Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Tính thuế phân bón thế nào để giảm gánh nặng cho nông dân?

NTNN, 13/4

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản khó khăn do dịch Covid-19, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hiện nay do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) theo quy định tại Luật 71/2014/QH13 nên các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế VAT, dịch vụ mua vào, kể cả thuế VAT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón. Thay vào đó, toàn bộ chi phí này phải tính vào chi phí sản xuất, vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Tác động đối với nông dân

Quy định phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT gây ra bất cập cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong việc cạnh tranh với phân bón nhập khẩu do phải tăng giá bán hoặc giảm lợi nhuận, làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới, dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không “mặn mà” đầu tư sản xuất các loại phân bón thế hệ mới, với các tính năng ưu việt như phân bón tan chậm, thân thiện với môi trường…

Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng, gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu. Phân bón nhập khẩu, đặc biệt là phân bón nhập từ Trung Quốc một mặt không phải chịu thuế VAT 5%, một mặt được hưởng ưu đãi thuế suất xuất khẩu phân bón 0%, lại được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất, do vậy, có lợi thế cạnh tranh về giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng, làm gia tăng nhập siêu. Khi sản xuất phân bón sản xuất trong nước phải thu hẹp quy mô, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn là ví dụ cho thấy “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp.

Nên có thuế VAT, nhưng ở mức 0%

Chính sách thuế bất cập như vậy dẫn tới việc không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư. Từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu, ngành sản xuất phân bón Việt Nam càng ngày càng thụt lùi. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng. Đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau là tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng 0, nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng 0 đồng và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường. Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.

Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Do đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đồng ý kiến nghị nên xem xét áp dụng tạm thời trong giai đoạn khó khăn hiện nay cần đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%.

Kiến nghị tạm thời áp thuế giá trị gia tăng 0% với mặt hàng phân bón

ANTĐ, 13/4
Theo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), sau hơn 4 năm có hiệu lực, Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) và điều này đã làm nảy sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất tăng, năng lực cạnh tranh giảm
Vinachem vừa có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị sửa Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế. Theo Vinachem, chủ trương của Đảng, Nhà nước giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là đúng. Tuy nhiên, việc Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế VAT đã làm nảy sinh nhiều bất cập.
Cụ thể, do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT nên không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón. Kéo theo đó, chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên. Doanh nghiệp phải tính phần thuế VAT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc. Theo quy định, phân bón nhập khẩu khi không phải chịu thuế VAT giá bán giảm 5%.
Trong khi đó, theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất.
Các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón được hưởng lợi rất lớn từ chính sách này. Chính vì vậy, tháng 1-2015, lượng phân bón nhập khẩu vào Việt Nam tăng vọt, ure nhập khẩu tăng 77%, DAP nhập khẩu tăng 8,5 lần so với cùng kỳ năm 2014. Tồn kho của doanh nghiệp sản xuất trong nước lên cao nhất đến 23 lần.
“Do vậy phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán. Nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu, sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất. Đáng chú ý, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân”- Vinachem cho hay.
Theo Vinachem, quy định tại Luật số 71/2014/QH13 không chỉ tác động đến người nông dân mà còn làm gia tăng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nhưng theo quy định hiện hành, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, làm tăng giá trị tài sản cố định, bởi lẽ hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón đều phải chịu thuế VAT 10%.
Ước tính 4 năm qua, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định của Vinachem tăng nguyên giá tài sản là 110 tỷ đồng, đối với hai đơn vị sản xuất đạm thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định, tăng nguyên giá tài sản là 200 tỷ đồng.
Tương tự, đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón, so với trước khi áp dụng Luật số 71 cũng có nhiều bất lợi do sản phẩm phân bón không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, chi phí đầu vào.
Theo tính toán của Vinachem, toàn bộ số thuế VAT đầu vào cho sản xuất sản phẩm phân bón trong nước phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, làm giá thành sản phẩm tăng thêm 6-8% (tùy từng loại phân bón). Ước tính 4 năm qua, khoản thuế VAT đầu vào làm tăng chi phí sản xuất phân bón của các đơn vị sản sản xuất phân bón tăng. Năm 2018, riêng các đơn vị tại Vinachem tăng chi phí 767,7 tỷ đồng.
Kiến nghị áp thuế VAT 0% hoặc 5% với phân bón
Xuất phát từ thực tế nêu trên, Vinachem đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết tạm thời áp dụng đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%, áp dụng thực hiện cho đến khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật số 71/2014/QH13.
Lý giải về đề nghị này, Vinachem cho rằng, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng không (0), nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng không (0) đồng. Doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho Nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.
“Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế VAT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu”- đại diện Vinachem nêu quan điểm.
Trong công văn gửi Hiệp hội phân bón Việt Nam về vấn đề nêu trên, Vinachem cũng nhấn mạnh, với cả 2 trường hợp trên, Nhà nước không phải bỏ tiền hỗ trợ doanh nghiệp trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, mà chỉ là điều chỉnh chính sách để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước bình đẳng với phân bón nhập khẩu.

Tính thuế phân bón thế nào để giảm gánh nặng cho nông dân?

NTNN, 13/4

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản khó khăn do dịch Covid-19, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hiện nay do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) theo quy định tại Luật 71/2014/QH13 nên các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế VAT, dịch vụ mua vào, kể cả thuế VAT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón. Thay vào đó, toàn bộ chi phí này phải tính vào chi phí sản xuất, vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Tác động đối với nông dân

Quy định phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT gây ra bất cập cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong việc cạnh tranh với phân bón nhập khẩu do phải tăng giá bán hoặc giảm lợi nhuận, làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới, dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không “mặn mà” đầu tư sản xuất các loại phân bón thế hệ mới, với các tính năng ưu việt như phân bón tan chậm, thân thiện với môi trường…

Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng, gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu. Phân bón nhập khẩu, đặc biệt là phân bón nhập từ Trung Quốc một mặt không phải chịu thuế VAT 5%, một mặt được hưởng ưu đãi thuế suất xuất khẩu phân bón 0%, lại được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất, do vậy, có lợi thế cạnh tranh về giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng, làm gia tăng nhập siêu. Khi sản xuất phân bón sản xuất trong nước phải thu hẹp quy mô, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn là ví dụ cho thấy “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp.

Nên có thuế VAT, nhưng ở mức 0%

Chính sách thuế bất cập như vậy dẫn tới việc không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư. Từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu, ngành sản xuất phân bón Việt Nam càng ngày càng thụt lùi. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng. Đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.

Chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau là tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng 0, nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng 0 đồng và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường. Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.

Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế GTGT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

Do đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đồng ý kiến nghị nên xem xét áp dụng tạm thời trong giai đoạn khó khăn hiện nay cần đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%.

Kiến nghị tạm thời áp thuế giá trị gia tăng 0% với mặt hàng phân bón

ANTĐ, 13/4
Theo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), sau hơn 4 năm có hiệu lực, Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) và điều này đã làm nảy sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất tăng, năng lực cạnh tranh giảm
Vinachem vừa có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị sửa Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế. Theo Vinachem, chủ trương của Đảng, Nhà nước giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là đúng. Tuy nhiên, việc Luật thuế 71/2014/QH13 đưa mặt hàng phân bón vào diện đối tượng không chịu thuế VAT đã làm nảy sinh nhiều bất cập.
Cụ thể, do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế VAT nên không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón. Kéo theo đó, chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên. Doanh nghiệp phải tính phần thuế VAT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng gây bất lợi trong cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc. Theo quy định, phân bón nhập khẩu khi không phải chịu thuế VAT giá bán giảm 5%.
Trong khi đó, theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế VAT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất.
Các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón được hưởng lợi rất lớn từ chính sách này. Chính vì vậy, tháng 1-2015, lượng phân bón nhập khẩu vào Việt Nam tăng vọt, ure nhập khẩu tăng 77%, DAP nhập khẩu tăng 8,5 lần so với cùng kỳ năm 2014. Tồn kho của doanh nghiệp sản xuất trong nước lên cao nhất đến 23 lần.
“Do vậy phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán. Nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu, sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất. Đáng chú ý, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân”- Vinachem cho hay.
Theo Vinachem, quy định tại Luật số 71/2014/QH13 không chỉ tác động đến người nông dân mà còn làm gia tăng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nhưng theo quy định hiện hành, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, làm tăng giá trị tài sản cố định, bởi lẽ hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón đều phải chịu thuế VAT 10%.
Ước tính 4 năm qua, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định của Vinachem tăng nguyên giá tài sản là 110 tỷ đồng, đối với hai đơn vị sản xuất đạm thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thuế VAT tính vào giá trị tài sản cố định, tăng nguyên giá tài sản là 200 tỷ đồng.
Tương tự, đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón, so với trước khi áp dụng Luật số 71 cũng có nhiều bất lợi do sản phẩm phân bón không được khấu trừ thuế VAT của nguyên vật liệu, chi phí đầu vào.
Theo tính toán của Vinachem, toàn bộ số thuế VAT đầu vào cho sản xuất sản phẩm phân bón trong nước phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, làm giá thành sản phẩm tăng thêm 6-8% (tùy từng loại phân bón). Ước tính 4 năm qua, khoản thuế VAT đầu vào làm tăng chi phí sản xuất phân bón của các đơn vị sản sản xuất phân bón tăng. Năm 2018, riêng các đơn vị tại Vinachem tăng chi phí 767,7 tỷ đồng.
Kiến nghị áp thuế VAT 0% hoặc 5% với phân bón
Xuất phát từ thực tế nêu trên, Vinachem đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết tạm thời áp dụng đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất là 0%, áp dụng thực hiện cho đến khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật số 71/2014/QH13.
Lý giải về đề nghị này, Vinachem cho rằng, việc đưa mặt hàng phân bón thuộc diện chịu thuế VAT là phù hợp với pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế về bảo hộ mậu dịch, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước và nông dân.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%, các sản phẩm phân bón được bán với giá trước thuế cộng với thuế VAT bằng không (0), nghĩa là số tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho nhà nước bằng không (0) đồng. Doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào, sẽ làm giảm giá thành sản xuất phân bón và có cơ hội giảm giá phân bón trên thị trường.
Trong trường hợp đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với mức thuế suất 5%, là tiền thuế VAT đầu ra doanh nghiệp nộp cho Nhà nước và doanh nghiệp vẫn được hoàn thuế VAT đầu vào.
“Cả hai trường hợp trên thì cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu chịu mức thuế suất thuế VAT như nhau, tạo bình đẳng giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu”- đại diện Vinachem nêu quan điểm.
Trong công văn gửi Hiệp hội phân bón Việt Nam về vấn đề nêu trên, Vinachem cũng nhấn mạnh, với cả 2 trường hợp trên, Nhà nước không phải bỏ tiền hỗ trợ doanh nghiệp trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, mà chỉ là điều chỉnh chính sách để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước bình đẳng với phân bón nhập khẩu.

Cần sớm đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT

Petrotimes.vn| 10.4

Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây để doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

 “Tác động ngược” của chính sách thuế

Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước nhằm mục tiêu chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động. Chủ trương của Đảng, Nhà nước là giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý. Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây: Do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nên hệ quả là không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Toàn cảnh máy Đạm Phú Mỹ

Theo tính toán của Trung ương Hiệp hội Phân bón, khi doanh nghiệp mua thiết bị hàng hóa, nguyên vật liệu (điện, than, khí) và các dịch vụ khác để sản xuất phân bón sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí giá thành sản xuất, làm giá thành phân bón tăng lên, giảm sức cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Nông dân sẽ phải mua phân bón giá cao hơn, vì phải chịu cộng thuế GTGT đầu vào. Cụ thể, khi thực hiện Luật 71/2014/QH13 thì giá thành phân đạm tăng 7,2%- 7,6%; phân DAP tăng 7,3%- 7,8 %, phân supe lân tăng 6,5%- 6,8%; phân NPK và hữu cơ tăng từ 5,2%-6,1%… so với áp dụng thuế GTGT 5% đối với phân bón. Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tăng giá bán sản phẩm, do vậy người nông dân phải gánh chịu mà không được hưởng lợi từ quy định của Luật thuế 71/2014/QH13. Cụ thể, giá nguyên liệu sản xuất tăng cao lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời giá bán phân bón trong nước phải cạnh tranh với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp liên tục bị sụt giảm lợi nhuận. Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5% – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa. Trong khi đó, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông thì phần lớn có thuế nhập khẩu bằng 0% và đặc biệt hầu hết các nước này có chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp.Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%. Trong khi theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất. Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Có thể khẳng định, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu. Trong khi doanh nghiệp trong nước giảm lợi nhuận để kìm giá phân bón thì lượng phân bón nhập khẩu tăng dần từng năm, nguyên nhân là giá các mặt hàng phân bón trên thế giới đều giảm bởi giá nguyên liệu đang ở mức thấp, giá than, giá khí đều thấp, khiến giá phân bón nhập khẩu giảm trung bình 10-20%. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất phân bón trong nước không thấp, giá than, giá khí không giảm, cộng với phải chịu ảnh hưởng từ Luật 71/2014/QH13, nên nhiều nhà máy sản xuất phân bón phải cắt giảm công suất và giảm giá sản phẩm tối đa để cạnh tranh.

Không thể để ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”

Nhiều doanh nghiệp sản xuất phân bón cho rằng, việc áp dụng Luật 71/2014/QH13 khiến mỗi doanh nghiệp mỗi năm thiệt hại cả trăm tỉ đồng. Để sản xuất 800.000 tấn phân bón mỗi năm, nhà máy phải nhập khẩu nguồn khí, đầu tư thiết bị tốn kém hàng trăm tỉ đồng. Tuy nhiên, phân bón không chịu thuế GTGT nên thuế của các nguyên liệu, vật tư cho sản xuất, sửa chữa máy móc, thiết bị không được khấu trừ, khiến các doanh nghiệp buộc phải đưa vào chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm. Điều này không hề có lợi cho cả doanh nghiệp sản xuất phân bón lẫn người nông dân.

Xuất bán tại Nhà máy Đạm Cà Mau

Ngoài ra, việc loại bỏ thuế GTGT đối với phân bón còn làm giảm đóng góp thuế GTGT của doanh nghiệp sản xuất phân bón cho ngân sách Nhà nước. Trong khi chi phí doanh nghiệp tăng lên, nguồn thu ngân sách Nhà nước lại giảm đi. Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.Hiện nay, hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón (đặc biệt là máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu của các nhà bản quyền) đều chịu thuế GTGT 10%. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Từ khi có Luật số 71/2014/QH13, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, tăng giá trị tài sản cố định. Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, 02 đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón khi thực hiện mở rộng đầu tư đã bị ảnh hưởng bởi Luật 71 dẫn đến thuế GTGT đầu vào trong quyết định đầu tư không được khấu trừ, ghi tăng tài sản, cụ thể: Tại Tổng công ty Phân bón Hóa chất Dầu khí – (PVFCCo) Dự án NPK khoảng 180 tỷ. Tại Công ty cổ phần Phân bón Cà Mau (PVCFC) Dự án (NPK) khoảng 80 tỷ đồng không được khấu trừ phải ghi nhận tăng tổng giá trị đầu tư (thuế GTGT không được khấu trừ từ năm 2015 đến 2018 khoảng 25,33 tỷ đồng).

Chính sách thuế bất cập có nguy cơ đẩy ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”, ngược xu thế, từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu. Về dài hạn nếu không có sự thay đổi thì họ buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh sang lĩnh vực khác. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì lẽ đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng và đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Thực tế, từ tháng 8-2017, Bộ Tài chính từng đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và dự thảo Luật sau đó đã quy định thuế suất cho sản phẩm phân bón là 5%, nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua do còn một số vướng mắc. 

Chính vì vậy, để góp phần tháo gỡ khó khăn kịp thời và tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà sản xuất phân bón – trong đó có 2 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hơn lúc nào hết Nhà nước cần xem xét quyết định cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 0% (không phần trăm) cho sản phẩm phân bón cho đến khi Luật sửa đổi Luật 71/2014/QH13 có hiệu lực./.

T.T – N.P 

Cần sớm đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT

Petrotimes.vn| 10.4

Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây để doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

 “Tác động ngược” của chính sách thuế

Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước nhằm mục tiêu chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động. Chủ trương của Đảng, Nhà nước là giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý. Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây: Do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nên hệ quả là không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.

Toàn cảnh máy Đạm Phú Mỹ

Theo tính toán của Trung ương Hiệp hội Phân bón, khi doanh nghiệp mua thiết bị hàng hóa, nguyên vật liệu (điện, than, khí) và các dịch vụ khác để sản xuất phân bón sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí giá thành sản xuất, làm giá thành phân bón tăng lên, giảm sức cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Nông dân sẽ phải mua phân bón giá cao hơn, vì phải chịu cộng thuế GTGT đầu vào. Cụ thể, khi thực hiện Luật 71/2014/QH13 thì giá thành phân đạm tăng 7,2%- 7,6%; phân DAP tăng 7,3%- 7,8 %, phân supe lân tăng 6,5%- 6,8%; phân NPK và hữu cơ tăng từ 5,2%-6,1%… so với áp dụng thuế GTGT 5% đối với phân bón. Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tăng giá bán sản phẩm, do vậy người nông dân phải gánh chịu mà không được hưởng lợi từ quy định của Luật thuế 71/2014/QH13. Cụ thể, giá nguyên liệu sản xuất tăng cao lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời giá bán phân bón trong nước phải cạnh tranh với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp liên tục bị sụt giảm lợi nhuận. Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5% – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa. Trong khi đó, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông thì phần lớn có thuế nhập khẩu bằng 0% và đặc biệt hầu hết các nước này có chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp.Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%. Trong khi theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của các nước, thuế suất xuất khẩu phân bón là 0%, sản phẩm phân bón được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT cho nguyên vật liệu, dịch vụ sản xuất. Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Có thể khẳng định, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng trăm nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu. Trong khi doanh nghiệp trong nước giảm lợi nhuận để kìm giá phân bón thì lượng phân bón nhập khẩu tăng dần từng năm, nguyên nhân là giá các mặt hàng phân bón trên thế giới đều giảm bởi giá nguyên liệu đang ở mức thấp, giá than, giá khí đều thấp, khiến giá phân bón nhập khẩu giảm trung bình 10-20%. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất phân bón trong nước không thấp, giá than, giá khí không giảm, cộng với phải chịu ảnh hưởng từ Luật 71/2014/QH13, nên nhiều nhà máy sản xuất phân bón phải cắt giảm công suất và giảm giá sản phẩm tối đa để cạnh tranh.

Không thể để ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”

Nhiều doanh nghiệp sản xuất phân bón cho rằng, việc áp dụng Luật 71/2014/QH13 khiến mỗi doanh nghiệp mỗi năm thiệt hại cả trăm tỉ đồng. Để sản xuất 800.000 tấn phân bón mỗi năm, nhà máy phải nhập khẩu nguồn khí, đầu tư thiết bị tốn kém hàng trăm tỉ đồng. Tuy nhiên, phân bón không chịu thuế GTGT nên thuế của các nguyên liệu, vật tư cho sản xuất, sửa chữa máy móc, thiết bị không được khấu trừ, khiến các doanh nghiệp buộc phải đưa vào chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm. Điều này không hề có lợi cho cả doanh nghiệp sản xuất phân bón lẫn người nông dân.

Xuất bán tại Nhà máy Đạm Cà Mau

Ngoài ra, việc loại bỏ thuế GTGT đối với phân bón còn làm giảm đóng góp thuế GTGT của doanh nghiệp sản xuất phân bón cho ngân sách Nhà nước. Trong khi chi phí doanh nghiệp tăng lên, nguồn thu ngân sách Nhà nước lại giảm đi. Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.Hiện nay, hầu hết máy móc thiết bị cho sản xuất phân bón (đặc biệt là máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu của các nhà bản quyền) đều chịu thuế GTGT 10%. Trước khi có Luật số 71/2014/QH13, thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất phân bón được khấu trừ hoặc hoàn lại trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Từ khi có Luật số 71/2014/QH13, số thuế này phải tính vào tổng mức đầu tư, tăng giá trị tài sản cố định. Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, 02 đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón khi thực hiện mở rộng đầu tư đã bị ảnh hưởng bởi Luật 71 dẫn đến thuế GTGT đầu vào trong quyết định đầu tư không được khấu trừ, ghi tăng tài sản, cụ thể: Tại Tổng công ty Phân bón Hóa chất Dầu khí – (PVFCCo) Dự án NPK khoảng 180 tỷ. Tại Công ty cổ phần Phân bón Cà Mau (PVCFC) Dự án (NPK) khoảng 80 tỷ đồng không được khấu trừ phải ghi nhận tăng tổng giá trị đầu tư (thuế GTGT không được khấu trừ từ năm 2015 đến 2018 khoảng 25,33 tỷ đồng).

Chính sách thuế bất cập có nguy cơ đẩy ngành sản xuất phân bón Việt Nam “đi thụt lùi”, ngược xu thế, từ những doanh nghiệp sản xuất phân bón có công nghệ hiện đại dần dần thành các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phân bón lạc hậu. Về dài hạn nếu không có sự thay đổi thì họ buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh sang lĩnh vực khác. Cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp và môi trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì lẽ đầu vào là các loại phân bón có chất lượng thấp, chắc chắn nông sản đầu ra và môi trường sẽ bị ảnh hưởng và đây chính là nguy cơ rất lớn cho ngành nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Thực tế, từ tháng 8-2017, Bộ Tài chính từng đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và dự thảo Luật sau đó đã quy định thuế suất cho sản phẩm phân bón là 5%, nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua do còn một số vướng mắc. 

Chính vì vậy, để góp phần tháo gỡ khó khăn kịp thời và tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà sản xuất phân bón – trong đó có 2 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hơn lúc nào hết Nhà nước cần xem xét quyết định cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 0% (không phần trăm) cho sản phẩm phân bón cho đến khi Luật sửa đổi Luật 71/2014/QH13 có hiệu lực./.

T.T – N.P 

Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích

Đó là phương châm chỉ đạo hoạt động trong tháng 4 và quý II/2020 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng quán triệt tại cuộc họp giao ban ngày 8/4/2020, nhằm đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tháng 3 và quý I/2020, triển khai nhiệm vụ tháng 4 năm 2020; cùng dự có các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các Ban chuyên môn Tập đoàn, Tổng giám đốc/Giám đốc các đơn vị thành viên, Chi nhánh của Tập đoàn. Buổi giao ban được trực tuyến tại 10 điểm cầu trong cả nước.

Ban Tổng Giám đốc PVN tại buổi giao ban

Hội nghị đã nghe các báo cáo cụ thể về tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn và các đơn vị trong tháng 3 và quý I/2020, việc thực hiện nhiệm vụ được giao và kết quả giải quyết kiến nghị của đơn vị trong kỳ họp trước. Bên cạnh đó, lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo tóm tắt về việc triển khai các giải pháp ứng phó với tác động kép từ giá dầu giảm sâu và dịch bệnh Covid-19 tại từng đơn vị, định hướng triển khai thực hiện nhiệm vụ của các tháng tiếp theo.

Trong bối cảnh ngành Dầu khí phải chịu tác động kép từ giá dầu giảm sâu (kỷ lục trong gần 20 năm trở lại đây), cùng với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, PVN và các đơn vị đã tập trung triển khai gói giải pháp chung của Tập đoàn và gói giải pháp riêng cho từng lĩnh vực/từng khối đơn vị. 

Theo đó, toàn Tập đoàn đã quán triệt tinh thần bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động; từ đó tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị, tối ưu nguồn lực; triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động. Rà soát, cắt giảm chi phí nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân từ lãnh đạo đến người lao động. Các đơn vị trong Tập đoàn tích cực phối hợp với nhau để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội, nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I/2020. Hoạt động sản xuất tại các công trình dầu khí, nhà máy, dự án được đảm bảo an toàn, ổn định, không có trường hợp nào bị gián đoạn do dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn do giá dầu sụt giảm nghiêm trọng cùng sự ảnh hưởng của Covid-19, các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn tất yếu không đạt như kế hoạch.

Các đại biểu dự giao ban tại Hà Nội

Tại buổi giao ban, lãnh đạo Tập đoàn và Tổng giám đốc các đơn vị đã cùng trao đổi, đề xuất các phương án giải quyết, tháo gỡ các khó khăn còn tồn tại, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao những tháng tiếp theo trong năm. Đặc biệt, tập trung vào các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí, xây dựng các phương án tối ưu các nguồn lực nhằm đảm bảo duy trì hoạt động trong bối cảnh giá dầu giảm sâu như hiện nay.

Sau khi nghe các báo cáo, trao đổi, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng đánh giá cao các kết quả mà Tập đoàn và các đơn vị đã đạt được trong tháng 3 và quý I/2020; đồng thời ghi nhận nỗ lực của tập thể người lao động PVN trong bối cảnh cả Tập đoàn đang ở giai đoạn khó khăn nhất lịch sử.

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi giao ban

Trong thời gian tới, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện một số nhóm nhiệm vụ cụ thể trong tháng 4 và quý II/2020 với phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”.

Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh tháng 4 tới là tháng có nhiều biến động do hệ quả của đại dịch Covid-19, sự suy thoái kinh tế dẫn đến nhu cầu của thị trường giảm sẽ kéo theo biến động giá cả nên PVN cần tập trung quản trị biến động, đề ra các giải pháp cụ thể trong thời điểm này. Đồng thời, tiếp tục tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực (cắt giảm chỗ chưa cần thiết, ngược lại tăng chi cho nhiệm vụ cấp bách), để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh được hiệu quả.

Đối với các đơn vị sản xuất, trong bối cảnh nhu cầu thị trường đang thấp, hàng hóa tồn kho lớn nên các đơn vị phải tạo liên kết, thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhanh để vượt khó. 
Bên cạnh đó, bối cảnh hiện tại cũng nảy sinh các cơ hội, nên cần nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tiếp tục rà soát, thay đổi, sáng tạo, thường xuyên cập nhật thông tin để có giải pháp quản trị, điều hành kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị cần tiếp tục tăng cường phối hợp, chia sẻ khó khăn với nhau, tăng cường dự báo, nhận diện diễn biến thị trường, để từ đó giảm thiểu các tác động xấu. Trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến khó lường, PVN cùng các đơn vị cần tập trung phòng vệ, chống lây lan dịch bệnh Covid-19, nhằm đảm bảo môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu về đích các chỉ tiêu nhiệm vụ một cách an toàn.

Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích

Đó là phương châm chỉ đạo hoạt động trong tháng 4 và quý II/2020 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng quán triệt tại cuộc họp giao ban ngày 8/4/2020, nhằm đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tháng 3 và quý I/2020, triển khai nhiệm vụ tháng 4 năm 2020; cùng dự có các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng các Ban chuyên môn Tập đoàn, Tổng giám đốc/Giám đốc các đơn vị thành viên, Chi nhánh của Tập đoàn. Buổi giao ban được trực tuyến tại 10 điểm cầu trong cả nước.

Ban Tổng Giám đốc PVN tại buổi giao ban

Hội nghị đã nghe các báo cáo cụ thể về tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn và các đơn vị trong tháng 3 và quý I/2020, việc thực hiện nhiệm vụ được giao và kết quả giải quyết kiến nghị của đơn vị trong kỳ họp trước. Bên cạnh đó, lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo tóm tắt về việc triển khai các giải pháp ứng phó với tác động kép từ giá dầu giảm sâu và dịch bệnh Covid-19 tại từng đơn vị, định hướng triển khai thực hiện nhiệm vụ của các tháng tiếp theo.

Trong bối cảnh ngành Dầu khí phải chịu tác động kép từ giá dầu giảm sâu (kỷ lục trong gần 20 năm trở lại đây), cùng với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, PVN và các đơn vị đã tập trung triển khai gói giải pháp chung của Tập đoàn và gói giải pháp riêng cho từng lĩnh vực/từng khối đơn vị. 

Theo đó, toàn Tập đoàn đã quán triệt tinh thần bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động; từ đó tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị, tối ưu nguồn lực; triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động. Rà soát, cắt giảm chi phí nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân từ lãnh đạo đến người lao động. Các đơn vị trong Tập đoàn tích cực phối hợp với nhau để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội, nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I/2020. Hoạt động sản xuất tại các công trình dầu khí, nhà máy, dự án được đảm bảo an toàn, ổn định, không có trường hợp nào bị gián đoạn do dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn do giá dầu sụt giảm nghiêm trọng cùng sự ảnh hưởng của Covid-19, các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn tất yếu không đạt như kế hoạch.

Các đại biểu dự giao ban tại Hà Nội

Tại buổi giao ban, lãnh đạo Tập đoàn và Tổng giám đốc các đơn vị đã cùng trao đổi, đề xuất các phương án giải quyết, tháo gỡ các khó khăn còn tồn tại, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao những tháng tiếp theo trong năm. Đặc biệt, tập trung vào các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí, xây dựng các phương án tối ưu các nguồn lực nhằm đảm bảo duy trì hoạt động trong bối cảnh giá dầu giảm sâu như hiện nay.

Sau khi nghe các báo cáo, trao đổi, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng đánh giá cao các kết quả mà Tập đoàn và các đơn vị đã đạt được trong tháng 3 và quý I/2020; đồng thời ghi nhận nỗ lực của tập thể người lao động PVN trong bối cảnh cả Tập đoàn đang ở giai đoạn khó khăn nhất lịch sử.

Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi giao ban

Trong thời gian tới, Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện một số nhóm nhiệm vụ cụ thể trong tháng 4 và quý II/2020 với phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”.

Tổng giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh tháng 4 tới là tháng có nhiều biến động do hệ quả của đại dịch Covid-19, sự suy thoái kinh tế dẫn đến nhu cầu của thị trường giảm sẽ kéo theo biến động giá cả nên PVN cần tập trung quản trị biến động, đề ra các giải pháp cụ thể trong thời điểm này. Đồng thời, tiếp tục tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực (cắt giảm chỗ chưa cần thiết, ngược lại tăng chi cho nhiệm vụ cấp bách), để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh được hiệu quả.

Đối với các đơn vị sản xuất, trong bối cảnh nhu cầu thị trường đang thấp, hàng hóa tồn kho lớn nên các đơn vị phải tạo liên kết, thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhanh để vượt khó. 
Bên cạnh đó, bối cảnh hiện tại cũng nảy sinh các cơ hội, nên cần nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tiếp tục rà soát, thay đổi, sáng tạo, thường xuyên cập nhật thông tin để có giải pháp quản trị, điều hành kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị cần tiếp tục tăng cường phối hợp, chia sẻ khó khăn với nhau, tăng cường dự báo, nhận diện diễn biến thị trường, để từ đó giảm thiểu các tác động xấu. Trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến khó lường, PVN cùng các đơn vị cần tập trung phòng vệ, chống lây lan dịch bệnh Covid-19, nhằm đảm bảo môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu về đích các chỉ tiêu nhiệm vụ một cách an toàn.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tự tin đương đầu với “khủng khoảng kép”

Lần thứ 2 trong gần 5 năm qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) phải đối phó với “khủng hoảng kép” và niềm tin chiến thắng lại bùng cháy.

2015-2018: Giá dầu lao dốc, la liệt giàn khoan nằm phơi nắng

Lần trước, từ giữa năm 2015 đến cuối năm 2018, giá dầu thế giới lao dốc đã đẩy cả thị trường khai thác dầu trên toàn cầu vào khủng hoảng và dĩ nhiên, PVN cũng không tránh khỏi. Hàng loạt dự án phải dừng, giãn tiến độ. Nhiều đơn vị ở khâu thượng nguồn đang từ đỉnh cao rơi xuống vực thẳm.

Cả tập đoàn khủng hoảng vì giá dầu. Nhưng nguy hiểm hơn là khủng hoảng về niềm tin. Hàng loạt cán bộ cao cấp của tập đoàn và các đơn vị thành viên vướng lao lý, khiến cho lòng tự hào, niềm tin và ý chí của người ngành dầu khí suy sụp nghiêm trọng.

Trong bối cảnh khủng hoảng kép ấy, PVN điêu đứng. Thêm vào sản lượng sụt giảm, kinh phí dành cho tìm kiếm, thăm dò cũng hạn chế hơn nên lượng dự trữ phát hiện mới rất thấp. Trong nghề khai thác dầu khí, muốn phát triển an toàn thì trữ lượng dầu dự trữ phải gấp 3 lần dầu khai thác được.

Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng đó cũng là cơ hội để tập đoàn nhìn lại mình, để thấy rõ vô số điểm yếu, những khuyết tật trong cả hệ thống. Và trong gần ba năm, từ đầu 2017 đến đầu năm 2019, PVN tiến hành cuộc “dọn dẹp” ít có trong lịch sử ngành.

Chiến dịch “Tái cơ cấu” được bắt đầu từ chính cơ quan công ty mẹ tập đoàn rồi đến từng đơn vị… Nhiều phòng ban phải sáp nhập, nhiều cán bộ phải xuống chức. Vậy mà không xảy ra kiện tụng, không xảy ra những cuộc tranh quyền cướp chức. Mọi người đều cơ bản đồng thuận với những  quyết sách của lãnh đạo tập đoàn và đều thấu hiểu: “Phải cải tổ. Cải tổ để phát triển”.

Giàn PVD 11 trên sa mạc Sahara

Những phong trào cải tiến quản lý sản xuất, cải tiến khoa học kỹ thuật được phát động tới từng người lao động và thực sự đã trở thành phong trào rất có chiều sâu. Nếu tính đúng, tính đủ thì hàng năm, các đơn vị của tập đoàn đã tiết kiệm được hàng trăm triệu USD. Loại sáng kiến giúp tiết kiệm được vài trăm ngàn USD nhiều không đếm xuể.

Một số đơn vị từng lâm vào cảnh “dở sống dở chết” đã vươn được ra nước ngoài bằng những cuộc cạnh tranh sòng phẳng và ” đại thắng” như PV Drilling. Đến nay, tất cả các giàn khoan và cả giàn tiếp trợ PVD V đã có được những hợp đồng dài hạn ở nước ngoài, trở thành  doanh nghiệp danh tiếng ở châu Á.

Hoặc như Công ty Chế tạo cơ khí Hàng hải ( PTSC M&C) của Tổng Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí ( PTSC) trở thành nhà chế tạo giàn khoan và các cụm cơ khí công trình biển có tiếng trên thế giới, được nhiều tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới tin tưởng giao chế tạo và lắp đặt giàn khai thác bằng hình thức chỉ định thầu.

Thành quả  PVN làm được trong những năm từ 2017 đến hết năm 2018 là rất tích cực. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự bứt phát ngoạn mục vào năm 2019, đó là hoàn thành vượt mức kế hoạch tất cả các chỉ tiêu về sản suất, kinh doanh. Một mình PVN nộp Ngân sách Nhà nước bằng tất cả các tập đoàn, doanh nghiệp, ngân hàng Nhà nước khác công lại.

Tự tin chiến thắng “giặc Covid-19″

Những tưởng năm 2020, tập đoàn sẽ lại ” chiến thắng” như năm 2019, thì lại phải bất ngờ chiến đấu với “giặc Covid-19”. Và khi việc chống giặc còn đang quyết liệt thì một đòn chí tử giáng xuống là giá dầu đột ngột giảm tới quá nửa…Có lúc giảm xuống thấp nhất trong hơn 10 năm qua.

Do ảnh hưởng của “giặc Covid-19”, mức tiêu thụ xăng dầu giảm mạnh. Lọc hóa Dầu Bình Sơn tồn đọng hàng trăm ngàn tấn xăng máy bay; thậm chí xăng xe máy, ô tô tiêu thụ còn rất chậm. Đạm Cà Mau, Đạm Phú Mỹ điêu đứng bởi miền Tây Nam Bộ hạn hạn quá nặng. Vietsovpetro, Tổng Công ty Thăm dò khai thác dầu khí ( PVEP) là những đơn vị khai thác lập tức lâm vào cảnh “làm cũng chết mà không làm cũng chết” bởi giá dầu giảm?

Nhưng lần này, PVN đã chủ động “đánh giặc” với sự bình tĩnh, tự tin và cũng rất linh hoạt.

Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã và đang chủ động, tích cực, khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ứng phó, với mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động ngành Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TV về thực hiện phòng chống, khống chế dịch bệnh Covid-19 và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách ứng phó trong tình hình giá dầu sụt giảm. Chủ động các phương án hành động để phối hợp cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể để triển khai thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ, trang bị đầy đủ thiết bị cần thiết để phòng chống dịch và thực hiện các giải pháp đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ quan Tập đoàn.

Giàn tự nâng PVD VI về đến Vũng Tàu

Từ ngày 1/4/2020, các đơn vị thành viên đã áp dụng chế độ làm việc đặc biệt nhằm ứng phó với diễn biến khó lường của dịch bệnh Covid-19. Phần lớn Các cán bộ, nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà. Một số đơn vị có đặc thù riêng như Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) đã lên các kịch bản và giải pháp ứng phó để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Để ứng phó, hiện nay công tác đổi ca được thực hiện ngay tại nước sở tại. Cán bộ nhân viên trên giàn tạm thời sẽ không về nước khi hết ca, và sẽ tuân thủ các quy định về an toàn tại nước sở tại như thực hiện tự cách ly cho đến ca làm việc tiếp theo.

Lãnh đạo PVN luôn xác định mục tiêu cao nhất là bảo vệ người lao động. Hơn lúc nào hết, người lao động Dầu khí cần phát huy cao nhất tinh thần vượt khó, vươn lên, chung sức, chung lòng góp phần vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử của tập đoàn.

Thực tế đã chứng minh, càng trong khó khăn, gian nan thì ý chí, nghị lực, bản lĩnh của những người đi tìm lửa càng được phát huy và tỏa sáng. Mỗi người lao động Dầu khí sẽ luôn tận tâm, tận lực, tuyệt đối tuân thủ sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, của Lãnh đạo Tập đoàn và Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 các cấp; góp phần thiết thực, hiệu quả để vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử – ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam.

Kết thúc quý 1 năm 2020, tập thể lao động quốc tế Việt – Nga BIENDONG POC đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức đầu năm 2020 để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trọng tâm quý I: Đảm bảo SXKD tuyệt đối an toàn, liên tục, hiệu quả với chỉ số tổng tỉ lệ thương tật được ghi nhận (TRIR) là 0 và tuyệt đối không có sự cố nào gây mất thời gian lao động (LTI) cũng như ảnh hưởng đến môi trường. Hệ số làm việc của các giàn khai thác đạt 99,7%; sản lượng khí đạt 113% kế hoạch quý và 23% so với kế hoạch năm, sản lượng condensate đạt 142% kế hoạch quý và 33% kế hoạch năm.

Mục tiêu tổng quát của Công ty trong quý II tới là duy trì hoạt động sản xuất tuyệt đối an toàn, bảo vệ tốt nhất cho sức khoẻ và môi trường làm việc của người lao động, nhất là trong giai đoạn cao điểm của dịch bệnh.

Áp dụng công nghệ mới nâng cao năng lực quản trị, cải tiến quy trình nội bộ theo hướng hiệu quả hơn nữa. Cùng với đó, BIENDONG POC cũng sẽ đẩy mạnh hơn nữa các công tác tìm kiếm, thăm dò, mở rộng sản xuất để bù đắp sản lượng thiếu hụt trong thời gian tới.   

Theo VTCNews

Căng mình chống dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp: Nộp ngân sách Nhà nước toàn PVN trong quý I/2020 đạt 25,3% kế hoạch năm

05/04/2020

Với một loạt các giải pháp chủ động, đồng bộ, linh hoạt trong điều hành, sản xuất nhằm ứng phó hiệu quả tác động kép từ dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp, cộng với tinh thần đoàn kết, “đồng cam cộng khổ” của người lao động dầu khí, các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trong tháng 3 nói riêng và quý I/2020 nói chung đều vượt mức kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, hệ quả tất yếu là các chỉ tiêu tài chính của PVN đã không đạt được như kế hoạch đề ra.

Giàn Công nghệ trung tâm số 2 mỏ Bạch Hổ.

3 tháng đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới và trong đó, Việt Nam đang phải chịu những hệ lụy trực tiếp ở mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khi các chuỗi giá trị đang bị tác động nghiêm trọng vì sự gián đoạn cung cầu hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu. Trong bối cảnh đó, giá dầu thô trên thị trường thế giới sụt giảm nghiêm trọng tạo khủng hoảng kép cho ngành Dầu khí.

Trước tình hình đó, PVN cùng các đơn vị thành viên đã chủ động, tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó nhằm mục tiêu bảo vệ tốt nhất sức khỏe cho người lao động Dầu khí, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng, tác động của đại dịch và cú sốc giá dầu. Toàn thể cán bộ công nhân viên (CBCNV) lao động Tập đoàn đã và đang tích cực hưởng ứng, chung tay, góp sức cùng Tập đoàn vượt qua giai đoạn khó khăn, thử thách này. Cụ thể:

Tổ chức Đảng, lãnh đạo doanh nghiệp/đoàn thể các cấp trong toàn Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã thống nhất triển khai, động viên cả hệ thống chính trị thực hiện phòng, chống, khống chế dịch bệnh Covid-19 và thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cấp bách ứng phó trong tình hình giá dầu sụt giảm. Tổng giám đốc Tập đoàn đã liên tiếp ban hành và triển khai nhiều chỉ thị, kế hoạch về thực hiện nhiệm vụ, các giải pháp cấp bách nhằm ứng phó với tác động kép của dịch bệnh Covid-19 và giá dầu sụt giảm.

Thực hiện Lời kêu gọi của Tổng Bí thư – Chủ tịch nước và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn đã khẩn trương thực hiện phương án để cán bộ làm việc trực tuyến tại nhà và chỉ bố trí một bộ phận “tối giản” làm việc trực tiếp tại trụ sở. Phát huy tinh thần làm việc nâng cao năng suất lao động, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tránh lãng phí… đối với các CBNV trực tiếp sản xuất, làm việc tại trụ sở cũng như làm việc trực tuyến tại nhà.


Nhà máy Lọc dầu Dung Quất

Tập đoàn và các đơn vị quán triệt tập trung chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tăng cường quản trị chi phí tối ưu, triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động (ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường sáng kiến, sáng chế, giải pháp cải tiến kỹ thuật …). Rà soát, cắt giảm chi phí có trong kế hoạch nhưng chưa thực sự cần thiết, không đề xuất các khoản chi phí phát sinh (nếu không bắt buộc phải xử lý) nhằm mục tiêu tiết giảm đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân người lao động. Tích cực phối hợp với các đơn vị trong Tập đoàn, trong nước để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp.

Đặc biệt, PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin thị trường về cung cầu, biến động giá của dầu thô, sản phẩm dầu khí, từ đó xây dựng phương án, kịch bản tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội nâng cao hiệu quả trong hoạt động điều hành, giảm thiệt hại do tác động của thị trường.

Với những giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt trong toàn PVN, kết thúc quý I/2020, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch khai thác và sản xuất đề ra trong tháng 3 và quý I năm 2020, trong đó:

Tổng sản lượng khai thác quy dầu tháng 3 vượt 8,1% so với kế hoạch tháng, tính chung quý I vượt 10,1% so với kế hoạch quý I và bằng 26,6% kế hoạch năm.

Sản xuất điện tháng 3 đạt 2,097 tỷ kWh, vượt 3,8% kế hoạch tháng 3, tính chung quý I đạt 5,33 tỷ kWh, đạt 100% kế hoạch quý I và bằng 24,7% kế hoạch năm.

Sản xuất đạm tháng 3 đạt 136,9 nghìn tấn, tính chung quý I đạt 441,8 nghìn tấn, vượt 5,5% kế hoạch quý I và bằng 28,3% kế hoạch năm; sản xuất xăng dầu tháng 3 đạt 1,149 triệu tấn, vượt 1,7% kế hoạch tháng, tính chung quý I đạt 3,415 triệu tấn, vượt 2,5% kế hoạch quý I và bằng 28,9% kế hoạch cả năm.


Một góc Nhà máy điện Nhơn Trạch 1.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chịu tác động kép từ dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp, các chỉ tiêu tài chính của PVN đã không đạt được như kế hoạch. Theo PVN, giá dầu thô trung bình tháng 3/2020 giảm 20USD so với tháng 2/2020 (≈ giảm 33%); giá dầu trung bình quý I/2020 giảm 3,8USD/thùng (≈ giảm 6%) so với mức giá kế hoạch năm (60USD/thùng), giảm 9,1USD/thùng (≈ giảm 14%) so với mức giá trung bình quý I năm 2019 (65,3USD/thùng).

Chịu những tác động nặng nề đó, tổng doanh thu của toàn PVN tháng 3 đạt 49 ngàn tỷ đồng, bằng 80,8% kế hoạch tháng; tính chung quý I/2020 đạt 165 ngàn tỷ đồng, bằng 90,9% kế hoạch quý I và bằng 25,7% kế hoạch năm. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn tháng 3 đạt 6,5 ngàn tỷ đồng, bằng 90,6% kế hoạch tháng; tính chung quý I đạt 20,8 ngàn tỷ đồng, bằng 89,7% so với kế hoạch quý I và bằng 25,3% kế hoạch năm.

PVN đang trong giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử. Nhiều đơn vị trong Tập đoàn đang có nguy cơ mất cân đối, thậm chí là thua lỗ nếu như giá dầu không được cải thiện. Chuỗi giá trị của PVN cũng theo đó sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nhưng bên cạnh những khó khăn, thách thức đó, PVN cũng nhận rõ đây là cơ hội để Tập đoàn đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án đầu tư còn dang dở; mở rộng phạm vi và quy mô đầu tư, gia tăng dự trữ thông qua việc mua dầu thô, thậm chí là mua lại các mỏ khi giá dầu xuống thấp; tăng sở hữu tại các doanh nghiệp có tài sản tốt, hoạt động hiệu quả…

Với tinh thần đó, PVN đang quyết liệt chỉ đạo toàn Tập đoàn triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp về quản trị, đầu tư, tài chính, thị trường và cơ chế chính sách. Tuy nhiên, để những nhóm giải pháp này phát huy hiệu quả cao nhất, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững khi thị trường ấm lên, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế, PVN rất cần sự vào cuộc hỗ trợ của các Bộ, ngành trong việc tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc mà Tập đoàn đang phải đối diện; đồng thời tạo cơ chế cho PVN được chủ động trong việc sử dụng các nguồn lực của mình…

VR 360