Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Cánh đồng mẫu lớn phải do DN lương thực làm đầu tàu

(Nguồn: TBKTSG Online) – Trong khi doanh nghiệp khẳng định nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn (CDML) được lợi nhiều hơn, thì có không ít hộ nông dân trực tiếp sản xuất lúa lại nói họ chẳng được lợi ích gì từ mô hình sản xuất này. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL.

– TBKTSG Online: Trong khi doanh nghiệp khẳng định nông dân tham gia CDML sẽ được lợi nhiều hơn, thì có ý kiến của nông dân cho rằng không. Vậy ý kiến của ông như thế nào về CDML?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: Từ khi CDML được triển khai tới nay đã gặp không ít trục trặc. Theo nguyên tắc chung, CDML phải do doanh nghiệp lương thực làm nhưng hiện nay đối tượng xông vào thực hiện cũng chỉ có một số doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hoặc phân bón thôi. Đối tượng này khi tham gia vào cũng có giúp được cho bà con nông dân nhưng cũng vì mục đích bán sản phẩm.

Tại buổi sơ kết CDML tại thành phố Cần Thơ gần đây cho thấy rằng nông dân tham gia vào CDML có hiệu quả hơn vì được các doanh nghiệp phân bón, thuốc BVTV định hướng, bán sản phẩm với giá gốc, do đó chi phí đầu tư có thấp hơn.

Tuy nhiên, mục tiêu ban đầu của CDML phải là các doanh nghiệp lương thực thực hiện, bởi vì sao? Vì doanh nghiệp lương thực đầu tư vào CDML sẽ có được vùng nguyên liệu ổn định để xuất khẩu, tiến tới xây dựng chất lượng hạt lúa và bao tiêu sản phẩm cho nông dân nhưng doanh nghiệp lương thực lại không muốn thực hiện.

Cái khó hiện nay của CDML là doanh nghiệp thuốc BVTV, phân bón đầu tư vào để bán sản phẩm của mình, trong khi đó, bao tiêu sản phẩm cũng có lúc còn gặp trục trặc.

– Theo ông tại sao doanh nghiệp lương thực lại đứng ngoài cuộc trong thực hiện CDML?

Lý do khiến doanh nghiệp lương thực ngại tham gia CDML như hiện nay là do, thứ nhất, doanh nghiệp thiếu vốn; thứ 2, điều kiện của doanh nghiệp như nhà máy xay xát, kho tàng tồn trữ gặp khó khăn. Do đó, doanh nghiệp lương thực vẫn muốn kinh doanh theo kiểu “ăn xổi”, tức là thu mua của nông dân thông qua thương lái, bán được bao nhiêu lời bấy nhiêu.

Tuy nhiên, nếu làm như vậy thì về lâu dài người nông dân sẽ không an tâm sản xuất. Mặt khác, nếu có doanh nghiệp nước ngoài chen chân vào, lúc đó doanh nghiệp mình sẽ ngã ngửa, cuối cùng xuất khẩu dù đứng nhất thế giới nhưng là của doanh nghiệp nước ngoài rồi chứ không phải của doanh nghiệp Việt Nam nữa.

– Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp lương thực kinh doanh theo kiểu “ăn xổi” sẽ có lợi nhuận cao hơn khi tham gia CDML. Ông có ý kiến gì?

 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có kế hoạch đưa diện tích lúa thực hiện CDML tại ĐBSCL đến năm 2013 đạt 200.000 héc ta.

Tôi thấy ý kiến đó chưa đúng lắm! Chẳng hạn đối với vấn đề cà phê Tây Nguyên, tại sao bị doanh nghiệp nước ngoài thao túng? Đó là do doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư, không hợp đồng bao tiêu sản phẩm…, cho nên người trồng cà phê phải tự bán. Cuối cùng là doanh nghiệp nước ngoài xông vào, người ta đầu tư, chiếm lĩnh.

Đối với vấn đề cà phê Tây Nguyên, tôi thấy đây là kinh nghiệm đáng để cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam nhìn vào. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã đề ra chủ trương thực hiện CDML để các doanh nghiệp lương thực làm nhưng nếu họ vẫn không làm mà để doanh nghiệp nước ngoài làm thì rất nguy hiểm.

Nếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn cứ ngồi chờ, không tham gia vào CDML, không có vùng nguyên liệu mà để rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài thì sẽ đi đến tình trạng như là trường hợp cà phê ở Tây Nguyên. Tôi được biết, hiện có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn xông vào tham gia CDML ở Việt Nam thông qua hình thức đặt hàng, bao tiêu sản phẩm với nông dân ĐBSCL lắm.

– Xin cám ơn ông!

Lợi ích từ xây dựng cánh đồng mẫu lớn

(Nguồn: Nhân dân) Tổ chức sản xuất theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” cho cây lúa hay những đối tượng cây, con khác sẽ giúp nông dân nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng để giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

Những thông tin lạc quan về kết quả canh tác lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (CÐML) ở An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích nhân rộng ra nhiều nơi khác là những tín hiệu rất tích cực. Ðây là tiền đề mà cũng chắc chắn sẽ sớm trở thành động lực to lớn thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam, nhất là nghề trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) tiến nhanh hơn trên con đường  công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên để đạt được những điều mong muốn đó, các nhà khoa học, nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và cả những nông dân tại từng địa phương phải không ngừng sáng tạo, chủ động ứng dụng những thành tựu mới phù hợp các quá trình điều hành, phục vụ sản xuất. Mà quan trọng hơn là phải nhạy bén, khéo léo, sáng tạo tích hợp những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng thành công nhiều nơi vào đồng ruộng của mình một cách linh hoạt và phù hợp, để có kết quả sản xuất cao nhất, sản phẩm đạt độ đồng đều cao, chất lượng tốt, nhằm góp phần tạo thế đứng vững chắc cho thương hiệu ở những thị trường đang hướng đến.

Thật ra, bản chất của cánh đồng mẫu lớn là không mới mà đã có từ lâu, đó là mô hình sản xuất lớn mang tính tập thể theo quy hoạch và theo kế hoạch, là bài học “vỡ lòng” cho việc quản lý sản xuất nông nghiệp có từ thời bao cấp. Nay được tổ chức, quản lý thực hiện theo cung cách làm ăn mới, nhằm hướng đến sản xuất hàng hóa chất lượng cao, sản lượng lớn, ổn định để nắm thế chủ động khi tham gia thị trường. Bởi muốn cạnh tranh thắng lợi trên thương trường quốc tế khi hội nhập sâu hơn, hạt gạo Việt Nam phải làm chủ được thị trường, tức phải có khối lượng hàng hóa lớn, đồng đều, có chất lượng tốt, ổn định và giá cả thuyết phục được khách hàng. Muốn thế, gạo của ta phải có thương hiệu uy tín, tức là từng chủng loại gạo theo yêu cầu thị trường phải có sản lượng lớn, chất lượng đồng nhất (cao hoặc thấp) và ổn định. Chỉ có sản xuất theo mô hình CÐML mới có thể đáp ứng tốt các yêu cầu này, chính vì thế CÐML đang rất được chú ý và hiện nó là mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp để tập hợp những nông dân cá thể, quy mô sản xuất nhỏ lẻ thành một cộng đồng lớn hơn, nhằm tạo ra nguồn sản phẩm uy tín với khách hàng.

Ðể hình thành được CÐML trong điều kiện đồng đất bị chia cắt không nhất thiết phải phá bờ, lấp mương hay phải tập trung ruộng đất và làm ăn tập thể theo như quan niệm cũ. Cần hình thành những mối liên kết mới bền chặt, phù hợp ngay trên đồng đất và hiện trạng sản xuất hiện hữu. Nhưng phải trên cơ sở “liên kết bốn nhà” bền vững và có thực chất, mới có thể tận dụng tối đa những lợi thế do các mối liên kết đó mang lại, nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất khi tổ chức sản xuất cây, con nào đó. Ðiều quan trọng là nhất thiết phải cần có những bước chuẩn bị về mặt tư tưởng, nhận thức cho cán bộ và nông dân; cần có quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất phù hợp; tạo dựng được mối liên kết “bốn nhà”. Và khi đã vào CÐML, dù sản xuất cây, con gì thì ngay trên đồng ruộng tự thân mỗi nông dân phải hướng vào lợi ích chung của tập thể, của cộng đồng, không được “đánh lẻ”, phá vỡ liên kết vì những lợi ích riêng tư cục bộ. Mà phải ý thức rõ ràng đối tượng mình cùng cộng đồng đang tập trung sản xuất là bán cho ai, khách hàng có những yêu cầu gì, sẽ đáp ứng những yêu cầu đó bằng cách nào, khi nào và được lợi ích gì cho bản thân và cho cộng đồng, tập thể? Trong quá trình hình thành và khi đã đi vào hoạt động ổn định, CÐML luôn rất cần mọi thành viên bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, nghiêm túc thực hiện hợp đồng, cam kết và các quy định đã thống nhất, nhằm vươn tới những mục tiêu đã đề ra.

Muốn khẳng định lợi ích của nông dân khi tham gia vào xây dựng vùng sản xuất lúa thành CÐML, các nhà quản lý cần năng động, nhạy bén chọn những tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp để áp dụng vào địa phương mình… Ðặc biệt là cần hướng dẫn ghi chép quy trình sản xuất và chi phí đầu tư vào sổ theo dõi (theo tiêu chuẩn VietGap) để nông dân tự tính toán được giá thành, lợi nhuận  mỗi vụ. Ðối với các loại cây, con khác cũng như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, để hình thành CÐML là một quá trình vận động phát triển, đòi hỏi có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần và đủ, không chạy theo phong trào! Ở An Giang, khởi đầu khi nông dân vào CÐML thì tất cả chi phí đầu vào, từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu… nông dân được mua ứng trước với giá gốc và thanh toán không tính lãi sau khi bán lúa; được bao tiêu sản phẩm hoặc mượn kho trữ gạo một tháng mà không phải trả phí. Nhờ vậy, chi phí sản xuất 1 kg lúa ở CÐML vụ đông xuân 2011 vừa rồi thấp hơn 1.000 đồng/kg so với những nơi khác.

Cái khó hiện nay là khá nhiều hộ dân trong vùng đang sản xuất theo mô hình đa canh, đa cây, con, nhưng lại nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, với tôm – lúa – cá – cua đan xen, gồm nhiều chủng loại giống cây, con khác nhau, mùa vụ khó tập trung, khó tạo thành khối lượng hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều, ổn định nên không ai đặt hàng và tự sản tự tiêu là chính, vì thế cảnh trúng mùa, rớt giá thường xuyên diễn ra. Ðối với cây lúa, nếu thực hiện được mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trên cơ sở xây dựng sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân với nhau và với doanh nghiệp, nhà khoa học, để tuy là “hộ dù nhỏ nhưng nhờ cùng liên kết để có cả cánh đồng lúa lớn” cùng canh tác một loại giống hoặc một nhóm giống có chung đặc tính, đồng nhất về mặt chất lượng gạo để có sản phẩm cạnh tranh, sẽ là hướng đi đúng, có ý nghĩa đối với nông dân khi hội nhập sâu hơn.

Khi đã hình thành được CÐML thông qua các mối liên kết bền vững thật sự và ổn định sản xuất với mô hình này, nông dân cần được doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm; nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật sẽ hướng dẫn từ khâu chọn giống đồng nhất, làm đất, xử lý giống, gieo cấy… đến thu hoạch, phơi phóng và các kỹ thuật canh tác lúa theo các quy trình canh tác lúa tiên tiến như “ba giảm, ba tăng”  hay quy trình “một phải, năm giảm” hoặc tiêu chuẩn VietGap, Global Gap… Ngoài ra còn có thể chọn các thành tựu, tiến bộ kỹ thuật khác để ứng dụng vào quá trình sản xuất của địa phương mình nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong quá trình xây dựng và thực hiện sản xuất theo CÐML, nông dân cũng tự nâng cao được trình độ về nhiều mặt, biết chủ động áp dụng cơ giới hóa, biết cách tính toán để giảm giá thành, giảm các chi phí trung gian, và được bao tiêu sản phẩm (hoặc gửi lưu kho chờ giá), sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất sẽ ngày càng được nâng cao và đời sống vật chất, tinh thần chắc chắn sẽ sớm có thay đổi tích cực. Các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đi vào bài bản, được kiểm soát tốt và hỗ trợ kịp thời cho nông dân yên tâm sản xuất. Mặt khác, nhà doanh nghiệp sẽ nắm được sản lượng lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao, đồng đều, thuận lợi trong việc chủ động nguồn hàng xuất khẩu để xây dựng thương hiệu uy tín, tạo sức cạnh tranh và bán được giá cao.

Về lâu dài, CÐML không chỉ áp dụng cho riêng cây lúa, mà cần suy nghĩ vận dụng thêm cho nhiều cây, con khác trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân có tích lũy, xây dựng thành công nông thôn mới.

NGUYỄN VĂN THƯỚC

Lợi ích từ xây dựng cánh đồng mẫu lớn

(Nguồn: Nhân dân) Tổ chức sản xuất theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” cho cây lúa hay những đối tượng cây, con khác sẽ giúp nông dân nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng để giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

Những thông tin lạc quan về kết quả canh tác lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (CÐML) ở An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích nhân rộng ra nhiều nơi khác là những tín hiệu rất tích cực. Ðây là tiền đề mà cũng chắc chắn sẽ sớm trở thành động lực to lớn thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam, nhất là nghề trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) tiến nhanh hơn trên con đường  công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên để đạt được những điều mong muốn đó, các nhà khoa học, nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và cả những nông dân tại từng địa phương phải không ngừng sáng tạo, chủ động ứng dụng những thành tựu mới phù hợp các quá trình điều hành, phục vụ sản xuất. Mà quan trọng hơn là phải nhạy bén, khéo léo, sáng tạo tích hợp những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng thành công nhiều nơi vào đồng ruộng của mình một cách linh hoạt và phù hợp, để có kết quả sản xuất cao nhất, sản phẩm đạt độ đồng đều cao, chất lượng tốt, nhằm góp phần tạo thế đứng vững chắc cho thương hiệu ở những thị trường đang hướng đến.

Thật ra, bản chất của cánh đồng mẫu lớn là không mới mà đã có từ lâu, đó là mô hình sản xuất lớn mang tính tập thể theo quy hoạch và theo kế hoạch, là bài học “vỡ lòng” cho việc quản lý sản xuất nông nghiệp có từ thời bao cấp. Nay được tổ chức, quản lý thực hiện theo cung cách làm ăn mới, nhằm hướng đến sản xuất hàng hóa chất lượng cao, sản lượng lớn, ổn định để nắm thế chủ động khi tham gia thị trường. Bởi muốn cạnh tranh thắng lợi trên thương trường quốc tế khi hội nhập sâu hơn, hạt gạo Việt Nam phải làm chủ được thị trường, tức phải có khối lượng hàng hóa lớn, đồng đều, có chất lượng tốt, ổn định và giá cả thuyết phục được khách hàng. Muốn thế, gạo của ta phải có thương hiệu uy tín, tức là từng chủng loại gạo theo yêu cầu thị trường phải có sản lượng lớn, chất lượng đồng nhất (cao hoặc thấp) và ổn định. Chỉ có sản xuất theo mô hình CÐML mới có thể đáp ứng tốt các yêu cầu này, chính vì thế CÐML đang rất được chú ý và hiện nó là mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp để tập hợp những nông dân cá thể, quy mô sản xuất nhỏ lẻ thành một cộng đồng lớn hơn, nhằm tạo ra nguồn sản phẩm uy tín với khách hàng.

Ðể hình thành được CÐML trong điều kiện đồng đất bị chia cắt không nhất thiết phải phá bờ, lấp mương hay phải tập trung ruộng đất và làm ăn tập thể theo như quan niệm cũ. Cần hình thành những mối liên kết mới bền chặt, phù hợp ngay trên đồng đất và hiện trạng sản xuất hiện hữu. Nhưng phải trên cơ sở “liên kết bốn nhà” bền vững và có thực chất, mới có thể tận dụng tối đa những lợi thế do các mối liên kết đó mang lại, nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất khi tổ chức sản xuất cây, con nào đó. Ðiều quan trọng là nhất thiết phải cần có những bước chuẩn bị về mặt tư tưởng, nhận thức cho cán bộ và nông dân; cần có quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất phù hợp; tạo dựng được mối liên kết “bốn nhà”. Và khi đã vào CÐML, dù sản xuất cây, con gì thì ngay trên đồng ruộng tự thân mỗi nông dân phải hướng vào lợi ích chung của tập thể, của cộng đồng, không được “đánh lẻ”, phá vỡ liên kết vì những lợi ích riêng tư cục bộ. Mà phải ý thức rõ ràng đối tượng mình cùng cộng đồng đang tập trung sản xuất là bán cho ai, khách hàng có những yêu cầu gì, sẽ đáp ứng những yêu cầu đó bằng cách nào, khi nào và được lợi ích gì cho bản thân và cho cộng đồng, tập thể? Trong quá trình hình thành và khi đã đi vào hoạt động ổn định, CÐML luôn rất cần mọi thành viên bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, nghiêm túc thực hiện hợp đồng, cam kết và các quy định đã thống nhất, nhằm vươn tới những mục tiêu đã đề ra.

Muốn khẳng định lợi ích của nông dân khi tham gia vào xây dựng vùng sản xuất lúa thành CÐML, các nhà quản lý cần năng động, nhạy bén chọn những tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp để áp dụng vào địa phương mình… Ðặc biệt là cần hướng dẫn ghi chép quy trình sản xuất và chi phí đầu tư vào sổ theo dõi (theo tiêu chuẩn VietGap) để nông dân tự tính toán được giá thành, lợi nhuận  mỗi vụ. Ðối với các loại cây, con khác cũng như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, để hình thành CÐML là một quá trình vận động phát triển, đòi hỏi có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần và đủ, không chạy theo phong trào! Ở An Giang, khởi đầu khi nông dân vào CÐML thì tất cả chi phí đầu vào, từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu… nông dân được mua ứng trước với giá gốc và thanh toán không tính lãi sau khi bán lúa; được bao tiêu sản phẩm hoặc mượn kho trữ gạo một tháng mà không phải trả phí. Nhờ vậy, chi phí sản xuất 1 kg lúa ở CÐML vụ đông xuân 2011 vừa rồi thấp hơn 1.000 đồng/kg so với những nơi khác.

Cái khó hiện nay là khá nhiều hộ dân trong vùng đang sản xuất theo mô hình đa canh, đa cây, con, nhưng lại nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, với tôm – lúa – cá – cua đan xen, gồm nhiều chủng loại giống cây, con khác nhau, mùa vụ khó tập trung, khó tạo thành khối lượng hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều, ổn định nên không ai đặt hàng và tự sản tự tiêu là chính, vì thế cảnh trúng mùa, rớt giá thường xuyên diễn ra. Ðối với cây lúa, nếu thực hiện được mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trên cơ sở xây dựng sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân với nhau và với doanh nghiệp, nhà khoa học, để tuy là “hộ dù nhỏ nhưng nhờ cùng liên kết để có cả cánh đồng lúa lớn” cùng canh tác một loại giống hoặc một nhóm giống có chung đặc tính, đồng nhất về mặt chất lượng gạo để có sản phẩm cạnh tranh, sẽ là hướng đi đúng, có ý nghĩa đối với nông dân khi hội nhập sâu hơn.

Khi đã hình thành được CÐML thông qua các mối liên kết bền vững thật sự và ổn định sản xuất với mô hình này, nông dân cần được doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm; nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật sẽ hướng dẫn từ khâu chọn giống đồng nhất, làm đất, xử lý giống, gieo cấy… đến thu hoạch, phơi phóng và các kỹ thuật canh tác lúa theo các quy trình canh tác lúa tiên tiến như “ba giảm, ba tăng”  hay quy trình “một phải, năm giảm” hoặc tiêu chuẩn VietGap, Global Gap… Ngoài ra còn có thể chọn các thành tựu, tiến bộ kỹ thuật khác để ứng dụng vào quá trình sản xuất của địa phương mình nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong quá trình xây dựng và thực hiện sản xuất theo CÐML, nông dân cũng tự nâng cao được trình độ về nhiều mặt, biết chủ động áp dụng cơ giới hóa, biết cách tính toán để giảm giá thành, giảm các chi phí trung gian, và được bao tiêu sản phẩm (hoặc gửi lưu kho chờ giá), sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất sẽ ngày càng được nâng cao và đời sống vật chất, tinh thần chắc chắn sẽ sớm có thay đổi tích cực. Các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đi vào bài bản, được kiểm soát tốt và hỗ trợ kịp thời cho nông dân yên tâm sản xuất. Mặt khác, nhà doanh nghiệp sẽ nắm được sản lượng lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao, đồng đều, thuận lợi trong việc chủ động nguồn hàng xuất khẩu để xây dựng thương hiệu uy tín, tạo sức cạnh tranh và bán được giá cao.

Về lâu dài, CÐML không chỉ áp dụng cho riêng cây lúa, mà cần suy nghĩ vận dụng thêm cho nhiều cây, con khác trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân có tích lũy, xây dựng thành công nông thôn mới.

NGUYỄN VĂN THƯỚC

PVN khai thác hơn 21 triệu tấn quy dầu

(Nguồn: Petrotimes) – Tại cuộc họp báo tháng 10 diễn ra mới đây, Bộ Công Thương cho biết Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu sản xuất kinh doanh tháng 10 và 10 tháng.

PVN khai thác hơn 21 triệu tấn quy dầu

(Nguồn: Petrotimes) – Tại cuộc họp báo tháng 10 diễn ra mới đây, Bộ Công Thương cho biết Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu sản xuất kinh doanh tháng 10 và 10 tháng.

Nông nghiệp góp phần “cứu” tăng trưởng

Chinhphu.vn) – Năm 2012, tính theo dương lịch đã đi qua 5/6 thời gian, nhưng nếu tính theo nông lịch, thì gần như đã kết thúc. Nông nghiệp, nông thôn đã đóng góp tích cực trên nhiều mặt, từ sản xuất đến xuất khẩu, giá cả, lao động việc làm.

Nhìn một cách tổng quát và ở tầm cao hơn, nông nghiệp đã góp phần ổn định kinh tế- xã hội.

 

 

Người bạn tin cậy của nhà nông

   

  BÙI TUYẾT

Khánh thành cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau: Sức bật cho vùng đất chín rồng

(Nguồn: Petrotimes) – Sáng ngày 26/10/2012, vùng đất cuối cùng của tổ quốc – U Minh Hạ (Cà Mau) – chứng kiến một sự kiện trọng đại: Khánh thành Cụm công nghiệp Khí – Điện – Đạm Cà Mau. Không ai ngờ rằng, tại bìa rừng U Minh sình lầy, chỉ có tràm, đước, sẽ lại có dòng điện, càng không thể tin rằng, dòng điện đóng góp đến 20% cho lưới điện quốc gia, cũng khó tin nơi đây có một nhà máy đạm ngang bằng với Đạm Phú Mỹ. Cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau đã đem đến sức bật mạnh mẽ không chỉ cho Cà Mau mà cho cả vùng đất chín rồng…

1. Cà Mau – cái tỉnh tận cùng của đất nước ấy, vào 10 năm trước, vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất nước, người miệt Tây từng ví von “nghèo như Cà Mau”. Trước năm 2006, GDP của Cà Mau nhặt nhạnh lắm cũng chỉ đạt 200 tỉ đồng, hạ tầng giao thông vừa thiếu vừa yếu. Ðiện sinh hoạt lại càng hạn chế hơn với con số khó tưởng tượng, toàn tỉnh chỉ có 14% hộ dân có điện. Cơ cấu kinh tế của Cà Mau tỷ lệ nông nghiệp chiếm từ 70 đến 80%. Ngay cả thế mạnh về nuôi trồng thủy sản thì với 250 nghìn ha nuôi tôm cũng đa phần là quảng canh theo lối tự nhiên nên năng suất rất thấp, chỉ đạt xấp xỉ 1/3 năng suất nuôi trồng theo phương pháp hiện đại. Mặc dù du lịch Cà Mau mang sẵn thế mạnh, tiềm năng về biển đảo, về hai rừng sinh quyển nhưng hạ tầng giao thông cũng như hạ tầng cơ sở quá nghèo nàn nên không phát huy được. Tiềm năng vẫn chỉ là tiềm năng…

Thị trường phân bón hạ nhiệt

Nhu cầu tiêu thụ thấp trong khi nguồn cung dồi dào đã kéo giá phân bón trong nước giảm trở lại kể từ đầu tháng 10 tới nay. Nhiều ý kiến cho rằng, đây là thời điểm tốt để nông dân mua vào chuẩn bị cho vụ đông xuân 2012-2013 tới.

 

Việt Nam tạm thời dẫn đầu về XK gạo

 

 Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, đến ngày 16/10, XK gạo của nước ta trong năm nay đã đạt 6,098 triệu tấn, trị giá FOB là 2,704 tỷ USD. Trên thị trường XK gạo thế giới, Việt Nam đang vượt qua Ấn Độ để trở thành nước XK gạo nhiều nhất trong năm nay (tính đến thời điểm giữa tháng 10).

VR 360