Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Petrovietnam tiếp nhận bàn giao hồ sơ Dự án Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn III và Ô Môn IV 

Ngày 29/6 tại trụ sở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã diễn ra Lễ ký biên bản bàn giao hồ sơ Dự án Nhà máy điện (NMĐ) Ô Môn III và Ô Môn IV giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam).

Tham dự và chứng kiến lễ bàn giao có đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,…

Về phía Petrovietnam có ông Hoàng Quốc Vượng, Chủ tịch HĐTV; ông Lê Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc cùng đại diện lãnh đạo trong HĐTV, Ban Tổng Giám đốc, các Ban chuyên môn, đơn vị, chi nhánh trực thuộc Tập đoàn.

Về phía EVN có ông Đặng Huy Cường, Thành viên phụ trách HĐTV; ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng Giám đốc cùng đại diện lãnh đạo trong HĐTV, Ban Tổng Giám đốc.

Dự án NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV với công suất 1050 MW/nhà máy,đặt tại trung tâm điện lực Ô Môn, phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Dự án NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV được Thủ tướng Chính phủ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm Chủ đầu tư tại Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh) và được chuyển tiếp triển khai trong danh mục tiến độ nguồn và lưới điện quan trọng, ưu tiên đầu tư của ngành điện tại Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 (Quy hoạch điện VIII). Hiện tại, dự án NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

 

Đại diện EVN và Petrovietnam ký kết Biên bản bàn giao

Dự án NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV là dự án thành phần trong Chuỗi dự án khí – điện Lô B (Chuỗi dự án), bao gồm các dự án thượng nguồn (mỏ khí), trung nguồn (dự án đường ống dẫn khí) và hạ nguồn (nhà máy điện). Chuỗi dự án đang có cơ hội để triển khai trong năm 2023 nhằm đáp ứng tiến độ có dòng khí đầu tiên vào cuối năm 2026. Theo quy hoạch điện VIII, chuỗi dự án khí – điện Lô B sẽ là nguồn điện quan trọng, cung cấp bổ sung cho hệ thống điện quốc gia tại khu vực miền Nam giai đoạn 2026 – 2030. Bên cạnh đó, chuỗi dự án cũng phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng và đáp ứng mục tiêu giảm phát thải carbon theo cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26.

Trong thời gian qua mặc dù đã nhận được sự hỗ trợ, hướng dẫn của Chính phủ, các Bộ/Ngành và Cơ quan, tuy nhiên, việc triển khai Chuỗi dự án là chưa có tiền lệ, giao diện phức tạp với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư và các bên cần phải có những quyết định đồng bộ trong khi thời gian không còn nhiều do yêu cầu gấp rút của dự án. Nếu không có được những quyết định kịp thời từ khâu hạ nguồn, Chuỗi dự án sẽ đứng trước nguy cơ khó đáp ứng được tiến độ nêu trên. Khi đó, việc chậm trễ sẽ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới các công việc hiện nay của thượng nguồn và trung nguồn mà còn tác động tới tính khả thi của việc tiếp tục triển khai dự án của các bên đối tác trong và ngoài nước. Nhằm đảm bảo tiến độ triển khai 2 dự án này, tại văn bản số 77/TTg- CN ngày 24/6/2023, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chuyển chủ đầu tư dự án Nhà máy điện Ô Môn III và Ô Môn IV từ EVN sang Petrovietnam.

Ông Lê Mạnh Hùng – Tổng giám đốc Petrovietnam phát biểu tại Lễ ký

Tại lễ bàn giao, đại diện EVN và Petrovietnam đã ký kết biên bản bàn giao một số hợp đồng liên quan đến dự án gồm: Hồ sơ Quy hoạch Trung tâm Điện lực Ô Môn; Hồ sơ Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi (Pre-FS) Dự án NMĐÔ Môn III; Hồ sơ Báo cáo Nghiên cứu khả thi (FS) Dự án NMĐ Ô Môn IV; cùng các văn bản liên quan đến thu xếp vốn và các văn bản khác.

Việc tổ chức bàn giao đã khẳng định tinh thần trách nhiệm của Petrovietnam và EVN trong việc khẩn trương, nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Điều này sẽ góp phần giúp dự án đảm bảo tiến độ, thuận lợi để triển khai trong năm 2023. Trong thời gian tới, với sự hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Petrovietnam và EVN tiếp tục phối hợp chặt chẽ, nhanh chóng bàn giao dự án để triển khai các bước tiếp theo nhằm đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ. Đồng thời, đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) nhà máy điện Ô Môn III và Ô Môn IV sau khi cấp thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư để giảm thiểu việc ảnh hưởng tới tiến độ cam kết tiếp nhận khí từ thượng nguồn và trung nguồn của hai nhà máy cùng một số công việc liên quan. Đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành khẳng định sẽ cùng với 2 Tập đoàn sớm hoàn thành các thủ tục chuyển giao và tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Đặng Huy Cường, Thành viên phụ trách HĐTV EVN gửi lời cảm ơn Chính phủ, các Bộ, ngành đặc biệt là Petrovietnam đã tạo điều kiện hỗ trợ EVN trong giai đoạn hiện nay. Việc chuyển giao dự án sang cho Petrovietnam nhằm đảm bảo lợi ích chung, để chuỗi dự án được triển khai sớm nhất, đảm bảo tiến độ chung của cả chuỗi dự án Khí Lô B cũng như góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Ông Đặng Huy Cường – Thành viên phụ trách HĐTV EVN phát biểu tại Lễ ký

Thay mặt lãnh đạo Petrovietnam, Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng khẳng định việc tiếp nhận làm chủ đầu tư các dự án điện NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn lao mà Chính phủ/Thủ tướng Chính phủ giao phó. Lãnh đạo Petrovietnam tin tưởng rằng, với việc thực hiện thành công và đưa vào vận hành an toàn, hiệu quả 2.700 MW/6.570 MW nhà máy điện tua-bin khí chu trình hỗn hợp trong toàn hệ thống điện Việt Nam (chưa tính đến 1.500 MW dự án NMĐ khí LNG Nhơn Trạch 3&4 đang triển khai đầu tư xây dựng); Petrovietnam với kinh nghiệm hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực nhiệt điện khí và đặc biệt là các kinh nghiệm tại dự án NMNĐ Thái Bình 2 vừa qua, sẽ là động lực to lớn để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tự tin, hoàn thành các dự án NMĐ Ô Môn III và Ô Môn IV đáp ứng tiến độ, chất lượng công trình.

Trung tâm Điện lực Ô Môn – Cần Thơ

Hoạt động sản xuất duy trì đà tăng trưởng, Petrovietnam góp phần quan trọng giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế

Tháng 5 năm 2023, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và cả nước hết sức khó khăn, thời tiết khắc nghiệt với nắng nóng kỷ lục trên diện rộng gây ra tình trạng thiếu điện, sản xuất suy giảm…, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) vẫn duy trì an toàn, ổn định, đặc biệt là hoạt động sản xuất, cung ứng các sản phẩm chủ lực như khí, điện, xăng dầu có đà tăng trưởng ấn tượng, qua đó góp phần giảm áp lực cung ứng điện, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời đóng góp quan trọng cho ngân sách.

Các điểm cầu trực tuyến

Sản xuất điện tăng 48% so với cùng kỳ, doanh thu vượt 20% kế hoạch trong bối cảnh giá dầu giảm sâu

Ngày 12/6, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng chủ trì cuộc họp giao ban thường kỳ tháng 6/2023 với thủ trưởng các đơn vị trong Tập đoàn nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch SXKD tháng 5 và 5 tháng đầu năm; triển khai kế hoạch tháng 6 và các tháng tiếp theo.

Trong tháng 5, tình hình vĩ mô thế giới và trong nước cho thấy sản xuất toàn cầu tiếp đà suy thoái. Chỉ số PMI toàn cầu tiếp tục ở mức dưới 50 điểm, 3 tháng liên tiếp giữ nguyên 49,6 điểm, đặc biệt PMI các nền kinh tế lớn Mỹ, EU, Trung Quốc trong tháng 5 đều giảm so với tháng 4; lãi suất cao gây lực cản đối với tăng trưởng kinh tế, lạm phát tiếp tục ở mức cao, tốc độ tăng trưởng yếu. Trong nước, PMI ngành sản xuất cũng đã giảm xuống 45,3 điểm trong tháng 5 so với 46,7 trong tháng 4, ghi nhận tháng thứ ba suy giảm liên tiếp và đây cũng là mức giảm đáng kể nhất kể từ tháng 9/2021. Thêm vào đó tình hình thiếu điện, tăng trưởng tín dụng thấp, xuất khẩu bị thu hẹp đặc biệt là ở các thị trường lớn… cho thấy hoạt động SXKD của doanh nghiệp đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất như Petrovietnam.

Các nhà máy điện của Petrovietnam, PV Power nỗ lực đảm bảo cung ứng điện cho kinh tế và đời sống

Bên cạnh đó, trong tháng 5 giá dầu thô và các sản phẩm xăng dầu tiếp tục giảm, tác động đến hiệu quả SXKD của Tập đoàn cũng như các đơn vị thành viên. Giá dầu thô trung bình tháng 5/2023 giảm 11% so với trung bình tháng 4 và giảm 7% so với trung bình quý I/2023, giảm 33% so với cùng kỳ năm 2022. Biên lợi nhuận lọc dầu, giá khí, giá phân bón, xăng dầu… đều giảm.

Trong bối cảnh đó, với nỗ lực gia tăng sản xuất để phần nào bù đắp thiệt hại từ biến động giảm giá năng lượng, hạn chế tác động tiêu cực từ tình hình vĩ mô, thị trường, tận dụng hiệu quả các cơ hội, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức cao kế hoạch SXKD; góp phần cung ứng các mặt hàng chiến lược: khí, điện, đạm, xăng dầu,… cho nền kinh tế. Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm, các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn đều hoàn thành vượt mức kế hoạch, đặc biệt trong tháng 5 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, góp phần ổn định, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Cụ thể, sản lượng khai thác dầu thô tháng 5/2023 đạt 0,92 triệu tấn, vượt 15,6% KH tháng, tăng 2,6% so với thực hiện tháng 4/2023, bằng thực hiện cùng kỳ năm 2022; tính chung 5 tháng đạt 4,41 triệu tấn, vượt 13,8% kế hoạch 5 tháng. Trong đó, khai thác dầu thô trong nước tháng 5/2023 đạt mức cao nhất kể từ đầu năm, đạt 0,77 triệu tấn, vượt 18,4% KH tháng, tăng 3% so với thực hiện tháng 4/2023, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2022; tính chung 5 tháng đạt 3,66 triệu tấn, vượt 16,3% KH 5 tháng. Khai thác dầu thô ở nước ngoài tháng 5/2023 đạt 149,5 nghìn tấn, vượt 3,1% KH tháng, tăng 0,9% so với thực hiện tháng 4/2023; tính chung 5 tháng đạt 751,6 nghìn tấn, vượt 2,6% KH 5 tháng.

Cụm mỏ Đại Hùng

Một tin vui là đầu tháng 6 vừa qua Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đã thử vỉa giếng khoan Đại Hùng Nam – 4X cho kết quả thử vỉa rất khả quan. Kết quả thử vỉa vào lúc 12h20 phút ngày 8/6/2023 cho thấy giếng có biểu hiện dầu khí tốt với lưu lượng thử tối đa đạt mức khoảng 6.350 thùng dầu/ngày và 4,5 triệu bộ khối khí/ngày. Với lưu lượng như vậy, khẳng định tiềm năng của khu vực Đại Hùng Nam là đủ thương mại và sẵn sàng đưa vào khai thác. Đây cũng là tiền đề để PVEP tiếp tục phát triển khai thác khu vực Lô 05.1(a) cũng như các lô khác ở khu vực bể Nam Côn Sơn, tiếp tục đóng góp vào sản lượng khai thác dầu khí của Petrovietnam trong thời gian tới.

Sản lượng khai thác khí tháng 5/2023 của Petrovietnam đạt 0,75 tỷ m3, vượt 27,6% KH tháng, tăng 2,8% so với thực hiện tháng 4/2023, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2022; tính chung 5 tháng đạt 3,44 tỷ m3, vượt 21,8% KH 5 tháng. Sản lượng khí trung bình ngày khai thác tháng 5 cũng là mức cao nhất từ đầu năm đến nay.

Sản xuất đạm tháng 5/2023 đạt 158,4 nghìn tấn, vượt 5,5% KH tháng, tăng 53,8% so với thực hiện tháng 4/2023, tăng 3,8% so với cùng kỳ 2022; tính chung 5 tháng đạt 719,5 nghìn tấn, vượt 11,1% KH 5 tháng.

Sản xuất xăng dầu (không bao gồm sản phẩm NSRP) tháng 5/2023 đạt 570,2 nghìn tấn, vượt 14,4% KH tháng 5; tính chung 5 tháng đạt 2,92 triệu tấn, vượt 13,3% KH 5 tháng, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2022.

PVOIL đảm bảo cung ứng xăng dầu

Đặc biệt, khi xảy ra tình trạng thiếu điện cho sản xuất và đời sống, nhất là trong tháng 5 vừa qua, Petrovietnam đã nỗ lực cung cấp tối đa nhiên liệu cho sản xuất điện, tối ưu vận hành các nhà máy điện của Tập đoàn để gia tăng cung ứng cho hệ thống, góp phần giảm áp lực cung ứng điện. Sản xuất điện tháng 5/2023 của toàn Tập đoàn đạt 2,36 tỷ kWh, tăng 12% so với thực hiện tháng 4/2023, tăng 85,5% so với cùng kỳ năm 2022; tính chung 5 tháng đạt 10,12 tỷ kWh, tăng 48% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tháng 5/2023, sản lượng điện huy động của toàn Tập đoàn đạt trung bình đạt 75,5 triệu kWh/ ngày, tăng 5,3 triệu kWh/ngày (tương đương tăng 7,5%) so với mức tháng 4/2023. Trong đó, riêng sản lượng trung bình tháng 5/2023 của Tổng Công ty CP Điện lực Dầu khí (PV Power) đạt 51,5 triệu kWh/ngày, tăng 5,9 triệu kWh so với trung bình tháng 4/2023; đồng thời với nỗ lực góp phần giảm sự thiếu hụt điện cho miền Bắc, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 cũng đã vận hành lên 100% công suất.

Với nỗ lực sản xuất ở nhịp độ cao, các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam trong 5 tháng đầu năm cũng vượt cao so với kế hoạch, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 334 nghìn tỷ đồng, vượt 20% KH 5 tháng. Nộp NSNN toàn Tập đoàn (không bao gồm NSRP) ước đạt 54,5 nghìn tỷ đồng, vượt 45% KH 5 tháng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất ước đạt 21,7 nghìn tỷ đồng, vượt 63% KH 5 tháng và bằng 63% KH năm 2023. Kết quả này cũng tích cực hơn rất nhiều so với đà suy giảm của giá dầu. Giá dầu xuất bán trung bình tháng 5/2023 của Petrovietnam giảm 7% so với giá dầu tháng 4/2023 và giảm 27,7% so với cùng kỳ tháng 5 năm 2022. Trung bình 5 tháng, giá dầu thấp hơn 18,4% so với cùng kỳ 5 tháng năm 2022.

Gắn mục tiêu SXKD với mục tiêu chung của đất nước

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh, thực hiện kỳ vọng của Thủ tướng Chính phủ, toàn Tập đoàn phải cố gắng nỗ lực cao hơn nữa, hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch quản trị đặt ra, để phần nào bù đắp cho khó khăn mà nền kinh tế đất nước đang phải hứng chịu.

Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng cũng chỉ đạo những vấn đề liên quan đến việc triển khai dự án khí Lô B – Ô Môn, cũng như các dự án thành phần trong chuỗi để đảm bảo cho các mục tiêu tiến độ của dự án rất quan trọng này.

Sau khi nghe các báo cáo, thảo luận và chỉ đạo đối với từng đơn vị, lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn; đồng thời tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch HĐTV Hoàng Quốc Vượng, kết luận cuộc họp, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh “Thủ tướng Chính phủ nhiều lần chỉ đạo, trong mục tiêu của doanh nghiệp nhà nước phải gắn với mục tiêu chung của đất nước. Do đó, toàn Tập đoàn phải quán triệt chỉ đạo này, bám sát và phục vụ mục tiêu chung. Đặc biệt hiện nay bối cảnh kinh tế khó khăn, rất cần đến vai trò của các doanh nghiệp nhà nước”.

Ngọn lửa từ DHN-4X với dòng dầu tự phun

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng cũng lưu ý một số nội dung khác cần tập trung trong thời gian tới như: Trên cơ sở kết quả SXKD trong 5 tháng đầu năm và các báo cáo cập nhật, Tập đoàn và các đơn vị thành viên cần rà soát, câp nhật các mục tiêu, phân bổ chỉ tiêu cho triển khai kế hoạch trong các tháng tiếp theo; Triển khai kế hoạch SXKD, quản trị để đảm bảo duy trì và tăng trưởng sản lượng sản xuất, đặc biệt là trong các lĩnh vực tìm kiếm – thăm dò – khai thác dầu khí, lọc hóa dầu, công nghiệp khí, công nghiệp điện; Rà soát công tác đầu tư, quản trị danh mục đầu tư, tạo sự chuyển biến, nâng cao tỷ trọng giải ngân vốn đầu tư; Tập trung triển khai, thúc đẩy các dự án lớn, trọng điểm: Lô B – Ô Môn, Nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4,…, đảm bảo cân đối nguồn vốn và dòng tiền cho các dự án; Xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị về công tác dịch vụ trong tháng 6, đánh giá, đưa ra kế hoạch, mục tiêu, giải pháp cho lĩnh vực này; Tăng cường kết nối chuỗi, rà soát các chuỗi đang thực hiện và triển khai chuỗi mới nhằm phát huy sức mạnh của hệ sinh thái Petrovietnam; Nâng cao hệ thống quản trị, rà soát, cập nhật theo các quy định mới của pháp luật;…

Ngày môi trường thế giới 05/6/2023 – Giải pháp cho ô nhiễm nhựa


Ngày Môi trường Thế giới (05/6) năm 2023: Đánh bại ô nhiễm nhựa (Beat plastic polution)

Trái đất đang “nghẹt thở” với nhựa:

Nhựa có thể được tái sử dụng, tuy nhiên, mọi người lại có xu hướng “nghiện” sử dụng các sản phẩm dùng một lần dẫn đến những hệ luỵ nghiêm trọng đối với môi trường, kinh tế – xã hội và sức khoẻ. Trên thế giới, mỗi phút có một triệu chai nhựa được bán ra, năm nghìn tỷ túi nhựa được sử dụng mỗi năm. Một nửa trong số các sản phẩm nhựa là sản phẩm được thiết kế với mục đích chỉ dùng một lần sau đó vứt bỏ.

Nhựa bao gồm các hạt vi nhựa hiện có mặt khắp nơi trong môi trường tự nhiên. Chúng trở thành một phần hoá thạch của trái đất, đánh dấu một kỷ nhân sinh mới, chính là kỷ nguyên địa chất hiện tại của loài người. Chúng thậm chí còn được dùng để đặt tên cho môi trường sống mới của vi sinh vật biển, gọi là “môi trường nhựa” (plastisphere).

Từ những năm 50 đến những năm 70 của thế kỷ trước, chỉ một khối lượng nhỏ nhựa được sản xuất và vấn đề rác thải nhựa vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, từ giữa những năm 70 đến những năm 90, khối lượng rác thải nhựa tăng hơn 3 lần, phản ánh sự gia tăng mạnh của các sản phẩm nhựa. Đến những năm đầu của thế kỷ 21, khối lượng rác thải nhựa thải ra trong một thập niên đã nhiều hơn so với 40 năm trước đó. Hiện nay, có khoảng 4 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra mỗi năm.

Một xu hướng đáng lo ngại đã và đang diễn ra. Kể từ những năm 1970, tỷ lệ sản xuất sản phẩm nhựa đã tăng nhanh hơn bất kỳ các loại vật liệu nào khác. Nếu tiếp tục giữ đà gia tăng như vậy, sản lượng sản phẩm nhựa toàn cầu sẽ đạt 1.100 triệu tấn vào năm 2050. Theo đó, xu hướng sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần cũng gia tăng ở mức độ đáng báo động.

Gần 36% lượng nhựa được sử dụng trong lĩnh vực bao bì, bao gồm các sản phẩm nhựa sử dụng một lần để đựng đồ ăn, nước uống, gần 80% số đó được chôn lấp hoặc thải bỏ trực tiếp ra môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, khoảng 98% sản phẩm nhựa sử dụng một lần được sản xuất từ nhiên liệu hoá thạch hoặc nguyên liệu “gốc” (“virgin” feedstock). Mức độ phát thải khí nhà kính liên quan đến việc sản xuất, sử dụng và thải bỏ nhựa làm từ nguyên liệu hoá thạch truyền thống được dự báo sẽ tăng lên 19% của ngân sách các-bon toàn cầu vào năm 2040. Những sản phẩm nhựa dùng một lần xuất hiện ở mọi nơi. Đối với nhiều người, chúng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.

Những thay đổi mang tính hệ thống cần được triển khai nhằm ngăn chặn dòng chất thải nhựa ra môi trường

Đến thời điểm hiện tại, chỉ có 10% trong tổng số 7 tỷ tấn chất thải nhựa phát sinh trên toàn cầu được tái chế. Hàng triệu tấn chất thải nhựa đang ngày đêm trôi nổi ngoài môi trường, hoặc được vận chuyển hàng nghìn km đến các bãi rác hoặc đốt. Ước tính giá trị tổn thất hàng năm của chất thải bao bì nhựa trong quá trình phân loại và xử lý là 80-120 tỷ đô-la Mỹ.

Đầu lọc của các mẩu thuốc lá – chứa các sợi nhựa siêu nhỏ – là loại rác thải nhựa phổ biến nhất được tìm thấy trong môi trường. Tiếp đó là màng bọc thực phẩm, chai nhựa, nắp chai nhựa, túi nhựa, ống hút và que khuấy bằng nhựa. Rất nhiều người sử dụng những sản phẩm này mỗi ngày nhưng không hề nghĩ đến việc chúng sẽ đi về đâu sau khi bị thải bỏ.

Sông hồ mang rác thải nhựa từ sâu trong đất liền ra đại dương, khiến chúng trở thành tác nhân chính gây ô nhiễm đại dương

Bất chấp mọi nỗ lực, theo ước tính, vẫn có khoảng 75 đến 199 triệu tấn nhựa được tìm thấy ngoài đại dương. Trừ khi chúng ta thay đổi phương thức sản xuất, sử dụng và thải bỏ nhựa, khối lượng chất thải nhựa thải ra hệ sinh thái thuỷ sinh có thể tăng gần gấp 3 lần từ 9-14 triệu tấn mỗi năm vào năm 2016 lên mức dự kiến là 23-37 triệu tấn mỗi năm vào năm 2040. Ước tính có khoảng 1.000 con sông đang vận chuyển gần 80% chất thải nhựa ven sông đi vào đại dương, tương đương với khoảng 0,8-2,7 triệu tấn mỗi năm.

Rác thải nhựa – dù ở sông, biển hay trên đất liền, chúng có thể tồn tại trong môi trường hàng thế kỷ

Cùng những đặc tính làm cho nhựa trở nên hữu ích, độ bền cao và khả năng chống phân huỷ cũng khiến cho chúng gần như không thể bị phân huỷ hoàn toàn trong tự nhiên.

Hầu hết các sản phẩm nhựa không bao giờ biến mất hoàn toàn, chúng chỉ phân huỷ thành các mảnh nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa. Những hạt vi nhựa có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua đường hô hấp, hấp thụ và tích tụ trong các cơ quan. Hạt vi nhựa đã được tìm thấy trong phổi, gan, lá lách và thận của cơ thể người. Gần đây đã có một nghiên cứu phát hiện những hại vi nhựa trong nhau thai của trẻ sơ sinh. Chưa thể xác định được chính xác mức độ tác động của chúng đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên, có một bằng chứng chắc chắn rằng các hoá chất liên quan đến nhựa, chẳng hạn như thuỷ ngân, chất làm dẻo và chất chống cháy có thể xâm nhập vào cơ thể và có liên quan đến các vấn đề về sức khoẻ.

Ở những quốc gia có hệ thống quản lý rác thải yếu kém, rác thải nhựa mà đặc biệt là các túi nhựa dùng một lần được tìm thấy nhiều trong các cống thoát nước bị tắc, tạo nên môi trường sống thuận lợi cho muỗi và các loài gây bệnh khác, dẫn đến việc gia tăng các bệnh truyền nhiễm do vật trung gian như sốt rét.

Thế giới đã “thức tỉnh” đối với vấn đề ô nhiễm nhựa, chính phủ, các ngành công nghiệp và các bên liên quan đã bắt đầu hành động

Chính phủ giữ vai trò chính trong chuỗi giá trị sản xuất nhựa, do đó họ có thể:

– Loại bỏ một số sản phẩm nhựa không thực sự cần thiết, ví dụ như thông qua việc ban hành các lệnh cấm đối với một số sản phẩm nhất định;

– Thúc đẩy sáng tạo và đổi mới nhằm thiết kế và đưa các sản phẩm nhựa có thể tái sử dụng vào nền kinh tế;

– Đảm bảo sự lưu thông của các sản phẩm nhựa trong nền kinh tế càng lâu càng tốt.

Các ngành công nghiệp liên quan đến nhựa cần thực hiện một số hành động nhằm thúc đẩy sự thay đổi mang tính hệ thống:

– Loại bỏ các sản phẩm hoặc bao bì nhựa không thực sự cần thiết, bằng cách thay đổi thiết kế sản phẩm để tăng độ bền và đổi mới mô hình kinh doanh từ sản xuất sản phẩm nhựa dùng một lần sang sản phẩm nhựa có thể tái sử dụng. Cung cấp các thông tin về độ bền của sản phẩm một cách minh bạch và đáng tin cậy để người tiêu dùng có thể mua hàng một cách sáng suốt.

– Tăng cường việc sử dụng các hạng mục có thể tái chế trong các sản phẩm mới nhằm tuần hoàn nhựa trong nền kinh tế.

Xã hội có thể đã chứng kiến rất nhiều hành động tích cực nhằm hạn chế rác thải nhựa. Tuy nhiên, tất cả chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa và chấm dứt ô nhiễm nhựa tại nguồn:

– Dọn dẹp bãi biển: Nếu sống gần bờ biển, hãy tham gia các hoạt động dọn dẹp bãi biển trong khu vực, hoặc chủ động cùng gia đình dọn dẹp bờ biển.

– Dọn dẹp các con sông: Sông là con đường chính dẫn rác thải nhựa từ đất liền ra đại dương. Vậy nên, hãy tham gia các hoạt động dọn dẹp bờ sông! Bờ sông sạch sẽ trở nên đẹp đẽ hơn, đem lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái và cho cả đại dương.

– Mua sắm bền vững: Ưu tiên lựa chọn các sản phẩm không có bao bì nhựa, chủ động đem theo túi đựng khi đi mua sắm, sử dụng các sản phẩm địa phương và các sản phẩm có thể tái sử dụng.

– Thực hiện lối sống Không rác thải: Đầu tư vào các sản phẩm bền vững, thân thiện với đại dương như cốc cà phê, chai nước, màng bọc thực phẩm có thể tái sử dụng. Cân nhắc lựa chọn các sản phẩm như cốc nguyệt san, bàn chải đánh răng bằng tre, và các thanh dầu gội. Những hành động này vừa tiết kiệm tiền vừa bảo vệ đại dương.

– Du lịch bền vững: Khi đi du dịch, hãy cố gắng kiểm soát việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần. Từ chối sử dụng các chai nhựa nhỏ trong phòng khách sạn, mang theo chai nước uống có thể tái sử dụng của riêng mình, sử dụng các loại kem chống nắng không có hạt vi nhựa và an toàn đối với các rạn san hô.

– Ủng hộ sự thay đổi: Yêu cầu các siêu thị, nhà hàng và các nhà cung cấp khác ở địa phương loại bỏ các bao bì đóng gói bằng nhựa, từ chối sử dụng các loại thìa, nĩa, ống hút bằng nhựa và giải thích lý do với họ. Tạo áp lực với chính quyền nhằm thay đổi và tăng cường công tác quản lý rác thải.

– Ăn mặc bền vững: Ngành thời trang thải ra 20% lượng nước thải và 10% phát thải các-bon toàn cầu, cao hơn nhiều so với tất cả các chuyến bay quốc tế và vận chuyển hàng hoá đường biển cộng lại. Vậy nên, hãy cân nhắc sử dụng các mẫu quần áo bền vững, cổ điển và sửa chữa quần áo nếu có thể.

– Lựa chọn các sản phẩm chăm sóc cá nhân không chứa nhựa: Các sản phẩm chăm sóc cá nhân là một trong những nguồn chính của các hạt vi nhựa, chảy thẳng ra đại dương từ chính phòng tắm cá nhân. Hãy sử dụng kem rửa mặt, đồ trang điểm, chất khử mùi, dầu gội đầu và các sản phẩm không chứa nhựa khác.

(Lược dịch từ www.worldenvironmentday.global)

Petrovietnam: Khai thác dầu thô, sản xuất xăng dầu tăng trưởng ấn tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội đất nước

Việc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đảm bảo cung ứng các mặt hàng chiến lược, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực như dầu thô, khí, điện và xăng dầu, đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đây là kết quả của sự nỗ lực rất lớn của Petrovietnam trong bối cảnh nhu cầu của nền kinh tế ở mức cao.

Theo thông tin từ Petrovietnam, kết quả sản xuất kinh doanh tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2023 của Petrovietnam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Nổi bật:

Khai thác dầu thô tháng 5/2023 đạt 0,92 triệu tấn, vượt 15,6% kế hoạch tháng, tăng 2,6% so với thực hiện tháng 4/2023 và bằng mức thực hiện cùng kỳ 2022. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, khai thác dầu thô toàn tập đoàn ước đạt 4,41 triệu tấn, vượt 13,7% kế hoạch và bằng 47,5% kế hoạch năm.

Trong đó, khai thác dầu thô trong nước đạt 0,77 triệu tấn, vượt 18,5% kế hoạch tháng, tăng 3% so với thực hiện tháng 4/2023, tăng 0,8% so với cùng kỳ 2022. Tính chung 5 tháng khai thác dầu thô trong nước đạt 3,66 triệu tấn, vượt 16,3% kế hoạch 5 tháng, bằng 48,6% kế hoạch năm.

Khai thác khí tháng 5/2023 ước đạt 0,73 tỷ m3, vượt 24,5% kế hoạch, tăng 0,6% so với thực hiện tháng 4/2023 và tăng 78,5% so với cùng kỳ năm 2022. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, khai thác khí toàn Tập đoàn ước đạt 3,42 tỷ m3, vượt 21,2% kế hoạch 5 tháng, bằng 57,6% kế hoạch cả năm 2023.

Kết quả trên cho thấy sự nỗ lực rất lớn của Petrovietnam trong việc đảm bảo sản lượng khai thác khi mà hầu hết các mỏ chủ lực của Việt Nam đều đang trên đà suy giảm tự nhiên. Điều này cũng đồng thời thể hiện sự nỗ lực, tính hiệu quả của Petrovietnam và các đơn vị thành trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm duy trì sản lượng khai thác nhưng vẫn đảm bảo an toàn mỏ.

Về sản xuất xăng dầu trong nước (bao gồm cả Công ty Lọc hóa dâu Nghi Sơn) trong tháng 5 sản xuất đạt 1,47 triệu tấn, vượt 50,4% so với kế hoạch tháng; tăng 12,3% so với tháng 4/2023 và tăng trưởng tới 32,6 % so với cùng kỳ 2022. Tính chung 5 tháng, sản xuất xăng dầu các loại đạt 6,30 triệu tấn, vượt 26,5% kế hoạch 5 tháng, bằng 56% kế hoạch năm 2023 và tăng trưởng 18,1% so với cùng kỳ 2022.

Đặc biệt, trong bối cảnh nguy cơ thiếu điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của đất nước đang hiện hữu, với sự hoàn thành đi vào phát điện thương mại của Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, sản xuất điện toàn Petrovietnam đã đạt được những bước nhảy vọt. Theo đó, trong tháng 5, Petrovietnam sản xuất được 2,77 tỷ kWh, bằng 100% kế hoạch tháng, tăng 7,8% so với tháng 4/2023. Tính chung 5 tháng, toàn Tập đoàn sản xuất đạt 10,03 tỷ kWh điện thương phẩm, vượt 1% kế hoạch 5 tháng, bằng 42,5% kế hoạch năm và tăng trưởng tới 46,6% so với cùng kỳ 2022.

Với việc không ngừng mở rộng quy mô hoạt động, hoàn thiện chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng dầu khí, Petrovietnam đã trở thành tập đoàn kinh tế mạnh trong nước và quốc tế, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ, giữ vai trò xương sống, quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Các sản phẩm chủ lực của Tập đoàn như dầu thô, khí, điện và xăng dầu… còn là đầu vào cho các ngành, lĩnh vực sản xuất khác của nền kinh tế. Vậy nên, việc Petrovietnam duy trì đà tăng trưởng, giữ vững nhịp độ sản xuất, đảm bảo cung ứng các mặt hàng chiến lược vì thế còn là cơ sở, là nền tảng cho các ngành, lĩnh vực khác của nền kinh tế. Đây cũng chính là trọng trách mà Đảng, Nhà nước đặt trọn lên vai những người lao động dầu khí và Petrovietnam đã, đang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó!

Xung quanh câu chuyện sử dụng hợp lý, có kế hoạch khí thiên nhiên cho sản xuất điện, đạm

(PetroTimes) – Ngày 20/5/2023Hoạt động khai thác các mỏ khí đều được các chủ mỏ (có sự tham gia của Petrovietnam và các bên) lên kế hoạch hàng năm trên cơ sở khả năng khai thác, đảm bảo an toàn hoạt động khai thác mỏ và các cam kết mua/nhu cầu khí từ các khách hàng theo hợp đồng dài hạn.

Trong nhiều thập kỷ gần đây, việc sử dụng khí thiên nhiên để sản xuất điện, đạm và cho sản xuất công nghiệp trở thành một phương pháp phổ biến ở Việt Nam. Khí thiên nhiên là một nguồn năng lượng sạch, giúp các nhà sản xuất tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đây cũng là một loại hàng hoá đặc thù và được khai thác hầu hết từ các mỏ khí ở vùng thềm lục địa Việt Nam, sau khi khai thác khí thiên nhiên được vận chuyển bằng các đường ống dẫn khí về bờ và phân phối đến các khách hàng gồm các nhà máy điện, nhà máy đạm và khách hàng công nghiệp, tập trung chủ yếu ở các khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Từ đó, có thể thấy để phát triển và đưa các mỏ khí vào khai thác, đòi hỏi phải phát triển đồng bộ các đường ống dẫn khí, hệ thống khách hàng tiêu thụ và tốn nhiều năm để chuỗi dự án có thể hoàn thành.

Hoạt động khai thác các mỏ khí đều được các chủ mỏ (có sự tham gia của Petrovietnam và các bên nước ngoài) lên kế hoạch hàng năm trên cơ sở khả năng khai thác, đảm bảo an toàn hoạt động khai thác mỏ và các cam kết mua/nhu cầu khí từ các khách hàng theo hợp đồng dài hạn. Chính vì thế, việc các nhà máy điện, nhà máy đạm tăng nhu cầu về khí thiên nhiên đột biến không theo kế hoạch hàng năm sẽ được các chủ mỏ xem xét rất kỹ, do có những giới hạn kỹ thuật trong hoạt động khai thác các mỏ khí thiên nhiên ngoài khơi, đặc biệt các mỏ khí thiên nhiên hiện đang trong giai đoạn suy giảm, cần sự ổn định trong khai thác nhằm đảm bảo vận hành an toàn và tận thu tối đa các nguồn tài nguyên trong lòng đất.

Kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện quốc gia trên toàn quốc năm 2023 đã được Bộ Công Thương ban hành tại Quyết định số 2976/QĐ-BCT ngày 30/12/2022, trong đó sản lượng điện sản xuất từ khí thiên nhiên chiếm khoảng 10.4% tổng sản lượng quốc gia. Theo kế hoạch này, dự kiến Petrovietnam và các bên trong hệ thống khí tại các khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ sẽ cung cấp khoảng 5,6 tỷ m3 khí (khu vực Đông Nam Bộ khoảng 4,3 tỷ m3 và Tây Nam Bộ khoảng 1,3 tỷ m3) cho sản xuất điện trong năm 2023.

Xung quanh câu chuyện sử dụng hợp lý, có kế hoạch khí thiên nhiên cho sản xuất điện, đạm
Người lao động Dầu khí làm việc ngày đêm tại Hệ thống khí PM3 – Cà Mau, đảm bảo nguồn khí duy trì ổn định, hiệu quả

Trên thực tế, do nhu cầu huy động khí thiên nhiên cho sản xuất điện trong Quý 1/2023 rất thấp, nên tính đến hết tháng 4/2023 lượng khí huy động cho các nhà máy điện chỉ đạt 96% so với kế hoạch của Bộ Công Thương đã giao. Trước tình hình nhu cầu phụ tải hệ thống điện tăng cao, Petrovietnam và các bên trong các hệ thống khí đã phối hợp thực hiện các giải pháp kỹ thuật để tăng cường tối đa lượng khí thiên nhiên khai thác trong nước, đồng thời Petrovietnam cũng đã và thống nhất với Petronas để mua toàn bộ lượng khí khai thác từ cụm mỏ PM3-CAA với Malaysia nhằm gia tăng lượng khí cung cấp cho sản xuất điện trong nước. Với các nỗ lực nêu trên, dự kiến trong năm 2023 Petrovietnam sẽ cung cấp khoảng 5,87 tỷ m3 khí thiên nhiên cho sản xuất điện (gồm 4,55 tỷ m3 khu vực Đông Nam Bộ và 1,32 tỷ m3 ở khu vực Tây Nam Bộ), dự kiến vượt 104.8% so với kế hoạch của Bộ Công Thương. Điều đáng nói, tính đến thời điểm hiện nay, công suất huy động các nhà máy điện khí cao nhất chỉ chiếm khoảng 12% trong tổng công suất các nguồn điện được huy động. Do vậy, để đảm bảo hoàn thành kế hoạch cung cấp điện của Bộ Công Thương đã phê duyệt, nhà chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng cần phải huy động sự tham gia phát điện của nhiều nguồn phát điện khác ngoài điện khí (điện than, thuỷ điện, năng lượng tái tạo…).

Đối với các nhà máy đạm tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ sử dụng nguồn khí thiên nhiên làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất (không có nguyên liệu thay thế) kể từ năm 2006 đến nay. Nhu cầu tiêu thụ khí luôn duy trì ổn định ở mức khoảng 1,1 tỷ m3 khí mỗi năm cho 02 nhà máy Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau, góp phần đảm bảo an ninh lương thực của đất nước. Việc lập kế hoạch cho nhu cầu sử dụng khí cũng như kế hoạch về bảo dưỡng, bảo trì các nhà máy đạm để tối ưu nguồn cung cấp khí được các bên phối hợp thực hiện và thống nhất tuân thủ theo các quy định chặt chẽ của các hợp đồng mua bán khí có cam kết dài hạn. Chủ sở hữu của các nhà máy Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau là các công ty cổ phần nên các hoạt động ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, các trường hợp dừng/giảm cấp khí dài hạn theo kế hoạch, đều phải được thông qua Đại hội đồng cổ đông của các công ty này trước khi thực hiện. Việc dừng/giảm cấp khí ngoài kế hoạch cho các nhà máy đạm Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, làm phát sinh nhiều hệ lụy đến các bên liên quan và sẽ phụ thuộc vào sự chấp thuận, thiện chí, sự hợp tác chia sẻ của cổ đông các nhà máy đạm. Thêm nữa, việc dừng/giảm khí thiên nhiên của các nhà máy đạm cũng không giúp nhiều (gần 1%) cho việc đảm bảo vận hành hệ thống điện quốc gia.

Xung quanh câu chuyện sử dụng hợp lý, có kế hoạch khí thiên nhiên cho sản xuất điện, đạm

Sau bảo dưỡng, Nhà máy Đạm Phú Mỹ hoạt động ổn định, sẵn sàng cung ứng đầy đủ hàng cho vụ hè thu/mùa mưa

Có thể thấy, nhu cầu về khí thiên nhiên cho sản xuất điện là rất cần thiết, đặc biệt trong các tháng mùa khô từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm. Tuy nhiên, để duy trì cung cấp khí thiên nhiên dài hạn cho sản xuất điện và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, thiết nghĩ các cơ quan cần xem xét, ban hành cơ chế phát triển nguồn điện chạy nền ổn định, an toàn cho hệ thống; những quy định về vận hành hệ thống điện phù hợp với cơ chế cam kết mua khí thiên nhiên và chính sách giá điện hợp lý để giúp cho chủ đầu tư các nhà máy điện có thể yên tâm ký kết các hợp đồng mua khí dài hạn, nhất là khi các nguồn khí thiên nhiên giá rẻ trong nước và giá các nguồn LNG nhập khẩu ngày càng tăng.

Xung quanh câu chuyện sử dụng hợp lý, có kế hoạch khí thiên nhiên cho sản xuất điện, đạm
Cụm Khí Điện – Đạm – Cà Mau

Cần đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp

pvn.vn/ Quy định doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết phải tuân thủ hoàn toàn Luật Đấu thầu có thể dẫn đến làm chậm quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, không tạo sự linh hoạt, chủ động cho các cổ đông trong việc ra quyết định điều hành, tổ chức sản xuất kinh doanh.
Thiếu quy chế lựa chọn nhà thầu hiệu quả

Sau 10 năm triển khai thi hành Luật Đấu thầu năm 2013, thực tế cho thấy đã phát sinh một số hoạt động mua sắm, đấu thầu lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư nhưng chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ. Các quy định về phương pháp đánh giá chưa thực sự tạo cơ chế hiệu quả, linh hoạt để bảo đảm mua sắm được hàng hóa, dịch vụ, công trình có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu sử dụng. Trong đó, có việc mua sắm hóa chất, sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị y tế.

Đại diện pháp chế của một doanh nghiệp nhà nước kinh doanh dược phẩm cho hay, năm 2021 khi dịch Covid-19 cao điểm, công ty này mua sắm kit xét nghiệm phục vụ xét nghiệm hằng ngày cho nhân viên tại nhà máy sản xuất thuốc. Đến năm 2022, khi cơ quan thanh tra vào kiểm tra thì nhận định công ty đã thiếu sót vì không thông qua đấu thầu.

Khắc phục theo kiến nghị của của cơ quan thanh tra, công ty đã ban hành quy chế về đấu thầu. Tuy nhiên lại phát sinh vướng mắc vì các nguyên liệu sản xuất thuốc có đăng ký với Bộ Y tế kêu gọi đấu thầu nhưng không có đơn vị tham dự, khiến cho hoạt động sản xuất của nhà máy bị đình trệ nhiều tháng.

“Trước tình hình đó, lãnh đạo công ty giải quyết bằng cách cho mua trực tiếp với nhà cung cấp nguyên liệu nhưng lại sợ vi phạm Luật Đấu thầu. Ngay cả việc mua sắm trang phục, công cụ lao động cho nhân viên, hay gói khám sức khỏe… cũng không có đơn vị tham dự thầu nên công ty cũng định áp dụng phương án lựa chọn giá cạnh tranh, nhưng lại cũng sợ vi phạm…”, ý kiến của một đại diện cho hay.

Hội thảo Pháp chế doanh nghiệp lần thứ nhất - năm 2023

Nhiều ý kiến liên quan đến công tác đấu thầu được các doanh nghiệp đưa ra tại Hội thảo Pháp chế doanh nghiệp lần thứ nhất – năm 2023.

Ngoài ra, việc cần rạch ròi định nghĩa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng là một trong số nhiều ý kiến được đưa ra, nhằm áp dụng thỏa đáng đối với các quy định pháp luật liên quan.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp (2020) quy định doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Trong khi doanh nghiệp có vốn nhà nước được quy định rải rác, và còn có độ “vênh” trong các luật khác như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách, Luật Đấu thầu, Luật Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Luật Quản lý tài sản công…

“Các doanh nghiệp nhà nước đang gặp rất nhiều vướng mắc khi thực hiện chặt chẽ theo quy định Luật đấu thầu nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh…”, ông Vũ Ngọc Nam, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, nhận xét.

Bất cập trong lựa chọn nhà thầu của doanh nghiệp Nhà nước

Trước đây, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo đó, quy định các dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Đấu thầu 2013 sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, có hiệu quả việc lựa chọn nhà thầu thực hiện các dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện nay, thì doanh nghiệp nhà nước bao gồm: Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Như vậy, theo quy định nêu trên thì các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu (Điều mà trước đây chỉ các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới phải áp dụng).

Hội thảo Góp ý Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi)

Hội thảo Góp ý Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc quy định doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết phải tuân thủ hoàn toàn Luật Đấu thầu có thể dẫn đến làm chậm quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, không tạo sự linh hoạt, chủ động cho các cổ đông trong việc ra quyết định điều hành, tổ chức sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp của mình. Bên cạnh đó, việc quy định doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ cũng phải tuân thủ toàn bộ quy trình, thủ tục chặt chẽ như đối với doanh nghiệp do Nhà nước năm giữ 100% vốn điều lệ cũng không bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp.

Thu hẹp đối tượng áp dụng để đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp

Tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách về một số vấn đề lớn trong dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Nguyễn Hữu Toàn cho biết, hiện đang có 2 loại ý kiến khác nhau về việc thu hẹp đối tượng điều chỉnh của luật này so với luật hiện hành.

Loại ý kiến nhất trí với tờ trình của Chính phủ, chỉ quy định các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc đối tượng phải đấu thầu; bỏ quy định áp dụng đối với toàn bộ các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước, vốn của DNNN từ 30% trở lên, hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án như luật hiện hành.

Loại ý kiến thứ 2 cho rằng, nếu quy định như dự thảo Chính phủ trình sẽ thu hẹp đáng kể đối tượng dự án sử dụng vốn nhà nước phải đấu thầu, tạo khoảng trống pháp luật trong quản lý vốn nhà nước, dẫn tới toàn bộ các dự án đầu tư của công ty con của các tập đoàn, tổng công ty, DNNN khác… sẽ không phải đấu thầu. Nếu quy định như vậy sẽ không đảm bảo được yếu tố công bằng, minh bạch trong quản lý tài sản nhà nước.

Liên quan đến vấn đề này, ông Phan Đức Hiếu – Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội – nhận định, cần cân bằng lợi ích Nhà nước và cân bằng sự linh hoạt của hoạt động sản xuất kinh doanh và sự đa dạng của thực tiễn.

Đại biểu Phan Đức Hiếu (đoàn Thái Bình) phát biểu tại hội nghị

Đại biểu Phan Đức Hiếu phát biểu tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách về một số vấn đề lớn trong dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi).

Theo ông Phan Đức Hiếu, trong rất nhiều trường hợp, khi công ty con có sở hữu trên 50% vốn của DNNN thì lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các nhà đầu tư tư nhân khác là khá tương đương nhau. Do vậy, xét về mặt lợi ích, rất cần có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tư nhân để phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, bảo đảm tính nhanh nhạy, vì lợi ích doanh nghiệp.

Ngoài ra, hiện nay ở nhiều DNNN nắm một phần vốn điều lệ cũng đã thiết kế những quy trình, thủ tục đấu thầu phù hợp, vừa đảm bảo sự nhanh nhạy kịp thời, vừa bảo đảm tốt nhất lợi ích của các cổ đông và của chính doanh nghiệp; thậm chí trong một số trường hợp, cơ chế bảo vệ lợi ích của họ tốt không kém hoặc là tốt hơn; vì vậy, không nhất thiết phải áp dụng một quy trình cứng nhắc mà theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp và cổ đông.

Với những lý do trên, ông Phan Đức Hiếu cho rằng nên cân nhắc chỉ giới hạn mở rộng đối tượng điều chỉnh đối với công ty con sở hữu 100% vốn doanh nghiệp nhà nước, không nên mở rộng đối tượng đối với công ty con sở hữu trên 50% vốn doanh nghiệp nhà nước.

Đồng quan điểm, ông Dương Khắc Mai – Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội – nhận định: Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định “DNNN là DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ”; đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã mở rộng đối tượng, theo đó DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Do đó, việc quy định phạm vi điều chỉnh đối với dự án đầu tư của DNNN như phương án 1 là đã mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Luật Đấu thầu hiện tại.

Nếu theo phương án 2 điều chỉnh cả đối với gói thầu thuộc dự án đầu tư của doanh nghiệp có trên 50% vốn thuộc sở hữu của DNNN sẽ là mở rộng phạm vi điều chỉnh nhiều so với luật hiện hành và như vậy, thì không bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, quyền lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 7 của Luật Doanh nghiệp.

Tr.L

Thu hẹp phạm vi đấu thầu sẽ tạo tính chủ động hơn cho DNNN

Thu hẹp phạm vi đấu thầu sẽ tạo tính chủ động hơn cho DNNN

Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm

Liên quan đến vấn đề này, PetroTimes có cuộc trao đổi với Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm.

Phóng viên: Theo tờ trình của Chính phủ, chỉ quy định các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc đối tượng phải đấu thầu, bỏ quy định áp dụng đối với toàn bộ các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước, vốn của DNNN từ 30% trở lên, hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án như luật hiện hành. Quan điểm của luật sư về vấn đề này như thế nào?

Luật sư Trương Anh Tú: Theo Tờ trình nêu trên thì tất cả các dự án đầu tư của DNNN đều phải đấu thầu. Quy định này siết chặt hơn đối với các DNNN khi thực hiện các dự án đầu tư, góp phần tạo ra sự công bằng, minh bạch, hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn của DNNN tránh thất thoát, đảm bảo sự cạnh tranh, và ngăn chặn những hành vi tham nhũng, lợi ích cá nhân…

Phóng viên: Việc thu hẹp đối tượng dự án dùng vốn nhà nước phải đấu thầu, điều này có lợi như thế nào đối với các DNNN?

Luật sư Trương Anh Tú: Việc bỏ quy định áp dụng đối với toàn bộ các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước, vốn của DNNN từ 30% trở lên, hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án như luật hiện hành đã thu hẹp đối tượng dự án dùng vốn nhà nước phải đầu thầu. Tôi đánh giá việc bỏ quy định này là điểm đột phá trong dự thảo. Hiện nay chúng ta đang phát triển theo xu hướng kinh tế thị trường, nên phải đảm bảo một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định đối với tất cả các thành phần kinh tế. Do đó, loại bỏ quy định trên giúp các doanh nghiệp có vốn nhà nước (mà không phải DNNN) được chủ động hơn trong việc đầu tư dự án, góp phần tạo nên quyền chủ động quyết định cho các tổ chức, cá nhân khác có tham gia góp vốn cùng nhà nước, họ không bị ràng buộc bởi những quy định áp dụng đối với vốn nhà nước như trước đây. Đồng thời đảm bảo hài hoà lợi ích giữa nhà nước và các tổ chức cá nhân khác trong cùng “sân chơi kinh tế”.

Phóng viên: Nếu quy định như dự thảo Chính phủ trình sẽ thu hẹp đáng kể đối tượng dự án sử dụng vốn nhà nước phải đấu thầu, tạo khoảng trống pháp luật trong quản lý vốn nhà nước, dẫn tới toàn bộ các dự án đầu tư của công ty con của các tập đoàn, tổng công ty, DNNN khác… sẽ không phải đấu thầu. Theo luật sư, có nên mở rộng áp dụng Luật Đấu thầu với đối tượng là công ty con có trên 50% vốn của DNNN? Vì sao?

Luật sư Trương Anh Tú: Quan điểm của tôi “không cần mở rộng áp dụng Luật Đấu thầu với đối tượng là công ty con có trên 50% vốn của DNNN”. Mặc dù sẽ có những rủi ro xảy ra trong hoạt động quản lý vốn của DNNN tại các Công ty con. Nhưng việc quy định mở rộng nêu trên sẽ cản trở rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của các Công ty con, lại một lần nữa họ phải chịu ràng buộc, phụ thuộc vì có “gắn mác DNNN”, không được chủ động, tự quyết định… Đồng thời việc “không cần quy định mở rộng” góp phần buộc các DNNN phải rà soát cần nhắc trong việc đầu tư mở các Công ty con sao cho hiệu quả, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, đúng luật.

Mặt khác, Công ty con của các tập đoàn, tổng công ty, DNNN có nguồn vốn đầu tư là từ Công ty mẹ, Tổng Công ty, DNNN (không thuộc vốn từ ngân sách hoặc các quỹ do nhà nước quản lý theo quy định Luật quản lý, sử dụng tài sản công) nên không cần thiết phải đưa vào là đối tượng đấu thầu.

Phóng viên: Nhiều ý kiến cho rằng, cần phải thu hẹp phạm vi các gói thầu mà chủ đầu tư là các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần, các dự án có vốn nhà nước phải thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật. Điều này sẽ làm tăng tính tự chủ cho doanh nghiệp và cũng đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước (thông qua số cổ phần/tỷ lệ biểu quyết tại doanh nghiệp cổ phần) với các cổ đông, nhà đầu tư tư nhân… Luật sư nghĩ sao về ý kiến này?

Luật sư Trương Anh Tú: Tôi cho rằng ý trên là hoàn toàn phù hợp, bởi những doanh nghiệp có vốn nhà nước (mà không phải là DNNN) còn có vốn góp của tổ chức, cá nhân khác. Tỷ lệ vốn góp của họ cao hơn tỷ lệ vốn góp của nhà nước nên cần có cơ chế đảm bảo quyền lợi cho họ thay vì ràng buộc họ theo những quy định áp đặt đối với nhà nước. Việc thu hẹp phạm vi sẽ tạo tính chủ động hơn cho doanh nghiệp, hài hoà lợi ích giữa nhà nước với các nhà đầu tư khác, đảm bảo đúng tinh thần của Luật doanh nghiệp về quyền quyết định, quyền biểu quyết giữa các thành viên góp vốn. Đồng thời, điều này cũng giảm thiểu sự ràng buộc, trì trệ phải phụ thuộc vào nhà nước, hạn chế được những rủi ro pháp lý cho những người điều hành quản lý doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Phóng viên: Để tránh sự chồng chéo trong quá trình áp dụng pháp luật, đảm bảo tính thực thi và hiệu quả của Luật Dầu khí vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV, nên chăng trong Luật Đấu thầu phải có quy định về việc áp dụng Luật Dầu khí đối với vấn đề liên quan đến hoạt động dầu khí và đã được quy định trong Luật Dầu khí?

Luật sư Trương Anh Tú: Liên quan đến vấn đề tránh chồng chéo trong quá trình áp dụng pháp luật, đảm bảo sự thống nhất giữa Luật Đấu thầu và Luật Dầu khí trong lĩnh vực Dầu khí thì có nhiều phương án như: dự thảo luật đầu thầu thiết kế các quy định phù hợp, thống nhất với Luật Dầu khí hoặc trong dự thảo có thể dẫn chiếu đến các quy định của luật khác có liên quan.

Xin cảm ơn Luật sư!

Thu hẹp đối tượng áp dụng để đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Đắk Nông) cho biết, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định “DNNN là NN nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã mở rộng đối tượng, theo đó DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Do đó, việc quy định phạm vi điều chỉnh đối với dự án đầu tư của DNNN như Tờ trình của Chính phủ là đã mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Luật Đấu thầu hiện tại.

Nếu mở rộng đối với gói thầu thuộc dự án đầu tư của doanh nghiệp có trên 50% vốn thuộc sở hữu của DNNN sẽ là mở rộng phạm vi điều chỉnh nhiều so với luật hiện hành và như vậy, thì không bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, quyền lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 7 của Luật Doanh nghiệp.

Đại biểu Phan Đức Hiếu (Đoàn Thái Bình) cho rằng, lợi ích nhà nước cần được bảo vệ, nhưng cũng phải cân bằng với sự linh hoạt của hoạt động sản xuất, kinh doanh và phù hợp thực tiễn.

Xét về mặt lợi ích cần bảo vệ thì trong rất nhiều trường hợp, khi công ty con có sở hữu trên 50% vốn của DNNN thì lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các nhà đầu tư tư nhân khác là khá tương đương nhau. Bản thân các nhà đầu tư tư nhân cũng sẽ có những cơ chế bảo vệ lợi ích phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, thậm chí trong một số trường hợp, cơ chế bảo vệ lợi ích của họ tốt không kém hoặc là tốt hơn, đại biểu nhận xét.

Ngoài ra, đại biểu đánh giá, hiện nay ở nhiều DNNN nắm một phần vốn điều lệ cũng đã thiết kế những quy trình, thủ tục đấu thầu phù hợp, vừa đảm bảo sự nhanh nhạy kịp thời, vừa bảo đảm tốt nhất lợi ích của các cổ đông và của chính doanh nghiệp, không nhất thiết phải áp dụng một quy trình cứng nhắc mà theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp và cổ đông.

Do đó, đại biểu cho rằng không nên mở rộng áp dụng Luật Đấu thầu với đối tượng là công ty con có trên 50% vốn của DNNN.

Huy Tùng

Giao ban CEO tháng 5 – 2023: Giảm thiểu tác động từ các yếu tố bất lợi, đặc biệt là giá dầu, Petrovietnam hoàn thành vượt mức kế hoạch 4 tháng đầu năm 2023

Các điểm cầu trực tuyến

Trong tháng 4, mặc dù chịu tác động lớn do giá các sản phẩm dầu khí đều suy giảm mạnh, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) tiếp tục duy trì ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, đạt kết quả tích cực hơn so với tháng 3, qua đó hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sản lượng và tài chính trong 4 tháng đầu năm 2023.

Thông tin được Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng cho biết trong cuộc họp giao ban điều hành SXKD thường kỳ tháng 5/2023 với lãnh đạo các đơn vị thành viên Tập đoàn ngày 8/5.

Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm, bức tranh kinh tế vĩ mô thế giới cho thấy có nhiều khó khăn, thách thức: lạm phát tiếp tục ở mức cao, tăng trưởng giảm, gia tăng nguy cơ suy thoái hệ thống tài chính, cầu tiêu dùng sụt giảm,… Chỉ số PMI toàn cầu tháng 4 tiếp tục nằm ở ngưỡng dưới 50 điểm, giữ mức 49,6 điểm. Các thị trường xuất khẩu lớn của nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, EU, ASEAN đều gặp khó khăn. Trong tháng 4 chỉ có Mỹ tăng về chỉ số PMI, còn lại Trung Quốc, EU đều giảm mạnh,… Trong nước, kinh tế tiếp tục gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng các chỉ số kinh tế vĩ mô đều thấp so với cùng kỳ. Cùng với tác động bất lợi của tình hình thế giới và trong nước, yếu tố suy giảm giá dầu khí tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Petrovietnam. Mặc dù OPEC+ tuyên bố cắt giảm thêm sản lượng dầu khoảng 1,16 triệu thùng/ngày từ tháng 5 nâng tổng sản lượng cắt giảm của OPEC+ sẽ lên tới 3,66 triệu thùng/ngày, tương đương 3,7% nhu cầu toàn cầu, nhưng giá dầu không tăng mà có xu hướng giảm từ cuối tháng 4 khi nỗi lo suy thoái tiếp tục hiện hữu tại các nền kinh tế lớn, lạm phát tiếp tục gia tăng, lãi suất có nguy cơ tiếp tục được các ngân hàng trung ương điều chỉnh tăng. Giá dầu thô xuất bán của Petrovietnam trung bình trong tháng 4 giảm hơn 17,1 USD/thùng so với cùng kỳ, tương đương mức giảm gần 16%; giá khí đốt tự nhiên trên thị trường tiếp tục duy trì mức thấp trong bối cảnh dư cung và nhu cầu yếu; dù giá điện được điều chỉnh tăng 3% nhưng không đáng kể so với đà tăng giá nguyên liệu đầu vào; giá phân bón ở mức thấp, đặc biệt là phân đơn, nhu cầu tiêu thụ yếu.

Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên người lao động Dầu khí tại NMNĐ Thái Bình 2

Trong bối cảnh đó, Petrovietnam đã quyết liệt triển khai các giải pháp để giảm thiểu thiệt hại từ các yếu tố bất lợi, đặc biệt là yếu tố giá, tận dụng các cơ hội để gia tăng doanh thu, lợi nhuận. Nhờ đó, tháng 4 hoạt động SXKD của Petrovietnam tương đối ổn định, khả quan hơn so với tháng 3.

Cụ thể, về sản lượng, khai thác dầu, khai thác khí trong tháng 4 tiếp tục đạt kết quả tích cực hơn so với những tháng đầu năm 2023. Trong đó, khai thác dầu thô trong nước tháng 4/2023 đạt tương đương với mức thực hiện cùng kỳ 2022; khai thác dầu ở nước ngoài đạt tiệm cận mức thực hiện cùng kỳ năm 2022. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tiếp tục duy trì công suất cao (đạt từ 106-114% công suất thiết kế) góp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng, ổn định thị trường xăng dầu của cả nước. Tính chung 4 tháng, tất cả các chỉ tiêu sản xuất chính của Tập đoàn đều hoàn thành vượt mức kế hoạch: Khai thác dầu thô vượt 15,3%; khai thác khí vượt 20,3%; sản xuất đạm vượt 12,8%; sản xuất xăng dầu vượt 13%; sản xuất điện vượt 4,6% so với kế hoạch 4 tháng.

Các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam trong 4 tháng đầu năm cũng vượt cao so với kế hoạch và tích cực hơn so với đà suy giảm của giá dầu. Trong đó, Tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 262,2 nghìn tỷ đồng vượt 21% kế hoạch; Nộp NSNN toàn Tập đoàn (không bao gồm NSRP) ước đạt 36,6 nghìn tỷ đồng, vượt 16% kế hoạch; Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 18,2 nghìn tỷ đồng, vượt 77% kế hoạch, bằng 52% kế hoạch năm 2023.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng lãnh đạo Quốc hội, các Bộ, ngành, tỉnh Thái Bình, Petrovietnam cắt băng khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Đặc biệt, ngày 27/4/2023, Petrovietnam đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2. Sau khi hoàn thành đưa vào vận hành, hàng năm Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 sẽ cung cấp khoảng 7- 7,2 tỷ kWh lên lưới điện quốc gia; đưa tổng công suất các nhà máy điện đã vận hành của toàn Tập đoàn đạt 6.605 MW, chiếm khoảng 8,5% tổng công suất lắp đặt của cả nước.

Một trong những điểm sáng trong 4 tháng đầu năm của Petrovietnam là các đơn vị trong lĩnh vực dịch vụ của Tập đoàn có hoạt động SXKD tăng trưởng ổn định và dự báo tiếp tục duy trì kết quả khả quan trong những tháng tiếp theo của năm 2023.

Tại buổi giao ban, các đơn vị đã báo cáo về tình hình hoạt động SXKD 4 tháng đầu năm, kế hoạch tháng 5 và những tháng tiếp theo của năm 2023 cùng các đề xuất, kiến nghị. Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng và các Phó Tổng giám đốc phụ trách các lĩnh vực hoạt động, các Ban/đơn vị liên quan đã thảo luận, đưa ra các giải pháp, nhiệm vụ cho từng đơn vị/lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ hoàn thành bảo dưỡng tổng thể đảm bảo an toàn, chất lượng, tiến độ đề ra

Phát biểu chỉ đạo, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh 3 nhiệm vụ trọng tâm cần thúc đẩy trong tháng 5 và các tháng tiếp theo của năm 2023 gồm: Tiếp tục đảm bảo các điều kiện, giải pháp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ duy trì sản lượng khai thác; Đảm bảo an toàn, ổn định, khả dụng cao của các nhà máy điện, tận dụng cơ hội thị trường khi nguồn cung ứng điện đang rất căng thẳng để gia tăng hiệu quả SXKD, đồng thời cung cấp điện tối đa phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; Tập trung thúc đẩy công tác đầu tư xây dựng, giải quyết các thủ tục đầu tư, đặc biệt chú trọng các dự án trọng điểm như Chuỗi dự án khí Lô B, Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 &4;…

Kết luận buổi làm việc, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đánh giá cao kết quả đạt được trong 4 tháng đầu năm của toàn Tập đoàn với sự nỗ lực cố gắng rất lớn của toàn hệ thống trong điều kiện, môi trường kinh doanh hết sức khó khăn.

Khu cảng thi công của PTSC

Xác định tiếp tục kiên định mục tiêu duy trì ổn định, tăng trưởng đưa ra từ đầu năm, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô khó khăn, tiềm tàng suy thoái kinh tế, tài chính, biến động giá dầu và các sản phẩm dầu khí theo hướng bất lợi, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đã chỉ đạo các nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị/lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn. Đồng thời, Tổng Giám đốc đề nghị tập trung một số giải pháp chung như: Thúc đẩy hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan (Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi), Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 124/2017/NĐ-CP về đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực Dầu khí, Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí); Khắc phục tình trạng suy giảm sản lượng ở các lĩnh vực sản xuất; Khắc phục suy giảm doanh thu ở các đơn vị, lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu toàn Tập đoàn; Thúc đẩy đánh giá nguồn lực dịch vụ, xây dựng sản phẩm, dịch vụ chủ lực; Tiếp tục đẩy mạnh công tác quản trị danh mục/dự án đầu tư, chương trình nghiên cứu khoa học dài hạn, xây dựng cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số,… cố gắng nỗ lực trong các tháng còn lại để hoàn thành mục tiêu quản trị đề ra của Tập đoàn.

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất

Chúng ta “được người, được của, được việc, được tổ chức, được lòng dân”

Ngày 27/4, tại xã Mỹ Lộc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) long trọng tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2. Đồng chí Phạm Minh Chính – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ tới dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ.

Cùng dự có Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định và Lãnh đạo các Bộ ngành Trung ương; Lãnh đạo tỉnh Thái Bình, huyện Thái Thụy và đông đảo nhân dân xã Mỹ Lộc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong vùng Dự án; đại diện các đối tác: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (TKV);

Về phía Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng; các đồng chí Thành viên HĐTV, Ban Tổng Giám đốc, các đồng chí nguyên lãnh đạo Tập đoàn và lãnh đạo các Ban chuyên môn, Ban QLDA Điện lực Dầu khí Thái Bình 2, Tổng thầu PETROCONs, đại diện các nhà thầu, tư vấn quản lý dự án cùng CBCNV Ban Quản lý dự án Điện lực Dầu khí Thái Bình 2 và CBCNV vận hành Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Lễ khánh thành NMNĐ Thái Bình 2.

Với quy mô tổng diện tích 131,74 ha, dự án có công suất 1.200 MW – là Dự án có quy mô công suất lớn tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Đây là Dự án nguồn điện cấp bách thuộc Tổng sơ đồ điện VII và Tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh. Sau khi hoàn thành đưa vào vận hành, hàng năm nhà máy Thái Bình 2 sẽ cung cấp khoảng 7,2 tỷ kWh lên lưới điện quốc gia, với doanh thu khoảng 18.000 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách nhà nước khoảng trên 400 tỷ đồng/năm, sử dụng trực tiếp và gián tiếp trên 400 lao động tại địa phương, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia và phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng Bắc Bộ nói chung, tỉnh Thái Bình nói riêng. Dự án sử dụng công nghệ Lò than phun đốt trực tiếp, tuần hoàn tự nhiên với thông số cận tới hạn và các chỉ tiêu cao về hiệu suất, độ ổn định, an toàn, đáp ứng tốt các điều kiện phát thải theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế; thân thiện, bảo vệ môi trường do áp dụng các công nghệ giảm phát thải NOx, lọc bụi, khử SOx, xử lý nước thải hiện đại.

Đến nay, 02 tổ máy đã hoàn thành quá trình chạy thử nghiệm thu và đã phát điện, cung cấp cho Hệ thống điện Quốc gia trên 1 tỷ kWh.

Dự án đã trải qua nhiều giai đoạn biến động, đặc biệt là có thời điểm như Dự án đã phải “đóng băng” do các vụ việc diễn ra trong quá khứ, dẫn đến vướng mắc liên quan đến cơ sở pháp lý và nguồn vốn triển khai Dự án, đại dịch Covid-19… Nhưng vượt lên tất cả, trên mảnh đất Thái Bình – nơi được mệnh danh là “cái nôi” của ngành Dầu khí, bằng khát vọng và quyết tâm của Người đi tìm lửa, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tập thể cán bộ, công nhân viên (CBCNV) Petrovietnam đã miệt mài không quản ngày đêm, dốc hết sức lực, vượt qua khó khăn; tất cả cho sự hồi sinh, hoàn thành và đảm bảo chất lượng công trình đối với dự án trọng điểm quốc gia –Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng báo kết quả triển khai dự án NMNĐ Thái Bình 2.

Hiện nay tổng công suất các nhà máy điện đã vận hành của Petrovietnam là hơn 6.600 MW, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, chiếm khoảng 8,5% tổng công suất lắp đặt của cả nước. Kết quả này khẳng định vững chắc vai trò và vị thế của Petrovietnam với tư cách là nhà sản xuất điện lớn thứ 2 tại Việt Nam.

Phát biểu tại lễ Khánh thành, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng cho biết: “Do nhiều nguyên nhân, việc triển khai Dự án bị chậm, kéo dài nhiều năm, đặc biệt, có thời điểm bị “đóng băng” do vướng mắc liên quan đến pháp lý và nguồn vốn. Những khó khăn chồng chất, như máy móc thiết bị đã lắp đặt quá lâu có thể bị hư hỏng; ngân sách của dự án được lập nhiều năm trước, biến động giá cũng như phải bảo dưỡng thay thế các hạng mục dẫn đến rất khó kiểm soát, nguy cơ thiếu hụt lớn; năng lực của nhà thầu chính PETROCONs qua nhiều sự cố là rất hạn chế, thua lỗ lớn; niềm tin của các đối tác, nhà thầu và người dân địa phương đối với dự án rất thấp, tâm lý của người lao động sau các sự cố pháp lý rất lo lắng, nhiều nhân sự chủ chốt, có năng lực đã rời khỏi dự án…

Trước bối cảnh khó khăn đặc biệt nêu trên, với ý nghĩa và tầm quan trọng của dự án, các cấp lãnh đạo Trung ương, Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, Ban ngành Trung ương, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và tỉnh Thái Bình đã quan tâm, chỉ đạo xuyên suốt với tinh thần khắc phục khó khăn để khôi phục dự án. Đặc biệt, từ tháng 7/2021 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo trực tiếp, quyết liệt, sát sao, đồng thời thường xuyên động viên, chia sẻ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc với mục tiêu “hồi sinh” Dự án, sớm đưa vào vận hành, tránh lãng phí nguồn lực, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thái Bình nói riêng và khu vực Bắc Bộ nói chung”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Thủ tướng thăm hỏi, động viên người lao động dầu khí tại NMNĐ Thái Bình 2

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng chia sẻ, những chỉ đạo quyết liệt và sự động viên, chia sẻ kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ban ngành Trung ương là cơ sở, định hướng và đã giải phóng về tâm lý, tạo động lực, quyết tâm và “áp lực” cho Tập đoàn, Ban Quản lý dự án, Tổng thầu có niềm tin, nỗ lực phấn đấu vượt qua các khó khăn, thách thức, từng bước khôi phục Dự án.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo đó, Tập đoàn đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quan trọng, đặc thù, đột phá, tập trung vào 5 nhóm lớn. Trước hết là công tác quản trị dự án và tổ chức nhân sự, xác định rõ mục tiêu, kế hoạch khôi phục dự án, thống nhất tất cả các lực lượng tham gia dự án với tinh thần Một đội ngũ, một mục tiêu, lựa chọn, điều động/bổ nhiệm cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, bản lĩnh giữ vai trò lãnh đạo Ban Quản lý dự án và Tổng thầu, giao trách nhiệm rõ ràng, phân cấp triệt để cho người đứng đầu Ban Quản lý dự án và Tổng thầu; kiện toàn hệ thống quản lý, kiểm soát an toàn, chất lượng toàn diện; rà soát, thống nhất, điều chỉnh các quan hệ pháp lý và tổ hợp các hạng mục tối ưu, chặt chẽ hiệu quả theo quy định.

Về kỹ thuật: rà soát đánh giá kỹ lưỡng tình trạng máy móc, thiết bị có phương án bảo dưỡng, mua sắm và xử lý đồng bộ; Trên cơ sở đó lập lại đường găng tiến độ làm cơ sở theo dõi, quản lý, giám sát từng mốc quan trọng của Dự án;

Về chi phí: Triển khai rà soát chặt chẽ, tối ưu, xây dựng phương án kiểm soát bảo đảm cân đối đủ nguồn, dòng tiền trên cơ sở không vượt tổng mức đầu tư;

Về nguồn lực hỗ trợ: Huy động các chuyên gia có tay nghề, trình độ cao trong ngành hỗ trợ về bảo trì, bảo dưỡng, chạy thử; hỗ trợ kịp thời vật tư dự phòng từ các đơn vị; huy động nguồn tài chính từ phúc lợi của Tập đoàn để động viên, khen thưởng, tổ chức phát động thi đua về đích các mốc quan trọng của dự án để tạo không khí phấn khởi, tin tưởng cho người lao động và các nhà thầu trên công trường.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Trưởng Ban QLDA Điện lực Dầu khí Thái Bình 2 Phạm Xuân Trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về công tác vận hành NMNĐ Thái Bình 2

Với phương châm “Một đội ngũ, một mục tiêu” cùng những giải pháp đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, phù hợp, được tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ; với nhiệt huyết của Người dầu khí và sự nỗ lực phấn đấu, ngày đêm lao động quên mình của đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, công nhân Ban Quản lý Dự án, các đơn vị trong Tập đoàn, các Nhà thầu, Dự án đã vượt qua nhiều khó khăn trở ngại, pháp lý, tâm lý, dịch bệnh Covid-19, thậm chí cả sự nghi ngờ trong ngoài, hoàn thành khối lượng công việc đồ sộ với chi phí không vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt.

Tổ máy 1 đã hoàn thành công tác chạy thử, nghiệm thu vào ngày 05/02/2023; Tổ máy 2 đã hoàn thành công tác chạy thử, nghiệm thu vào ngày 14/4/2023. Trong giai đoạn chạy thử nghiệm thu, các tổ máy đã phát điện lên lưới điện quốc gia hơn 1 tỷ kWh, dự kiến thu về khoảng hơn 1.000 tỷ VNĐ.

Dự án cũng đã được Hội đồng kiểm tra Nhà nước đánh giá rất cao trong mỗi đợt kiểm tra. Kết quả đo đạc thực tế các thông số đảm bảo về công suất phát điện, suất hao nhiệt tinh, điện tự dùng, hiệu suất, nồng độ NOx, SOx đều đã đạt và tốt hơn so với yêu cầu của hợp đồng EPC đã ký, đây là những bằng chứng thuyết phục nhất để khẳng định chất lượng của công trình.

Có thể nói Dự án NMNĐ Thái Bình 2 hoàn thành đi vào hoạt động đã đáp ứng mục tiêu, kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân tỉnh Thái Bình về bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế – xã hội; nâng tổng công suất các nhà máy điện vận hành của Petrovietnam lên hơn 6.600 MW, chiếm khoảng 8,5% công suất lắp đặt cả nước, tiếp tục khẳng định vai trò và vị thế của Petrovietnam là nhà sản xuất điện lớn thứ 2 tại Việt Nam. Đồng thời, qua đó đã giúp cho Tập đoàn tích lũy thêm bài học kinh nghiệm, củng cố năng lực, thực hiện thành công các dự án khó khăn, phức tạp hơn, góp phần xây dựng và phát triển Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vững mạnh hơn!

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Thủ tướng Phạm Minh Chính tăng quà khen thưởng các tập thể xuất sắc vận hành NMNĐ Thái Bình 2.

Tại lễ khánh thành, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tặng quà động viên cho 05 tập thể có thành tích xuất sắc; Bí thư Tỉnh ủy Ngô Đông Hải và Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình Nguyễn Khắc Thận cũng trao tặng bằng khen của tỉnh cho 09 tập thể; Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng và Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng cũng trao bằng khen của Tập đoàn cho 10 tập thể và 02 cá nhân.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Thủ tướng Chính phủ trao đổi, động viên với chuyên gia nước ngoài tham gia vào quá trình vận hành chạy thử NMNĐ Thái Bình 2

Phát biểu chỉ đạo tại lễ khánh thành, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng trong không khí phấn khởi cả nước chào mừng các ngày lễ (Giỗ Tổ Hùng Vương, 48 năm Ngày giải phóng miền Nam 30/4 và Ngày quốc tế Lao động 1/5, Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5) được về tham dự sự kiện quan trọng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, thời gian qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là vướng mắc về mặt pháp lý, nhưng Petrovietnam và các đơn vị đã vận dụng sáng tạo, nỗ lực không mệt mỏi, hồi sinh nhà máy sau quyết tâm của Chính phủ, các bộ, ngành. Đặc biệt, đây cũng rơi vào lúc bùng phát đại dịch Covid-19 cao điểm nhất của Việt Nam cũng như trên thế giới, từ đó cho thấy sự quyết tâm rất cao vượt qua thách thức, hồi sinh nhà máy theo đúng tiến độ, yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Niềm vui nhân lên, đến ngày hôm nay, mọi công việc đều đã được hoàn thành.

Thủ tướng khẳng định, sự kiện khánh thành NMNĐ Thái Bình 2 mang nhiều ý nghĩa to lớn, đó là: góp phần công nghiệp hoá, điện khí hoá nông thôn ở tỉnh Thái Bình; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia nói chung, cho khu vực Đồng bằng sông Hồng và tỉnh Thái Bình nói riêng; thực hiện kinh tế tuần hoàn; góp phần tạo công ăn việc làm, sinh kế cho người dân trong quá trình xây dựng cũng như vận hành nhà máy hiện nay; góp phần thu ngân sách quan trọng cho địa phương; đặc biệt đánh dấu sự trưởng thành của Petrovietnam, các nhà thầu; sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh Thái Bình; khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong phát triển năng lượng, hợp “Ý Đảng, lòng dân”.

Thủ tướng nhấn mạnh, việc khánh thành Dự án hôm nay thể hiện thành quả của biết bao ngày đêm không mệt mỏi, vượt mọi khó khăn của hàng nghìn cán bộ công nhân viên, người lao động trên công trường, sự lãnh đạo, chị đạo kịp thời của các cấp, các ngành; sự quyết liệt trong tổ chức thực hiện của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, của Tổng thầu và các nhà thầu cũng như sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân tỉnh thái Bình.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tặng bằng khen cho 9 tập thể và 2 cá nhân xuất sắc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng cảm ơn đồng bào, nhân dân nhường đất ở, canh tác lâu đời cho dự án; mong chính quyền địa phương các cấp tỉnh Thái Bình tiếp tục quan tâm, chăm lo nhân dân trong vùng dự án di dời đến nơi ở mới có cuộc sống bằng hoặc hơn nơi ở cũ. Thủ tướng nhấn mạnh, nhờ quyết tâm thực hiện công trình, chúng ta đã “được người, được của, được việc, được tổ chức, được lòng dân”; đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân lên trên hết; công tác nghiên cứu đầu tư kỹ lưỡng, tôn trọng thực tiễn khách quan, không đội vốn, kéo dài, lãng phí nguồn lực, không mất cán bộ; tăng cường giám sát, kiểm tra ngay từ khâu chuẩn bị, phê duyệt, thi công, nghiệm thu, thanh quyết toán; mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm trong điều kiện vướng mắc về pháp lý, thi công trong hoàn cảnh đại dịch Covid-19, phải tiết kiệm nguồn vốn…

Điều quan trọng là chúng ta thống nhất, vận dụng sáng tạo để hoàn thành dự án, nhờ đó không phải sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, của Tập đoàn, ngược lại, lại tiết kiệm hơn 200 tỷ đồng. Theo Thủ tướng, rõ ràng, ý nghĩa ở đây là sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vận dụng hiệu quả, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về pháp lý để không phải sử dụng vốn nhà nước, tiết kiệm vốn đã được phê duyệt. Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao. Chúng ta cũng thực sự phân cấp mạnh mẽ, tách bạch quản lý nhà nước với quản lý vốn, giao nhiệm vụ này trực tiếp cho Petrovietnam. Chúng ta đã thực hiện phân cấp nhưng có cơ cấu huy động nguồn lực, khi gặp khó khăn không bi quan, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, cố gắng nhiều, quyết liệt tổ chức thực hiện; đề cao trách nhiệm cá nhân, cụ thể là lãnh đạo Tập đoàn; có sự nỗ lực hồi sinh dự án của cán bộ, công nhân viên chức không quản khó khăn, ngày đêm thi công trong điều kiện dịch Covid-19; biến nguy thành cơ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; thực hiện chống dịch an toàn, hoàn thành đúng tiến độ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Lãnh đạo tỉnh Thái Bình tặng bằng khen ch 9 tập thể xuất sắc triển khai hoàn thành NMNĐ Thái Bình 2.

Thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu Petrovietnam cần rà soát lại toàn bộ công việc của nhà máy theo đúng tiêu chuẩn, quy trình, tiêu chí của một nhà máy hiện đại theo quy định của pháp luật, bảo đảm vận hành an toàn, môi trường cho nhà máy và người dân xung quanh; vận hành an toàn nhưng phải bảo đảm công suất đáp ứng yêu cầu về an ninh năng lượng; tổ chức vận hành quản trị nhà máy theo tiêu chuẩn tiên tiến, áp dụng chuyển đổi số, tiết giảm chi phí, cải cách thủ tục hành chính, giảm giá thành. Theo Thủ tướng, đối với điện có 5 yếu tố quan trọng là nguồn điện, truyền tải điện, phân phối điện phù hợp vùng miền, sử dụng điện tiết kiệm điện hiệu quả; bảo đảm giá điện phù hợp, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương, Petrovietnam cũng phải phối hợp chặt chẽ, vận hành nhà máy an toàn, không để xảy ra sự cố; phải bình tĩnh phối hợp chặt chẽ khi có sự cố để xử lý nhanh, kịp thời và hiệu quả. Thủ tướng yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn cho nhà máy, người dân; tiếp tục tạo công ăn việc làm, sinh kế cho người dân; chăm lo, quan tâm người dân đã nhường đất cho dự án. Tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo thực hiện nghi thức cắt băng khánh thành NMNĐ Thái Bình 2.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng phát biểu tại buổi lễ

Thay mặt lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng tiếp thu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời cam kết thực hiện đầy đủ các ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng và chân thành cảm ơn những tình cảm nồng ấm, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thủ tướng đối với mọi hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Chủ tịch HĐTV Petrovietnam khẳng định, sự quan tâm của Thủ tướng là niềm động viên, khích lệ to lớn để tập thể Lãnh đạo, người lao động Dầu khí vượt qua những khó khăn hoàn thành tốt các nhiệm vụ, đặc biệt trong công tác đầu tư các dự án quan trọng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao như: Thái Bình 2, Dự án Long Phú 1, chuỗi dự án Khí – Điện Lô B, cũng như Dự án Điện khí Nhơn Trạch 3&4…

Đồng chí Hoàng Quốc Vượng bày tỏ lòng biết ơn của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tới sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của các Bộ/Ban/Ngành Trung ương, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tập đoàn EVN, TKV cùng các đối tác; đặc biệt là chính quyền và nhân dân tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện, đồng hành cùng Tập đoàn trong suốt thời gian vừa qua đưa dự án về đích, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh, “NMNĐ Thái Bình 2 đã được đưa vào vận hành tin cậy, cung cấp điện ổn định, đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước góp phần không nhỏ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Trên tinh thần phát huy những kết quả đạt được, tôi đề nghị tập thể đội ngũ cán bộ, công nhân viên Nhà máy luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, vận hành và bảo dưỡng, sửa chữa để Nhà máy phát điện an toàn ổn định hiệu quả, đồng thời không ngừng trao đổi, học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công tác quản lý, vận hành Nhà máy”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khánh thành NMNĐ Thái Bình 2

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tỉnh Thái Bình và Petrovietnam cắt băng khánh thành NMNĐ Thái Bình 2.

Với việc hoàn thành Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, trong thời gian tới, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cam kết vận hành nhà máy an toàn, ổn định và hiệu quả, đồng thời phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong việc huy động tối ưu sản lượng điện sản xuất của nhà máy và phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác đảm bảo an ninh, an toàn, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, đảm bảo môi trường cho người dân trong vùng dự án.

Nhóm phóng viên

VR 360