặng nề bởi bão Sơn Tinh khiến cây vụ đông đã gieo trồng gần như bị xóa sạch. Giá phân bón thời gian vừa qua ở mức ổn định. Urê Hà Bắc bao vàng 9.500đ/kg; urê Trung Quốc 8.500đ/kg; NPK Lâm Thao 4.300 – 4350đ/kg. Tại Đà Nẵng vụ Đông- Xuân đến cuối tháng 11/2012 mới bắt đầu nên giao dịch mua bán rất chậm, người nông dân có nhu cầu mua khối lượng nhỏ nên giá cả cũng tương đối ổn định. Giá supe Lân Lào Cai 3.000đ/kg; urê Phú Mỹ 9500 đ/kg; urê Trung Quốc 9000đ/kg.

Tại Quy Nhơn, thời gian này khu vực các Tây Nguyên bắt đầu vào vụ thu hoạch cà phê, khu vực đồng bằng duyên hải miền Trung đã qua vụ bón cho lúa nên nhu cầu về phân bón cho sản xuất nông nghiệp không có. Do vậy thị trường phân bón tại Quy Nhơn vẫn trầm lắng, giá các loại phân bón vẫn đứng ở mức thấp.

Vì thế, các chuyên giá dự báo thị trường đánh giá, thị trường phân bón trong nước thời gian qua không có nhiều biến động, nhu cầu trong nước thấp kết hợp với giá phân bón trên thị trường thế giới hiện đang giảm khiến giá các loại phân bón liên tục ở mức ổn định, một số loại giảm nhẹ. Dự báo cuối tháng 11 trở đi, khi nhu cầu phân bón trong nước tăng lên, thị trường phân bón sẽ có nhiều chuyển biến tích cực.

Nguyễn Duyên

PVN gọi vốn nước ngoài cho 40 dự án

(Nguồn: TBKTSG) – Lần đầu tiên Tập đoàn dầu khí quốc gia (PVN) tổ chức hội thảo kêu gọi các nhà đầu tư châu Âu rót vốn vào 40 dự án của PVN.

Ngày 14-11, PVN phối hợp với Phòng thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) tổ chức hội thảo “Hợp tác đầu tư với PVN, dành riêng cho các nhà đầu tư châu Âu” nhằm quảng bá rộng rãi gần 40 dự án PVN cần kêu gọi sự hợp tác đầu tư trong 5 lĩnh vực cốt lõi của tập đoàn này.

Theo ông Đỗ Văn Hậu, Tổng giám đốc PVN, nhằm tăng tốc phát triển theo đề án tái cấu trúc tập đoàn trình Chính phủ phê duyệt, PVN cần mở rộng hợp tác đầu tư nhằm kêu gọi vốn nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư châu Âu ở một số dự án trọng điểm.

Các dự án bao gồm dự án kho chứa LNG Thị Vải, dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2, dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, nhà máy thủy điện Hủa Na, nhà máy thủy điện Nhơn Trạch 1, công ty cổ phần hóa dầu và xơ sợi dầu khí (PV Tex), dự án cảng Phước An, nhà máy đóng tàu Dung Quất và nhiều cơ hội đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp hàng đầu của PVN.

Đây là lần đầu tiên PVN tổ chức hội thảo kêu gọi đầu tư theo thị trường của các nhà đầu tư, sau một số tín hiệu thăm dò khả quan của tập đoàn này tại một số thị trường quốc tế mục tiêu. Trong thời gian tới, PVN sẽ đẩy mạnh xúc tiến đầu tư tại chỗ đối với các thị trường khác.

Theo đề án tái cấu trúc của PVN, tập đoàn này sẽ tập trung vào 5 lĩnh vực kinh doanh chính gồm thăm dò, khai thác dầu khí, lọc hóa dầu; công nghiệp khí; công nghiệp điện và dịch vụ dầu khí chất lượng cao.

Đánh giá của PVN cho thấy tính đến nay, tiến độ các dự án đầu tư vẫn được đảm bảo. Việc chấm tiến độ đầu tư các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và trọng điểm của ngành trước đây đã được khắc phục, nhằm thu hút nhà đầu tư. Ba dự án trọng điểm nhà nước hiện đã đi vào hoạt động như nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy điện Cà Mau 1 và 2, đường ống dẫn khí PM3 – Cà Mau, nhà máy điện Nhơn Trạch 1. Hiện còn 27 dự án trọng điểm khác đã khởi công và thực hiện đầu tư, xây dựng.

Cung cầu phân bón vụ ĐX 2012-2013

(Nguồn: NNVN) Nhu cầu phân bón hóa học cho sản xuất nông nghiệp nước ta năm 2013 cần khoảng 10,3 triệu tấn phân bón các loại; trong đó có 2,2 triệu tấn phân urê, 850 ngàn tấn SA, 950 ngàn tấn Ka li, 900 ngàn tấn DAP, 3,8 triệu tấn NPK và 1,8 triệu tấn lân.

Hiện nay, sản xuất công nghiệp phân bón trong nước mới đáp ứng 77,6 %, vẫn phải NK 22,4 % nhu cầu phân bón các loại. Hàng năm, chúng ta NK khoảng 2,47 triệu tấn phân bón các loại. Đặc biệt là phân Ka li trong một vài năm tới, nước ta vẫn phải NK 100%. Trong khi một số loại phân bón như urê, NPK, phân lân, từ năm 2013 trở đi sản xuất trong nước sẽ đáp ứng đủ nhu cầu.

Riêng thị trường phân Ka li, năm 2013, sản xuất nông nghiệp nước ta cần khoảng 950 ngàn tấn và vẫn phải NK 100%. Do vậy, thị trường phân Ka li hoàn toàn bị chi phối bởi nguồn NK từ nước ngoài. Thực tế mấy năm qua cho thấy, thị trường phân ka li biến động mạnh, giá cả tăng giảm thất thường, có những năm giá phân Ka li đột biến tăng cao, như đầu năm 2008, giá tăng gấp nhiều lần, đã ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư phân Ka li cho sản xuất nông nghiệp. Hiện phân Ka li NK thường không ổn định về giá cả, lượng tồn kho trong nước còn mỏng, mà nhu cầu phân Ka li trong vụ vụ Đông xuân sắp tới lại là lớn nhất so các vụ trong năm. Do đó, rất dễ xảy ra những biến động trên thị trường.

Đứng trước thực tế trên, để có giải pháp đảm bảo đủ phân Ka li cho nhu cầu SX, thì chúng ta cần có kế hoạch chủ động NK đủ nguồn Ka li ngay từ bây giờ cho nhu cầu sản xuất vụ Đông xuân 2012- 2013, với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý. Tránh tình trạng khi có lợi thì các DN đổ xô NK; khi không có lợi thì ngừng nhập, gây thiếu hụt nguồn Ka li cho sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, một số tư thương lợi dụng kẽ hở tình trạng này sẽ đưa Ka li giả, kém chất lượng ra ngoài thị trường, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và cho nông dân.

Những năm qua, Công ty CP Vật tư nông sản đã góp phần quan trọng trong việc cân đối cung cầu phân bón các loại, trong đó có phân Ka li. Công ty đã phối hợp chặt chẽ và liên kết có hiệu quả với Nhà cung cấp phân bón lớn nhất thế giới Belarusian Potash Company (BPC) – Một đối tác rất thân thuộc và có uy tín với bạn hàng Việt Nam; có đủ năng lực, đảm bảo đủ nguồn cung chất lượng cao về phân Ka li với giá hợp lý để cung ứng cho nông dân. Vừa qua, Công ty đã thực hiện tổ chức hàng trăm đại lý phân bón với mạng lưới cung ứng dày đặc, xuyên suốt khắp chiều dài đất nước nói chung và ĐBSCL nói riêng.

Việc kết hợp với các nhà cung cấp lớn phân Ka li trong tình hình hiện nay, ngoài việc đảm bảo đảm cung cầu, giá cả phân bón ổn định; còn có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế và ngăn chặn kịp thời tình trạng đưa phân bón giả, phân Ka li kém chất lượng ra thị trường, giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại cho nông dân và giúp họ yên tâm sản xuất nông nghiệp để dành những mùa vàng bội thu.

Vụ Đông Xuân 2012-2013: Vĩnh Long cần hơn 24.000 tấn phân bón các loại

Vĩnh Long cần hơn 24.000 tấn phân bón các loại

PVFCCo bàn giao nhà Đại đoàn kết tại Kiên Giang

Trong hai ngày 08 và 09/11/2012, được sự được sự ủy quyền của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí, Công ty CP Phân bón và Hóa chất Dầu khí Tây Nam Bộ (PVFCCo SW) phối hợp cùng Ủy Ban MTTQ tỉnh Kiên Giang, huyện Ủy, UBND và Ủy Ban MTTQ các huyện Gò Quao, Giồng Riềng, An Biên và Tân Hiệp bàn giao Nhà Đại Đoàn Kết cho các hộ gia đình nghèo tại tỉnh Kiên Giang. Trong năm 2012, PVFCCo tài trợ xây dựng 100 căn Nhà Đại Đoàn Kết với tổng giá trị 2 tỷ đồng tại tỉnh Kiên Giang.

Chương trình Nhà Đại Đoàn Kết dành cho người nghèo được PVFCCo triển khai thông qua sự phối hợp với Ủy ban MTTQ Trung Ương và Ủy ban MTTQ các tỉnh thành trên cả nước. Đây là một trong những hoạt động thường niên nhằm hỗ trợ những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở, đồng thời gắn với cam kết vì cộng đồng của PVFCCo. Chương trình nhận được sự cảm ơn, ghi nhận sâu sắc của chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giangvà các tỉnh trên cả nước.

Sau đây là một số hình ảnh:

PVFCCo bàn giao nhà Đại đoàn kết tại Kiên Giang

Trong hai ngày 08 và 09/11/2012, được sự được sự ủy quyền của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí, Công ty CP Phân bón và Hóa chất Dầu khí Tây Nam Bộ (PVFCCo SW) phối hợp cùng Ủy Ban MTTQ tỉnh Kiên Giang, huyện Ủy, UBND và Ủy Ban MTTQ các huyện Gò Quao, Giồng Riềng, An Biên và Tân Hiệp bàn giao Nhà Đại Đoàn Kết cho các hộ gia đình nghèo tại tỉnh Kiên Giang. Trong năm 2012, PVFCCo tài trợ xây dựng 100 căn Nhà Đại Đoàn Kết với tổng giá trị 2 tỷ đồng tại tỉnh Kiên Giang.

Chương trình Nhà Đại Đoàn Kết dành cho người nghèo được PVFCCo triển khai thông qua sự phối hợp với Ủy ban MTTQ Trung Ương và Ủy ban MTTQ các tỉnh thành trên cả nước. Đây là một trong những hoạt động thường niên nhằm hỗ trợ những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở, đồng thời gắn với cam kết vì cộng đồng của PVFCCo. Chương trình nhận được sự cảm ơn, ghi nhận sâu sắc của chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giangvà các tỉnh trên cả nước.

Sau đây là một số hình ảnh:

Các đơn vị của Petrovietnam kiểm điểm tự phê bình và phê bình

(Nguồn: Petrotimes) – Trong hai ngày từ 8 và 9/11/2012, các đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là Liên doanh Việt – Nga (Vietsovpetro), Tổng công Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo), Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) tổ chức hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình các tập thể, cá nhân theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 – Khoá XI; Chỉ thị, kế hoạch của Bộ Chính trị, hướng dẫn của các Ban Đảng Trung ương, Kế hoạch của Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã thành lập 6 tổ công tác theo dõi, chỉ đạo việc thực hiện kiểm điểm tại các đơn vị thuộc Tập đoàn. Thời gian kiểm điểm sẽ diễn ra từ 8/11 đến 30/11/2012.

Tham dự hội nghị tại Vietsovpetro có đồng chí Phùng Đình Thực, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên (HĐTV) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; đồng chí Đặng Minh Hồng, Bí thư Đảng ủy Vietsovpetro; đồng chí Nguyễn Hữu Tuyến, Tổng giám đốc Vietsovpetro và các đồng chí lãnh đạo Vietsovpetro.

Cánh đồng mẫu lớn phải do DN lương thực làm đầu tàu

(Nguồn: TBKTSG Online) – Trong khi doanh nghiệp khẳng định nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn (CDML) được lợi nhiều hơn, thì có không ít hộ nông dân trực tiếp sản xuất lúa lại nói họ chẳng được lợi ích gì từ mô hình sản xuất này. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL.

– TBKTSG Online: Trong khi doanh nghiệp khẳng định nông dân tham gia CDML sẽ được lợi nhiều hơn, thì có ý kiến của nông dân cho rằng không. Vậy ý kiến của ông như thế nào về CDML?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: Từ khi CDML được triển khai tới nay đã gặp không ít trục trặc. Theo nguyên tắc chung, CDML phải do doanh nghiệp lương thực làm nhưng hiện nay đối tượng xông vào thực hiện cũng chỉ có một số doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hoặc phân bón thôi. Đối tượng này khi tham gia vào cũng có giúp được cho bà con nông dân nhưng cũng vì mục đích bán sản phẩm.

Tại buổi sơ kết CDML tại thành phố Cần Thơ gần đây cho thấy rằng nông dân tham gia vào CDML có hiệu quả hơn vì được các doanh nghiệp phân bón, thuốc BVTV định hướng, bán sản phẩm với giá gốc, do đó chi phí đầu tư có thấp hơn.

Tuy nhiên, mục tiêu ban đầu của CDML phải là các doanh nghiệp lương thực thực hiện, bởi vì sao? Vì doanh nghiệp lương thực đầu tư vào CDML sẽ có được vùng nguyên liệu ổn định để xuất khẩu, tiến tới xây dựng chất lượng hạt lúa và bao tiêu sản phẩm cho nông dân nhưng doanh nghiệp lương thực lại không muốn thực hiện.

Cái khó hiện nay của CDML là doanh nghiệp thuốc BVTV, phân bón đầu tư vào để bán sản phẩm của mình, trong khi đó, bao tiêu sản phẩm cũng có lúc còn gặp trục trặc.

– Theo ông tại sao doanh nghiệp lương thực lại đứng ngoài cuộc trong thực hiện CDML?

Lý do khiến doanh nghiệp lương thực ngại tham gia CDML như hiện nay là do, thứ nhất, doanh nghiệp thiếu vốn; thứ 2, điều kiện của doanh nghiệp như nhà máy xay xát, kho tàng tồn trữ gặp khó khăn. Do đó, doanh nghiệp lương thực vẫn muốn kinh doanh theo kiểu “ăn xổi”, tức là thu mua của nông dân thông qua thương lái, bán được bao nhiêu lời bấy nhiêu.

Tuy nhiên, nếu làm như vậy thì về lâu dài người nông dân sẽ không an tâm sản xuất. Mặt khác, nếu có doanh nghiệp nước ngoài chen chân vào, lúc đó doanh nghiệp mình sẽ ngã ngửa, cuối cùng xuất khẩu dù đứng nhất thế giới nhưng là của doanh nghiệp nước ngoài rồi chứ không phải của doanh nghiệp Việt Nam nữa.

– Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp lương thực kinh doanh theo kiểu “ăn xổi” sẽ có lợi nhuận cao hơn khi tham gia CDML. Ông có ý kiến gì?

 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có kế hoạch đưa diện tích lúa thực hiện CDML tại ĐBSCL đến năm 2013 đạt 200.000 héc ta.

Tôi thấy ý kiến đó chưa đúng lắm! Chẳng hạn đối với vấn đề cà phê Tây Nguyên, tại sao bị doanh nghiệp nước ngoài thao túng? Đó là do doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư, không hợp đồng bao tiêu sản phẩm…, cho nên người trồng cà phê phải tự bán. Cuối cùng là doanh nghiệp nước ngoài xông vào, người ta đầu tư, chiếm lĩnh.

Đối với vấn đề cà phê Tây Nguyên, tôi thấy đây là kinh nghiệm đáng để cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam nhìn vào. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã đề ra chủ trương thực hiện CDML để các doanh nghiệp lương thực làm nhưng nếu họ vẫn không làm mà để doanh nghiệp nước ngoài làm thì rất nguy hiểm.

Nếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn cứ ngồi chờ, không tham gia vào CDML, không có vùng nguyên liệu mà để rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài thì sẽ đi đến tình trạng như là trường hợp cà phê ở Tây Nguyên. Tôi được biết, hiện có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn xông vào tham gia CDML ở Việt Nam thông qua hình thức đặt hàng, bao tiêu sản phẩm với nông dân ĐBSCL lắm.

– Xin cám ơn ông!

VR 360