Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Hiểu cho đúng về thị trường xăng dầu

Petrotimes, 23/4

Ngày 20/4 (rạng sáng 21/4 giờ Việt Nam) đã trở thành ngày lịch sử của ngành dầu mỏ thế giới, sau khi giá dầu thô WTI (dầu ngọt nhẹ Tây Texas, Mỹ) giao tháng 5 rơi xuống mức -37,63 USD/thùng, do chịu tác động của đại dịch Covid-19 khiến nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh, các công ty năng lượng hết chỗ chứa dầu.    

Sứ mệnh đảm bảo an ninh năng lượng

Từ sự kiện này, trở lại câu chuyện những ngày qua, khi đề xuất tạm ngưng nhập khẩu xăng dầu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được đưa ra nhằm hỗ trợ tiêu thụ xăng dầu trong nước thu hút nhiều ý kiến trái chiều.

Trong đó, những ý kiến phản đối cho rằng, nên theo quy luật thị trường, chỗ nào rẻ hơn thì doanh nghiệp mua hàng để tối ưu hoá hiệu quả kinh doanh và nhập khẩu rẻ sẽ kéo theo giá xăng dầu bán lẻ trong nước giảm, có lợi cho người tiêu dùng. Do đó, đứng ở góc độ người tiêu dùng thì không nên tạm ngừng nhập khẩu xăng dầu. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, giá dầu thế giới giảm mạnh là cơ hội thị trường, nên tranh thủ nhập khẩu càng nhiều càng tốt về để dùng dần,…

Thực tế, việc dự trữ, tận dụng cơ hội thị trường không phải là chưa từng được PVN nghĩ tới. Kịch bản mua dự trữ dầu thô, sản phẩm xăng dầu từ hai nhà máy lọc dầu trong nước, chờ thị trường ấm lại đã từng được PVN tính tới khi giá dầu ở ngưỡng 20 USD một thùng.

Tuy nhiên, biến động thị trường rất khó lường, việc dự trữ cần tính toán cẩn trọng về hiệu quả kinh tế và đặc biệt phải tính đến khả năng tồn chứa của các kho dự trữ đến đâu.

Câu chuyện kinh doanh ở thế giới và Việt Nam, tàng trữ xăng dầu không như những hàng hoá khác, không đơn thuần cứ thấy giá rẻ thì trữ lại hoặc nhập thêm về dự trữ đợi khi thị trường phục hồi thì đem ra sử dụng hoặc bán lại để thu lợi nhuận cao. Bởi để đầu tư kho chứa xăng dầu không phải là chuyện một sớm một chiều. Các kho chứa phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn nghiêm ngặt, công suất các kho chứa cũng có giới hạn phù hợp với nhu cầu xăng dầu trong nước trong điều kiện tiêu thụ bình thường, để đảm bảo hiệu quả kinh tế. Đó là lý do mà các doanh nghiệp dầu khí trên thế giới đã phải hạ giá thấp, thậm chí chấp nhận bán mức “giá âm” để đẩy hàng, giảm tồn kho xăng dầu vì chi phí thuê kho dự trữ, hay ngừng khai thác, đóng cửa/mở lại một giếng khoan dầu không dễ dàng và sẽ thiệt hại hơn nhiều lần việc bán dầu giá rẻ. Tất cả những điều đó, họ đã tính tới để làm sao có được kết quả kinh doanh tốt nhất.

Ngày 20/4, lần đầu tiên giá dầu thô thế giới rơi xuống mức âm (dưới 0 USD/thùng) và đây là mức giá thấp nhất trên Sàn giao dịch hàng hóa New York (NYMEX) từ năm 1983. Nguyên nhân là do sản xuất vượt giới hạn tồn trữ.

Trong tình hình đó, chúng ta có thể thấy rõ, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trên thế giới đã sụt giảm nghiêm trọng vì ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, cung vượt cầu, các doanh nghiệp đang tìm mọi cách để đẩy hàng, giảm tồn kho. Trong bối cảnh đó thì việc nhập khẩu xăng dầu của nước ta thời gian qua lại tăng, là một nghịch lý, tạo thêm sức ép cho tiêu thụ xăng dầu trong nước, đẩy các nhà máy lọc dầu trong nước vào tình trạng khó khăn hơn khi đối mặt với khủng hoảng kép.

Giá bán xăng dầu của Nhà máy lọc dầu Dung Quất được xây dựng trên nguyên tắc thị trường và cạnh tranh ngang bằng với hàng nhập khẩu từ khu vực được ưu đãi thuế nhập khẩu thấp nhất như giá bán xăng của Dung Quất được xây dựng tương đương với xăng nhập khẩu từ Hàn Quốc (có thuế nhập khẩu 10%), giá bán dầu DO của Dung Quất được xây dựng tương đương với dầu nhập khẩu từ khu vực ASEAN (có thuế nhập khẩu 0%). Thêm vào đó, việc tiêu thụ xăng dầu trong nước còn mang lại một số lợi thế như chi phí vận tải (cước phí, thời gian quay vòng tàu), hạn chế rủi ro biến động tỷ giá trong kỳ thanh toán, chi phí thuế VAT đối với hàng nội địa được trả sau 30 ngày cùng với tiền hàng,…

Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) – đơn vị quản lý và vận hành NMLD Dung Quất cho biết đã đưa ra nhiều kịch bản cho vận hành nhằm ứng phó với dịch Covid-19, trong đó có tính đến tạm dừng vận hành NMLD Dung Quất một thời gian.

Tuy nhiên, phải xét rằng, NMLD Dung Quất đang vận hành với khoảng 60% dầu thô trong nước và trong quý 1, BSR nộp ngân sách Nhà nước hơn 1.732 tỷ đồng. Vì một lý do nào đó mà nhà máy phải dừng hoạt động thì ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến an toàn cho các mỏ dầu Việt Nam. Chưa kể, việc duy trì khai thác dầu thô còn là vấn đề khẳng định chủ quyền an ninh biển đảo. Ngoài ra, các nhà máy lọc dầu trong nước có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định thị trường, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Thử nghĩ, nếu ta chỉ đi nhập khẩu mà không tự chủ được nhu cầu năng lượng, khi thị trường thế giới biến động hoặc vì một lý do nào đó mà các quốc gia xuất khẩu tạo sức ép nguồn cung, tăng giá đột biến, thì nguy cơ chúng ta phải mua xăng dầu giá cao gấp nhiều lần là hoàn toàn có thể.

Không ảnh hưởng lợi ích người tiêu dùng

Ở khía cạnh người tiêu dùng, giá xăng dầu trong nước hiện đã giảm sâu và đang ở mức thấp. Xăng dầu là mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, được Nhà nước điều hành giá trên cơ sở Luật Giá và Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu. Quỹ bình ổn giá đóng vai trò như một chiếc van để đóng/mở giá xăng dầu trước những biến động trên thị trường thế giới. Với vai trò điều tiết của Nhà nước mà cụ thể là liên Bộ Công Thương – Tài Chính hiện nay, quyền lợi của người tiêu dùng luôn được bảo đảm cùng với vai trò ổn định kinh tế vĩ mô.

Do đó, việc tạm ngừng nhập khẩu xăng dầu và hỗ trợ tiêu thụ xăng dầu trong nước để giảm tồn kho là vấn đề rất cấp bách, không làm giảm đi hiệu quả tổng thể của các đơn vị sản xuất, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như người tiêu dùng.

Trong bối cảnh tiêu thụ giảm sút mạnh trên toàn cầu, khủng hoảng giá dầu ngày càng nặng nề, các quốc gia trên toàn thế giới như Nga, Indonesia, Trung Quốc,… đồng loạt thực hiện các biện pháp ngưng nhập khẩu xăng dầu, tăng bảo hộ, chống bán phá giá, nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp trong nước vượt qua suy thoái. Tổng thống Donald Trump ngày 21/4 tuyên bố rằng ông đã yêu cầu chính quyền lập kế hoạch viện trợ khẩn cấp cho ngành dầu khí đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi giá vàng đen giảm mạnh. Thiết nghĩ, với Việt Nam chúng ta, Chính phủ cần áp dụng những quyết sách thật sự mạnh mẽ và quyết liệt để có thể mang lại những lợi ích hài hòa cho đất nước trong giai đoạn khó khăn, thách thức hiện tại.

https://petrovietnam.petrotimes.vn/hieu-cho-dung-ve-thi-truong-xang-dau-569929.html

Giá dầu WTI âm; Tình huống cấp bách với PVN!

Petrotimes, 23/4

Theo GS.TSKH Hồ Sĩ Thoảng, nguyên Tổng giám đốc Tổng công ty Dầu khí (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – PVN) đánh giá, giá dầu thô dưới 0 USD đã đặt ra tình huống cấp bách với PVN; tuy nhiên, khó khăn hơn hết là không thể lường trước được sự việc sẽ diễn ra tiếp theo thế nào…  

Ngày 20/4 (rạng sáng 21/4 theo giờ Việt Nam), giá dầu thô WTI (Mỹ) giao tháng 5 rớt mức kỷ lục; lúc đầu, mức dầu WTI rơi xuống tận -40,32 USD/thùng rồi quay ngược lại mức -37,63 USD/thùng khi chốt phiên giao dịch. Đây là lần đầu tiên giá dầu thô thế giới rơi xuống mức âm, dưới 0 USD/thùng.

Trao đổi nhanh với PetroTimes, GS.TSKH Hồ Sĩ Thoảng đánh giá, sự việc giá dầu thô WTI xuống âm như vừa qua đã đặt ra tình huống vô cùng cấp bách đối với ngành dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

PVN đang đứng trước thách thức rất lớn là rõ ràng, nhưng vấn đề khó khăn hơn là không thể lường trước được sự việc sẽ diễn ra tiếp theo thế nào bởi không biết dịch bệnh trên thế giới đến bao giờ mới kết thúc. Trong khi xăng dầu chủ yếu phục vụ cho giao thông vận tải nên khi còn dịch bệnh, còn giãn cách xã hội thì nhu cầu sử dụng nhiên liệu còn giảm mạnh, dẫn đến lượng thừa dầu lớn.

Theo ông Thoảng, PVN cần cấp bách tìm ra phương án làm sao ít xấu nhất có thể. Trong đó, quan trọng nhất là vấn đề khai thác dầu ở các mỏ ra sao, hoạt động ở các nhà máy lọc dầu như thế nào trong tình hình này cho phù hợp. “Đây là một tình huống mà theo tôi thì rất khó có thể đưa ra giải pháp có thể đáp ứng nguyện vọng lúc này”, ông nói.

Tuy nhiên, ông Thoảng cho biết việc giá dầu WTI âm tác động đến giá xăng dầu thị trường trong nước như thế nào còn tùy thuộc vào nhu cầu. Đặc biệt là quyết sách của Chính phủ về vấn đề nhập khẩu xăng dầu ra sao.

Gần đây, PVN đã có kiến nghị về việc tạm ngưng nhập khẩu xăng dầu. “Đây là một đề xuất hợp lý trong tình hình hiện nay” – GS.TSKH Hồ Sĩ Thoảng nhận định. Theo ông, trong giai đoạn bất thường, khó khăn hiện tại thì nên ưu tiên tận dụng những sản phẩm xăng dầu từ các nhà máy lọc dầu trong nước, nhất là khi xăng dầu đang bị tồn đọng rất lớn không biết bán đi đâu như hiện nay.

Ông Thoảng cũng nêu quan điểm rằng, Chính phủ cần áp dụng những biện pháp “thời chiến”, có những quyết sách thật sự mạnh mẽ và quyết liệt để có thể mang lại những lợi ích hài hòa cho đất nước trong giai đoạn khó khăn, thách thức hiện tại.

Trong quý I năm 2020, tổng sản lượng xăng dầu của Dung Quất và Nghi Sơn vào khoảng 3 triệu tấn, đáp ứng gần 100% nhu cầu xăng dầu nội địa.

Kiến nghị bổ sung mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

TTXVN, 23/4

Bộ Tài chính đã nghiên cứu kiến nghị của doanh nghiệp và đưa vào nội dung sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng; trong đó, có nội dung chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế sang đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%.

Nhân viên Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật kiểm tra sản phẩm phân bón tại kho hàng

của Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Hữu Hảo, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN

Ngày 23/4, trả lời phóng viên TTXVN về kiến nghị của các doanh nghiệp phân bón xem xét đưa mặt hàng này vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng đến mức 5%, ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ chính sách Thuế (Bộ Tài chính) cho biết, tại khoản 3a Điều 5 của Luật Thuế giá trị gia tăng, quy định phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón, Bộ Tài chính đã nghiên cứu kiến nghị của doanh nghiệp và đưa vào nội dung sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng; trong đó, có nội dung chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế sang đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%. Nội dung dự án Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi đã được Bộ Tài chính báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Theo ông Phạm Đình Thi, Thủ tướng Chính phủ đã xem xét vấn đề này và đề nghị Bộ Tài chính chuẩn bị các nội dung sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng để trình Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, muốn sửa đổi luật phải được đưa vào Chương trình xây dựng luật của Quốc hội, nhưng hiện nay, dự án Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi chưa được đưa vào chương trình họp Quốc hội kỳ này.

Hiện nay, do mặt hàng phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả thuế giá trị gia tăng của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón.

Vì vậy, theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất phân bón tại Việt Nam đang hạch toán toàn bộ chi phí này vào chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5 – 8%.

Đại diện Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC – Đạm Cà Mau) cho biết, mỗi năm Đạm Cà Mau không được khấu trừ gần 350 tỷ đồng tiền thuế, buộc phải đưa vào giá bán.

Tổng Công ty Phân bón và Hoá chất Dầu khí (PVFCCo) do không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng 300-370 tỷ đồng/năm, nên tổng tiền thuế không được khấu trừ mà phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh từ năm 2015-2019 của doanh nghiệp này 1.637 tỷ đồng.

Trong khi đó, với chi phí nguyên liệu sản xuất phân bón rất thấp lại được hưởng lợi thế về thuế nhập khẩu bằng 0% và những cam kết trong hiệp định thương mại tự do, phân bón nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines, Nga và Trung Đông đang “đổ bộ” vào Việt Nam, tạo ra cạnh tranh khốc liệt cho sản phẩm phân bón Việt Nam.

Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam Phùng Hà cho rằng, quy định thuế giá trị gia tăng với phân bón vô hình chung đang khiến sản phẩm phân bón Việt Nam giảm sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu cùng loại do doanh nghiệp sản xuất phải tăng giá bán hoặc giảm lợi nhuận, làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới.

Trước đó, cuối năm 2019, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã có kiến nghị gửi tới các bộ, ngành và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc xem xét đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng đến mức 5%.

Trong hoàn cảnh nền nông nghiệp và nông dân cả nước đang lâm vào khó khăn do dịch bệnh COVID-19, biến đổi khí hậu, hạn mặn… kéo dài như hiện nay, doanh nghiệp phân bón bày tỏ mong sớm được xem xét, sửa đổi những bất cập trong chính sách thuế giá trị gia tăng với sản xuất phân bón.

PVN thông tin về một số vấn đề liên quan đến hiện tượng giá dầu giảm sâu

Petrotimes, 22/4

Ngày 21/4, trước câu hỏi của báo giới liên quan đến việc giá dầu ngọt nhẹ của Mỹ (WTI) giảm sâu, lần đầu tiên trong lịch sử xuống mức âm, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã có một số thông tin trao đổi về việc này.

1. Trong phiên giao dịch ngày 20/4, giá dầu ngọt nhẹ của Mỹ giảm xuống dưới 0 USD/thùng lần đầu tiên trong lịch sử và chốt phiên ở mức âm 37,63 USD/thùng. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nhận định như thế nào về giá dầu và cung cầu trên thị trường trong ngắn hạn và trung hạn?

Ý kiến của PVN:

Giá dầu ngọt nhẹ của Mỹ (WTI) hợp đồng kỳ hạn giao tháng 5/2020 trên sàn giao dịch NYMEX (New York, Mỹ) ngày 20/4, chốt ở mức -37,63 USD/thùng. Mức giá thấp này chưa từng có trong lịch sử. Lý do vì:

Ngày 21/4 là ngày chốt hợp đồng kỳ hạn giao tháng 5/2020. Vào ngày này, người mua hợp đồng này phải đưa ra quyết định có nhận lô dầu này hay không. Nếu nhận thì họ phải đóng hợp đồng và sẽ nhận lô dầu vật chất. Tuy nhiên, với tình trạng nhu cầu dầu thô sụt giảm mạnh trên thế giới do dịch Covid 19 hiện nay, dầu thô vẫn được sản xuất trong khi các kho chưa đầy và thuê kho để chứa là không thể hoặc với chi phí rất cao. Do vậy, một số người sở hữu hợp đồng này đã quyết định “bán tháo” với mọi giá tại 2 giây cuối cùng của phiên giao dịch và giá khớp tại 2 giây cuối cùng này được coi là giá chốt phiên. Thực chất giá (-) 37,63 USD/thùng là mức giá được giao dịch giữa các trader trên sàn giao dịch chứ không phải là giá giao dịch giữa nhà sản xuất dầu thô và người sử dụng cuối cùng (Nhà máy lọc dầu). Số lượng dầu giao dịch ở mức (-) 37,63 USD/thùng này rất thấp, ghi nhận khối lượng khoảng 600 ngàn thùng.

Trong phiên giao dịch hôm qua, giá dầu trên các sàn giao dịch cho tháng 5/2020 có giảm nhiều nhưng giá dầu Mỹ ngọt nhẹ giao tháng 6 trên sàn giao dịch NYMEX vẫn duy trì ở mức khoảng 20 USD/thùng và giá dầu Brent trên sàn giao dịch ICE (London) vẫn ở mức 25,6 USD/thùng.

Do vậy việc giảm giá WTI mang tính cục bộ tại Mỹ (do sức chứa và cung cầu) có ảnh hưởng mạnh tới tâm lý trên thị trường. Tuy nhiên, yếu tố này sẽ chỉ ảnh hưởng trong ngắn hạn. Theo dự báo của các hãng dự báo nổi tiếng (IHS, WM) và các nhà phân tích của Mỹ giá dầu thô giảm chỉ trong ngắn hạn và sẽ đi lên trong tháng 6 hoặc tháng 7/2020.

Trong ngắn hạn, nhu cầu thế giới giảm mạnh gần 30 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái trong khi đó thỏa thuận OPEC+ chỉ cắt giảm 9,7 triệu thùng/ngày trong tháng 5 và 6 và có hiệu lực từ đầu tháng 5 nên dự báo trong tháng 4 giá dầu có thể giảm chút ít, tháng 5 sẽ dừng giảm với dao động biên độ nhỏ.

Về trung hạn, cầu tăng dần từ sau tháng 5 khi các nước trên thế giới gỡ dần phong tỏa, đặc biệt các nước tiêu thụ dầu lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu kết hợp với cung giảm dần theo thỏa thuận OPEC+ và một số công ty khai thác Mỹ phá sản hoặc buộc phải giảm sản xuất vì giá bán thấp hơn chi phí khai thác sẽ làm cân bằng cung-cầu cải thiện và giá dầu sẽ tăng dần, dự kiến cuối năm 2020 khoảng 40 USD/thùng, cuối 2021 có thể đạt lại mức khoảng 60 USD/thùng.

Trong dài hạn, do giá dầu ở mức thấp trong thời gian dài, các công ty dầu khí đều cắt giảm đầu tư thăm dò và phát triển mỏ, dẫn đến nguồn cung giảm. Tuy nhiên, cả về trung và dài hạn, việc hồi phục thị trường phụ thuộc nhiều vào kết quả khống chế dịch Covid – 19 (tìm ra vaccine/thuốc chữa), giá dầu sẽ tăng khi nền kinh tế thế giới, đặc biệt các nước G20 phục hồi.

2. Giá dầu xuống mức âm như vậy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến doanh thu và hiệu quả hoạt động sản xuất của PVN và các đơn vị thành viên trong giai đoạn hiện nay và trong cả năm 2020?

Ý kiến của PVN:

Công thức giá bán dầu Việt Nam dựa trên trung bình giá tháng giao dầu của dầu Dated Brent do Platts định giá. Vì vậy, doanh thu của PVN cũng ảnh hưởng bởi dao động của giá dầu Brent do tâm lý chung của thị trường khi giá dầu WTI giảm sâu kỷ lục.

Theo định giá của Platts, giá dầu Dated Brent ngày 20/4/2020 là 19,1 USD/thùng, giảm 1 USD/thùng so với giá ngày 17/4. Trung bình từ đầu tháng 4, giá dầu Dated Brent ước đạt khoảng 20,5 USD/thùng.

Việc giảm giá dầu trong suốt thời gian từ đầu năm 2020 đến nay đã ảnh hưởng lớn đến doanh thu, hiệu quả của PVN và các đơn vị thành viên trong cả 5 lĩnh vực kinh doanh chính của PVN ở mức độ khác nhau.

Đối với lĩnh vực khai thác dầu khí, giá dầu cứ giảm 1 USD/thùng thì doanh thu sẽ giảm khoảng 2,2 nghìn tỷ đồng/năm. Với giá dầu ở mức 30 USD/thùng thì doanh thu sẽ giảm khoảng 55 nghìn tỷ đồng/năm (so với giá dầu kế hoạch là 60 USD/thùng). Hoạt động sản xuất và kinh doanh xăng dầu cũng chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh Covid-19 và giá dầu xuống thấp khi nhu cầu vận tải, lưu thông sụt giảm. Các NMLD bị lỗ do tồn trữ, chênh lệch giá sản phẩm thấp (có lúc giá xăng thấp hơn giá dầu), nguy cơ dừng hoạt động do tồn kho cao. Về lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí cũng gặp khó tương tự khi các chủ đầu tư, nhà thầu có xu hướng cắt giảm và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

3. Giá dầu thô kế hoạch được Quốc hội thông qua cho năm 2020 là 60 USD/thùng. Vậy với diễn biến giá dầu như hiện nay thì nộp ngân sách nhà nước của PVN dự kiến sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

Ý kiến của PVN:

Nộp ngân sách toàn Tập đoàn giảm khoảng 18,6 nghìn tỷ đồng/năm (so với giá dầu kế hoạch là 60 USD/thùng).

4. PVN đã có giải pháp gì để ứng phó với biến động chưa từng có trong lịch sử trên thị trường dầu thô hiện nay?

Ý kiến của PVN:

Ngay từ khi dịch bệnh có nguy cơ xảy ra và tác động kép của khủng hoảng giá dầu từ cuối tháng 01 và đầu tháng 02/2020, PVN đã chủ động tập trung nghiên cứu và đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 và khủng hoảng về giảm giá dầu để xây dựng và triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp ứng phó (bao gồm các giải pháp về quản trị, đầu tư, tài chính, thị trường và cơ chế chính sách). Cụ thể các nhóm giải pháp như sau:

* Nhóm giải pháp về quản trị: Toàn ngành tập trung chỉ đạo sản xuất, kinh doanh, cắt giảm tối đa chi phí sxkd (tối thiểu 15%), giảm lương (10-20%), giảm hội họp, giao lưu… tăng cường quản trị chi phí tối ưu, triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động.

* Nhóm giải pháp về tài chính: đánh giá tác động dòng tiền, có phương án hạn chế tác động và tận dụng cơ hội tối ưu, tái cơ cấu nguồn vốn, giảm chi phí vốn; tiết giảm chi phí lãi vay; huy động vốn vay; tăng cường quản lý thu hồi công nợ; cơ cấu lại các khoản nợ; đàm phán điều chỉnh lãi vay…

* Nhóm giải pháp về đầu tư: cập nhật, đánh giá, phân loại xác định nhóm các dự án ưu tiên; phân kỳ đầu tư, điều chỉnh tiến độ hợp lý; giãn dừng các dự án chưa thực sự quan trọng; tăng cường kiểm soát các hợp đồng; tìm kiếm cơ hội đầu tư mua mỏ tận dụng giá dầu thấp…

* Nhóm giải pháp về thị trường: bám sát diễn biến cung cầu, giá dầu thô và sản phẩm để có giải pháp kịp thời; đa dạng hóa kênh phân phối, tăng thị phần bán lẻ; xây dựng chính sách bán hàng linh động; mở rộng và tích hợp hệ thống phân phối để chia sẻ, tiết giảm chi phí; tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp; song song kiến nghị Chính phủ và các Bộ ngành xem xét có các chỉ đạo định hướng cân đối cung cầu, khuyến khích sản xuất trong nước, xử lý gian lận thương mại…

*Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách: báo cáo kiến nghị Chính phủ và các Bộ ngành xem xét điều chỉnh sửa đổi một số chính sách thuế để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn…

Tập đoàn đã thành lập Ban Chỉ đạo và nhiều tổ chuyên môn để cập nhật hàng ngày tình hình diễn biến thị trường, tình hình SXKD để kịp thời ứng phó khó khăn với dịch bệnh Covid – 19 và giá dầu sụt giảm. PVN đã có báo cáo Chính phủ và các bộ, ngành liên quan.

5. Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên mua dầu dự trữ khi giá dầu thô xuống thấp như hiện nay để tiết kiệm tài nguyên. Vậy theo PVN thì đây có phải là giải pháp khả thi?

Ý kiến của PVN:

Trong tình hình giá dầu thấp như hiện nay, việc mua dầu thô để tích trữ là hướng đi đúng đắn và hợp lý mang lại nhiều cơ hội cho đất nước. Tuy nhiên thực tế có một số khó khăn như chưa có cơ chế chính sách về rủi ro cho hoạt động này (khi mua bắt đáy dẫn đến thua lỗ); Hạ tầng lưu chứa còn hạn chế, không có kho dự trữ quốc gia, hiện nay chỉ có 2 kho chứa dầu thô của 2 NMLD (Dung Quất, Nghi Sơn) phục vụ cho sản xuất của Nhà máy là chính. Việc thuê tàu trữ dầu không khả thi vào thời điểm này do tiềm lực tài chính còn khó khăn đặc biệt trong giai đoạn này.

Kho dự trữ dầu của Nhà máy lọc dầu Dung Quất

6. Chính phủ cần có giải pháp hỗ trợ cụ thể gì với PVN để vượt qua khó khăn về giá dầu và tác động của dịch CPVID-19 như hiện nay?

Ý kiến của PVN:

* Giải pháp hỗ trợ ngày tài chính bằng các khoản vay giá rẻ về vốn lưu động cho PVN và các đơn vị thành viên của PVN. Giãn khoản nợ vay tại các dự án/doanh nghiệp khó khăn của ngành.

* Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho phép PVN và các đơn vị thành viên được sử dụng khoản tiền gửi của PVN và các đơn vị thành viên tại Ocean Bank hoặc cho phép được sử dụng khoản tiền này để thanh toán các nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.

* Điều tiết thị trường bán lẻ xăng dầu, xem xét tạm dừng nhập khẩu xăng dầu, xem xét cân đối cung cầu giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu, điều hành giá xăng dầu ở mức hợp lý để duy trì hoạt động cho chuỗi sản xuất kinh doanh từ khai thác đến chế biến, cung ứng sản phẩm để cứu nền kinh tế chung của đất nước, duy trì công ăn việc làm của người lao động.

* Chính phủ chỉ đạo tăng cường hợp tác trong khâu phân phối sản phẩm giữa các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước cùng phân phối tiêu thụ sản phẩm: như PVN, Petrolimex, Vinachem…

* Áp dụng một số giải pháp thuế trong giai đoạn hiện nay:

– Đưa sản phẩm phân bón vào diện sản phẩm phải chịu thuế VAT với mức thuế suất 0%; đưa sản phẩm xăng dầu được chế biến từ tài nguyên dầu thô khi xuất khẩu được vào chịu thuế VAT.

– Xem xét bỏ quy định về thuế suất thuế xuất khẩu đối với sản phẩm phân bón.

https://petrovietnam.petrotimes.vn/pvn-thong-tin-ve-mot-so-van-de-lien-quan-den-hien-tuong-gia-dau-giam-sau-569872.html 

 

PETROVIETNAM: Tình người trong khủng hoảng kép

Trong thời gian vừa qua Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các đơn vị thành viên tích cực đồng hành, hỗ trợ lực lượng tuyến đầu của đất nước trong công tác chống dịch bệnh Covid-19; với số tiền và hiện vật trị giá hàng chục tỷ đồng đã được trao gửi bằng tất cả sự đồng cảm và sẻ chia. Nhiều hoạt động ý nghĩa đã được thực hiện như trao hỗ trợ cho Bộ Y tế, các tỉnh thành, trang thiết bị y tế cho các bệnh viện; đồng hành cùng các lực lượng y tế, chiến sỹ, nhân dân cả nước trong cuộc chiến chống Covid-19.

Cùng tham gia trách nhiệm với cộng đồng ứng phó với đại dịch, văn hóa ứng xử trong thử thách của người Dầu khí càng được thể hiện rõ. Ngay khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát ở Việt Nam, cũng là lúc giá dầu giảm sâu trên thế giới, Petrovietnam đã chủ động xây dựng nhiều gói giải pháp với phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”. Petrovietnam cũng đặc biệt coi trọng việc bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động, trong dịp này, phương án tổ chức lao động phù hợp được triển khai với những quy định chặt chẽ; các đơn vị đều cung cấp kịp thời các trang thiết bị, vật dụng bảo vệ sức khỏe người lao động. Theo đề nghị của lãnh đạo Tập đoàn, Công đoàn Dầu khí Việt Nam thông qua hệ thống tổ chức đã kịp thời tặng khẩu trang cho toàn thể người lao động Dầu khí.

Trao tặng một số vật tư y tế cho Bệnh viện dã chiến ở Củ Chi của PVFCCo

Nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết số 42 NQ/CP ngày 10/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; với quan điểm “không người lao động Dầu khí nào bị bỏ lại phía sau”, Lãnh đạo Tập đoàn huy động tổng lực với sự tham gia hợp sức của toàn hệ thống chính trị đưa ra gói hỗ trợ người lao động do tác động của dịch bệnh Covid-19 trong toàn Tập đoàn (ước tính hàng chục tỷ đồng) từ các nguồn an sinh xã hội, quỹ Tương trợ dầu khí, quỹ Công đoàn… Gói hỗ trợ sẽ chăm lo đời sống, nâng cao sức khỏe cho người lao động trong giai đoạn dịch bệnh. Cụ thể: hỗ trợ tiền mặt cho người lao động trong toàn Tập đoàn gặp khó khăn (thu nhập từ 4,5 triệu đồng/tháng trở xuống), người lao động mất việc, chờ việc do đại do dịch bệnh Covid-19; tặng quà nhân dịp 30/4, 01/5 cho người lao động làm việc tại các đơn vị, ban quản lý dự án khó khăn. Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị khen thưởng đột xuất cho các tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và ứng phó tác động của giá dầu giảm sâu. Các chính sách này sẽ được triển khai thực hiện ngay trong những ngày cuối tháng 4 năm 2020.

Sự quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ từ lãnh đạo, các tổ chức chính trị đối với người lao động thể hiện tình cảm, trách nhiệm, nghĩa tình Dầu khí; là nguồn cổ vũ, động lực cho người lao động Dầu khí vững tin, vững bước.

Petrovietnam: Văn hóa ứng xử trong thử thách

pvn.vn | 17/04/2020

Dịch Covid-19 đang hoành hành, tàn phá nền kinh tế thế giới và giá dầu thấp kéo dài được coi như cuộc “khủng hoảng kép” đe dọa ngành công nghiệp dầu khí thế giới nói chung và Tập đoàn dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) nói riêng. Là tập đoàn kinh tế mũi nhọn của đất nước, đang gánh vác nhiều trọng trách, Petrovietnam sẽ ứng phó ra sao trong bối cảnh ngặt nghèo này?
Hai tháng qua, bên cạnh những dự báo hết sức bi quan về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam trong và sau đại dịch, đến thời điểm này, trên thực tế mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp đều đã bắt đầu “thấm đòn” từ một lực lượng vô hình là con virus SARS-CoV-2. Nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp quyết liệt chưa từng có để bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân và bơm tiền cứu trợ khẩn cấp doanh nghiệp, giảm thiểu tác động xấu tới nền kinh tế. Không ít công ty dầu khí trên thế giới đã hoặc đang đứng trước nguy cơ phải giãn dự án, dừng nhà máy, sa thải nhân công, thậm chí đóng cửa, phá sản trong bối cảnh gián đoạn cung cầu hàng hóa nguyên vật liệu, dịch vụ vận tải, giao thương… vì cách ly xã hội, phong tỏa, giới nghiêm.

Trong cơn lốc xoáy của dịch bệnh, Việt Nam chúng ta nổi lên như một biểu tượng, một hình mẫu của thế giới về khả năng ứng phó và kiểm soát. Kết quả đó có được là nhờ sự đồng lòng, đồng thuận từ Đảng, Nhà nước đến tất cả nhân dân, cùng đoàn kết vượt qua mọi gian nan. Đó chính là truyền thống ngàn đời của dân tộc mỗi khi đất nước lâm nguy. Là con dân nước Việt, mỗi người lao động Petrovietnam đều có trong tim niềm tự hào truyền thống ấy. Đứng trước thử thách của “khủng hoảng kép” chưa có tiền lệ này, một lần nữa họ lại nắm tay nhau cùng đương đầu.

Dưới tác động của dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu, nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với Petrovietnam, tập đoàn kinh tế chủ lực của nền kinh tế và cũng là ngành đang chịu tác động trực tiếp, nặng nề nhất bởi giá dầu và dịch bệnh. Hiệu quả khai thác dầu khí giảm mạnh, doanh thu không đủ bù đắp chi phí; giá cung cấp các dịch vụ trong ngành Dầu khí ở mức thấp; các nhà máy lọc dầu trong nước tồn kho lớn, tiêu thụ các sản phẩm lọc hóa dầu sa sút nghiêm trọng. Thậm chí, những đơn vị tưởng chừng sẽ được hưởng lợi từ giá dầu giảm sâu như sản xuất đạm thì dịch bệnh cũng như hạn hán ở Tây Nguyên, Tây Nam bộ cũng khiến các đơn vị này “điêu đứng”. 

Thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, tập trung thực hiện “nhiệm vụ kép” là vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế – xã hội, nhận thức được những rủi ro, thách thức đang phải đối mặt, Petrovietnam và các doanh nghiệp thành viên đã và đang chủ động tích cực triển khai các giải pháp quyết liệt, cụ thể và được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt để thích ứng và trở nên hiệu quả hơn, vượt qua giai đoạn sóng gió này với mục tiêu bảo vệ tốt nhất cho sức khoẻ người lao động, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, liên tục theo phương châm chỉ đạo của Tổng Giám đốc Petrovietnam là “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”.

Cho đến những ngày giữa tháng Tư năm 2020, giữa lúc dịch bệnh đang ở cao trào đe dọa nhất, chưa một công trình, dự án trọng điểm nào, chưa một nhà máy, xí nghiệp nào của Petrovietnam ngừng hoạt động. Gần 60 ngàn người lao động vẫn đang từng ngày miệt mài cống hiến, tận tâm, tận lực phấn đấu hoàn thành trọng trách, nhiệm vụ kế hoạch được giao phó.

Cụ thể, Petrovietnam và các doanh nghiệp thành viên đã và đang tập trung triển khai gói giải pháp chung của Tập đoàn và gói giải pháp riêng cho từng lĩnh vực, từng khối đơn vị, áp dụng chế độ làm việc đặc biệt tùy đặc thù của từng doanh nghiệp từ 01-4-2020. Bên cạnh nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ an toàn, sức khỏe của người lao động, các doanh nghiệp đều tập trung tăng cường quản trị, tối ưu nguồn lực; triển khai áp dụng các công cụ, giải pháp nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất lao động với mục tiêu tiết giảm được đưa lên mức cao, đồng bộ với giảm doanh thu, kể cả giảm thu nhập cá nhân từ lãnh đạo đến người lao động. Các đơn vị trong toàn Petrovietnam tích cực phối hợp với nhau để chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường… nhằm tối ưu hiệu quả trong cả chuỗi giá trị, đồng thời tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Đặc biệt, Petrovietnam và các đơn vị trong Tập đoàn cũng chủ động nắm bắt, cập nhật biến động giá của dầu thô, cung cầu sản phẩm dầu khí, từ đó đề ra các giải pháp thích hợp nhất để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn, hiệu quả, không bị gián đoạn; đồng thời xây dựng phương án, kịch bản để tham mưu với cấp thẩm quyền và điều hành cụ thể tại từng thời điểm để tận dụng cơ hội hoàn thành kế hoạch, giảm thiệt hại do tác động của thị trường. 

Quý I vừa qua, cho dù “cơn bão kép” của khủng hoảng ập xuống, vào thời điểm được cho là giai đoạn khó khăn, thử thách nhất kể từ thời điểm thành lập cho đến nay, nhưng Petrovietnam vẫn hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra.

Có thể nói, nếu trong những điều kiện thuận lợi bình thường, người lao động Dầu khí luôn năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì trong hoàn cảnh bất thường, đầy khó khăn như hiện nay, người Dầu khí càng thể hiện bản lĩnh cũng như ý chí, nghị lực của mình. 

Ý chí và nghị lực đó nhiều năm qua đã được minh định phát xuất từ một động lực nội sinh truyền thống, được dung dưỡng bởi một chiều sâu văn hóa – Văn hóa Petrovietnam. Với người lao động Dầu khí, những người được mệnh danh là “người đi tìm lửa”, lửa Dầu khí là biểu tượng chứa đựng ý nghĩa tinh thần lớn lao, là niềm tự hào có thể làm lay động tâm trí hàng chục ngàn người vào một thời khắc, dẫn đường cho những khát khao hy vọng, khơi dậy nhiệt huyết và niềm tin. 

Từ hơn 60 năm qua, với các thế hệ “những người đi tìm lửa” không ngừng vun đắp, dày công gây dựng các chuẩn mực và giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa đặc trưng cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, cho mỗi đơn vị thành viên. Trong triết lý kinh doanh và giá trị cốt lõi của văn hóa dầu khí đề cao việc cùng chia sẻ lợi ích, trách nhiệm, thuận lợi và khó khăn; đồng thời nhấn mạnh, tinh thần đoàn kết và sự thống nhất là nền tảng tạo nên sức mạnh phát triển vững chắc của Tập đoàn.

Sự lan tỏa của văn hóa Petrovietnam đã tạo dựng nền tảng trí tuệ, quan điểm đồng nhất, gắn kết mọi người, tạo nên động lực lớn lao, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng Dầu khí.

Hiện nay và sắp tới, công việc, thu nhập của người lao động đâu đó trong Tập đoàn, trong một số doanh nghiệp chịu thiệt hại nặng nề, có thể sẽ bị giảm sút, thậm chí có nguy cơ bị ảnh hưởng lớn. Điều đó khó tránh khỏi tác động tới tâm lý, tinh thần của người lao động Petrovietnam.

Tuy nhiên, điều mà người ta nhận thấy trong các nhà máy, xí nghiệp, trên các giàn khai thác ngoài khơi hay trong đất liền là sự kiên nhẫn, đoàn kết, chung lòng cùng vượt khó. Họ nỗ lực ngày đêm để làm việc bởi nhiều người trong số họ giờ đây phải đảm nhận thêm phần việc của đồng nghiệp do thực hiện biện pháp giãn cách phòng chống dịch. Lãnh đạo động viên người lao động, các đồng nghiệp động viên nhau rồi đến mỗi người tự động viên mình phấn đấu.

Không những thế, nhiều người còn hy sinh những ngày, giờ nghỉ ít ỏi để sáng tạo ra những thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác phòng chống dịch đảm bảo an toàn cho đồng nghiệp. Những buồng khử khuẩn toàn thân, hộp khử khuẩn đồ dùng, đèn khử khuẩn UV,… hoàn toàn “made in” Petrovietnam đã ra đời kịp thời, đúng lúc. Mặc dù phải nỗ lực chống chọi với những khó khăn đan xen, phải thắt lưng buộc bụng cũng như tiết giảm tối đa chi phí ở nhiều mặt, nhưng hoạt động an sinh xã hội vẫn được Tập đoàn và các đơn vị thành viên duy trì đều đặn. Từ hàng chục tỷ đồng hỗ trợ chống dịch đến những vật phẩm thiết yếu nhỏ như chai dầu ăn tặng kèm người nông dân trong từng bao phân bón…, đã được trao đi bằng tất cả sự đồng cảm và sẻ chia. 

Có thể nói, những người từng đổ mồ hôi, trút tâm sức, từng hy sinh cả tuổi thanh xuân, từng quên mình, quên đi mọi hưởng thụ để làm nên một diện mạo ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam như hôm nay mới hiểu thấu đáo đến tận cùng thế nào là “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, mới thấy hết chân giá trị của những thành công. Hơn ai hết, họ thấm thía cái giá phải trả cho mỗi giọt dầu.

Cách ứng xử trong thử thách của những người lao động dầu khí là nét đẹp văn hóa Petrovietnam. Nét đẹp ấy luôn được lan truyền, càng trong khó khăn, gian nan thì bản sắc đặc trưng càng tỏa sáng, càng nhân văn bởi tấm lòng và trách nhiệm với cộng đồng.

Tối ưu sử dụng năng lượng, nhiên liệu: Nhiệm vụ không được phép thất bại

Petrotimes, 16/4
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật luôn phải tuân thủ “cuộc chơi” do nhà cung cấp bản quyền đặt ra, đặc biệt là không được phép thất bại. Đó là những yêu cầu cực kỳ khắt khe đối với các nhà khoa học dầu khí.
Đầu tư lớn, lợi ích cao
Theo kinh nghiệm của thế giới, các hoạt động tiết giảm năng lượng có thể nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các nhà máy khâu sau của ngành Dầu khí lên tới 10-20%. Tuy nhiên, để thực hiện các giải pháp kỹ thuật đó cần có những khoản đầu tư lớn hàng chục triệu USD, thực hiện trong nhiều năm.

Nhiệm vụ không được thất bại

Một điều ít người biết là các giải pháp kỹ thuật này muốn đi vào thực hiện không hề đơn giản kiểu “thích thì làm” mà phải có kế hoạch đầu tư, tuân thủ đúng quy định của nhà cung cấp bản quyền.Tại Việt Nam, Nhà máy Đạm Cà Mau đã liên tục thực hiện 8 giải pháp kỹ thuật như cải tạo hệ thống vòi phun tạo hạt, tối ưu hóa cụm nước khử khoáng, tối ưu hóa và nâng công suất Xưởng Ammonia… từ năm 2014 đến năm 2019. Mỗi giải pháp được thực hiện thành công đã thu lợi trực tiếp từ tiết giảm chi phí vận hành ít nhất là 7,48 tỉ đồng, nhiều nhất lên tới 80 tỉ đồng/năm. Tổng năng lượng để sản xuất 1 tấn phân đạm tại nhà máy giảm khoảng 3-7%. Theo ước tính của các nhà khoa học, chỉ cần giảm 1% năng lượng tiêu thụ sẽ đem lại hàng triệu USD lợi nhuận.
Theo ông Tuấn Anh, Trưởng phòng Công nghệ Đạm Cà Mau, đội ngũ chuyên gia của nhà máy đã đề xuất 6 giải pháp nâng cao công nghệ nhà máy gồm: Thu hồi khí Vent tại cụm trung áp Xưởng Urea; áp dụng công nghệ Orc để phát điện; thu hồi dòng CO2 trong dòng Permeate Gas và Plash Gas; cải tạo hệ thống trao đổi nhiệt; đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào… Các công trình này dự kiến được thực hiện trong tối thiểu 2 năm, có thể làm lợi cho Đạm Càu Mau hơn 110 tỉ đồng/năm.
Tuy nhiên, các giải pháp kỹ thuật đó đều phải được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của các chuyên gia của nhà cung cấp bản quyền, như: Haldor Topsoe (Đan Mạch), Snamprogetti (Italia), Toyo Engineering Corporation (Nhật Bản).
Không được phép thất bại
Vào dịp tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học năm 2019 của Tiểu ban Lọc hóa dầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vừa qua, tôi may mắn được đồng hành với chuyên gia Nguyễn Duy Hiếu của Đạm Phú Mỹ, người có trình độ khoa học cao, nhiều năm trăn trở, gắn bó với các nhà máy của PVN. Anh Hiếu khẳng định với tôi: Làm khoa học không phải cứ thông minh, sáng dạ là thành công, mà đó là cả một sự “chiến đấu” bền bỉ, quyết tâm cực kỳ cao độ trong một thời gian rất dài.

Các chuyên gia và kỹ sư có nhiều giải pháp kỹ thuật mới, đem lại hiệu quả cao trong bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2019

Anh Hiếu cho tôi xem bản báo cáo khoa học của anh chỉ vỏn vẹn 2 trang đánh máy và giải thích: “Năm 2014, lãnh đạo Đạm Phú Mỹ “đặt hàng” anh em kỹ sư phải tiết kiệm 0,5-1% nhiên liệu sản xuất 1 tấn urê. Nhiệm vụ này không hề đơn giản, chỉ giảm 1% nhiên liệu sẽ giúp nhà máy tăng lợi nhuận hàng chục tỉ đồng. Bởi vậy, anh em chúng tôi làm ngày làm đêm và kết quả đạt được là tiết giảm nhiên liệu khá cao, năm 2016 giảm 4,8%, đến năm 2019 giảm tới 7%. Có thể khẳng định, Nhà máy Đạm Phú Mỹ nằm trong Top nhà máy vận hành tiết kiệm nhất trên thế giới”.

Kinh nghiệm anh Hiếu rút ra trong 10 năm vận hành Nhà máy Đạm Phú Mỹ chỉ gói gọn trong mấy chữ: “Tiết kiệm từng giây”. Anh Hiếu bảo, một hệ thống vận hành đạt hiệu quả tối ưu là ở tính liên tục, ổn định, đầy tải. Bên cạnh các giải pháp tối ưu hóa dây chuyền công nghệ, quản lý tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải tạo nâng cấp dây chuyền công nghệ, thì bí quyết là phải rút ngắn thời gian ngừng máy nhất, luôn có phương án dự phòng để không làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống sản xuất khi xảy ra sự cố. Để làm được những điều đó là cả một sự phức tạp, đòi hỏi mỗi nhân sự phải có trách nhiệm, sự phối hợp nhuần nhuyễn và tập trung cao độ. Mỗi chuyên gia, nhóm vận hành phải có kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng.
Tại cuộc họp của Tiểu ban Lọc hóa dầu, có một điều được các chuyên gia nhắc đi nhắc lại trong các công trình khoa học là cần sự ủng hộ của lãnh đạo đơn vị, PVN. Dường như đây là một điều ngược lại với bản chất của người làm khoa học là luôn độc lập, chủ động, sáng tạo? Đem thắc mắc này hỏi anh Hiếu thì anh bật cười rung cả ghế, vỗ vai tôi một cái thật mạnh rồi bảo: “Nhà báo tinh ý đấy nhưng hiểu… sai bét. Thế này nhé, nhà máy nào lúc mới đi vào hoạt động sản xuất cũng khó khăn lắm. Đơn giản là chúng ta thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn lưu động, sản phẩm mới ra thị trường cũng khó bán được giá tốt. Vậy lấy tiền đâu mà nâng cấp với ứng dụng kỹ thuật? Thiết bị mới đều có giá cả triệu USD, để thu hồi vốn phải mất vài năm, đâu có nhanh. Vậy, nếu không có sự ủng hộ của lãnh đạo thì mọi ý tưởng sáng tạo đều là… trên giấy thôi”.
Tôi chợt nhớ tới những lời đầy tâm đắc của ông Đinh Văn Sơn, Thành viên HĐTV PVN, khi nói về công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật dầu khí: “Các nhân tố để thành công là sự đam mê, tính ứng dụng và sự ủng hộ của lãnh đạo. Các đơn vị, nhà máy của PVN phải luôn tập trung, dồn nguồn lực để liên tục nâng cao hiệu quả quản trị năng lượng, điều này không chỉ đem lại lợi nhuận cho các đơn vị mà còn là sự sống còn của PVN”.
Ngẫm lại những lời này mới thấm thía rằng, vận hành các nhà máy thuộc khâu sau của ngành Dầu khí sao cho hiệu quả nhất để vươn lên ngang tầm với các nhà máy khác trong khu vực, thế giới là việc mà chúng ta phải tự thân vận động. Chính vì vậy, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong ngành Dầu khí nói chung, các nhà máy sản xuất sản phẩm liên quan đến dầu khí nói riêng là “nhiệm vụ không được phép thất bại” mà hàng trăm nhà khoa học dầu khí đang ngày đêm miệt mài thực hiện.
Thành Công

Bộ Công Thương: Điều chỉnh thuế giá trị gia tăng cho phân bón là cần thiết

Công thương, 16/4
Ngày 13/4, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An đã ký ban hành Công văn số 2593/BCT-HC gửi Bộ Tài chính về việc điều chỉnh, sửa đổi quy định tại Luật thuế 71 đối với sản xuất phân bón. Theo đó, Bộ Công Thương kiến nghị đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) với mức 0% hoặc 5% như trước đây sẽ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp phân bón.      
Luật thuế 71- “rào cản” của doanh nghiệp
Theo Bộ Công Thương ngày 9/3/2020, Bộ đã nhận được Công văn số 299- HHPBVN ngày 3/3/2020 của Hiệp hội phân bón Việt Nam kiến nghị báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để sửa đổi Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều luật về thuế, trong đó đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất từ 0% – 5%.
Trước vấn đề trên, Bộ Công Thương có ý kiến cụ thể: Phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng đã gây nhiều ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước: Căn cứ vào quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật số 71/2014/QH13, phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp…, là mặt hàng không chịu thuế giá trị gia tăng, có nghĩa là doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả thuế giá trị gia tăng của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón. “Trên cơ sở đó toàn bộ chi phí phát sinh được các doanh nghiệp tính vào chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản xuất phân bón. Ước tính, khi thực hiện Luật 71/2014/QH13 (1/1/2015) thì giá thành phân đạm tăng 7,2% – 7,6%; phân DAP tăng 7,3% – 7,8%, phân supe lân tăng 6,5% – 6,8%; phân NPK và hữu cơ tăng từ 5,2% – 6.1%”- Bộ Công Thương nêu rõ.

Bộ Công Thương nhận định, tăng chi phí sản xuất sẽ giảm sức cạnh tranh với phân bón nhập khẩu, người nông dân sẽ phải mua phân bón với giá cao hơn do phải chịu cộng thuế GTGT đầu vào (theo các số liệu thống kê, số thuế giá trị không được khấu trừ tính vào chi phí của doanh nghiệp năm 2018 cụ thể: Công ty CP Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trên 141 tỷ đồng, Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao 142 tỷ đồng, Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình 113 tỷ đồng; các doanh nghiệp: Công ty CP Lân Ninh Bình, Công ty CP Phân lân Nung chảy Văn Điển, Công ty CP Phân bón miền Nam cũng dao động từ 3 đến 50 tỷ đồng). Như vậy, việc quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu GTGT tăng không những không tạo điều kiện cho người nông dân được hưởng giá phân bón thấp mà vô hình chung đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu, tăng sức ép đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước, dẫn đến khả năng nhiều doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phải hoạt động cầm chừng hoặc ngừng sản xuất, đây là thiệt thòi lớn cho ngành công nghiệp trong nước, ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia và lãng phí nguồn lực xã hội.

Trước đó, Tập đoàn Hoá chất Việt Nam cũng có văn bản gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hiệp hội phân bón Việt Nam kiến nghị sửa Luật số 71//2014/QH13 nhằm ổn định sản xuất kinh doanh trước tác động của dịch COVID-19.
Trước thực trạng trên, ông Phùng Hà- Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam khẳng định, một trong những chính sách ảnh hưởng lớn tới ngành phân bón hiện nay là Luật Thuế số 71. “Việc áp dụng Luật Thuế 71 còn làm tăng tổng mức đầu tư các dự án sản xuất phân bón mới, dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không mặn mà đầu tư sản xuất các loại phân bón thế hệ mới, với các tính năng ưu việt hơn như phân bón tan chậm, phân bón điều khiển tan, phân bón nhiều tính năng…”- ông Phùng Hà bày tỏ.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Văn Sinh- Tổng Giám đốc Công ty CP Dap Vinachem cho biết, Luật thuế 71 quy định thuế giá trị gia tăng hàng năm phải tính vào chi phí sản khiến giá thành sản xuất của các doanh nghiệp phân bón tăng 3 – 4%, từ đó ảnh hưởng làm tăng giá bán sản phẩm. Như vậy mục đích tốt đẹp ban đầu khi ban hành Luật thuế 71 để hỗ trợ nông dân được hưởng lợi, giúp doanh nghiệp trong nước tăng sức cạnh tranh không đạt mục tiêu.
Kiến nghị đưa phân bón về thuế suất 0%- 5%
Từ những bất cập nêu trên, các doanh nghiệp trực thuộc Hiệp hội Phân bón Việt Nam đều thống nhất kiến nghị đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế GTGT với mức 0% hoặc 5% như trước đây.
Ngoài việc kiến nghị sửa Luật Thuế số 71, ông Phùng Hà nhấn mạnh, các Bộ Công Thương, Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cần nghiên cứu, rà soát và đánh giá thật khách quan các quy định, chính sách, các tác động đến sản xuất trong nước, đến với người nông dân không chỉ đối với mặt hàng DAP mà cả mặt hàng ure nhập khẩu hiện nay.
Công văn của Bộ Công Thương gửi Bộ Tài chính cũng khẳng định, việc sửa đổi, điều chỉnh quy định theo hướng đưa phân bón là mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là cần thiết, nhất là trong thời điểm doanh nghiệp đang chịu khó khăn kéo dài do tác động của một số chính sách và tác động của dịch bệnh Covid – 19 thì việc điều chỉnh là phù hợp với ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 27/2/2020 về phòng, chống dịch Covid – 19, phù hợp với quy định chung về thuế GTGT đối với sản xuất phân bón của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trên cơ sở đó, để tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho ngành sản xuất phân bón trong nước duy trì và phát triển ổn định, bền vững, tạo sự công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu, Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính đưa phân bón là mặt hàng chịu thuế GTGT từ 0- 5% và báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn trong kỳ họp tới.
Tại thời điểm này, ngành phân bón đang đứng trước khó khăn thách thức vô cùng lớn bởi đại dịch Covid-19, việc Chính phủ, Quốc hội sớm sửa đổi Luật thuế 71 chính là liều thuốc quan trọng giúp nông dân và doanh nghiệp sản xuất phân bón vượt qua giai đoạn khó khăn này để ổn định ngành phân bón trong nước cũng chính là ổn định nền nông nghiệp của nước nhà.

Ngành phân bón: Tác động ngược của chính sách thuế VAT

CafeF, 13/4
Các bất cập đó nhiều lần đã được các doanh nghiệp sản xuất phân bón kiến nghị đến các cơ quan quản lý và đề xuất sửa đổi Luật Thuế GTGT theo hướng đưa phân bón vào diện chịu thuế VAT với thuế suất 0% thay cho không chịu thuế, hoặc quay trở lại thuế suất 5% như trước.
Việc sửa đổi Luật 71/2014/QH13 theo hướng đưa sản phẩm phân bón vào diện chịu thuế suất VAT như trước đây, nhằm giúp doanh nghiệp phân bón trong nước có thể giảm giá thành sản xuất, đảm bảo an ninh nông nghiệp… đang là vấn đề hết sức cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, bản tin từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chi hay.
Trong những năm qua, Chính phủ có chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất phân bón trong nước, chủ động nguồn phân bón phục vụ nông nghiệp, giảm dần phân bón nhập khẩu. Đây là một trong những chủ trương quan trọng giúp Chính phủ điều tiết cung cầu khi thị trường phân bón có biến động; giảm giá bán phân bón cho nông dân thông qua việc giảm thuế đối với phân bón là hợp lý.

“Tác động ngược” của chính sách thuế

Tuy nhiên, Luật thuế 71/2014/QH13 lại đưa mặt hàng phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT đã dẫn đến một số bất cập sau đây:
Thứ nhất, mặt hàng phân bón không được khấu trừ thuế GTGT của nguyên vật liệu, dịch vụ dùng cho sản xuất phân bón, làm chi phí sản xuất phân bón trong nước tăng lên, doanh nghiệp phải tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào chi phí giá thành sản phẩm để xây dựng giá bán nên không giảm được giá bán cho người nông dân.
Thứ hai, chi phí giá thành phân bón trong nước tăng, dẫn đến bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh thị trường với phân bón nhập khẩu, đặc biệt phân bón nhập từ Trung Quốc do phân bón nhập khẩu không phải chịu thuế GTGT, giá bán giảm 5%.
Do vậy, phân bón nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá thành và giá bán, dẫn đến nhập khẩu phân bón tăng làm gia tăng nhập siêu và sản xuất phân bón trong nước phải thu hẹp quy mô sản xuất, sản lượng phân bón sản xuất trong nước sẽ không đủ để giúp Nhà nước điều tiết và quản lý giá khi giá phân bón thế giới biến động tăng, nông dân sẽ phải mua phân bón với giá đắt, thiệt hại thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.
Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế suất GTGT 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ; doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm tăng từ 5 – 8%, dẫn đến suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa.
Như vậy, Luật 71/2014/QH13 trở thành rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chiến lược phát triển phân bón và phân bón hữu cơ công nghệ cao trong nước. Lượng phân bón nhập khẩu tăng mỗi năm hàng nghìn tấn, là một minh chứng cho “tác động ngược” của chính sách thuế, vừa kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước, vừa gây thiệt hại cho người nông dân, chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón nhập khẩu.
Doanh nghiệp mất hàng trăm tỷ mỗi năm

Thuế GTGT với phân bón sớm sửa đổi để tạo công bằng

Petrotimes, 13/4
Hiện nay, phần lớn các mặt hàng phân bón chỉ chịu thuế nhập khẩu 0% và phân bón nhập khẩu được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào, trong khi phân bón sản xuất trong nước không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, giá thành bị đội lên.
Hiện cả nước có trên 700 cơ sở sản xuất phân bón, tổng công suất lên tới 29,5 triệu tấn/năm. Trong đó, 10 doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và 2 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chiếm phần lớn sản lượng phân bón hằng năm. 

Theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU)… thuế nhập khẩu phân bón từ nhiều thị trường đã về 0%. Bên cạnh đó, phân bón nhập khẩu được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nên các đại lý nhập khẩu có thể hạ thấp giá bán để cạnh tranh với phân bón nội địa, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất trong nước.Nguồn cung phân bón trong nước khá dồi dào. Tổng công suất phân urê trong nước lên tới 2,66 triệu tấn với các nhà máy sản xuất lớn như Đạm Hà Bắc, Đạm Phú Mỹ, Đạm Ninh Bình, Đạm Cà Mau…, trong khi nhu cầu thị trường chỉ khoảng 2,5 triệu tấn. Thị trường urê nội địa dư cung nhưng lượng urê nhập khẩu hằng năm vẫn ở mức cao. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2019, nước ta đã nhập khẩu trên 3 triệu tấn phân bón các loại, với tổng trị giá 858,79 triệu USD; trong đó lượng urê nhập khẩu là 333,3 nghìn tấn, với giá trị 94,9 triệu USD.

Từ năm 2015, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước đã trải qua những biến động lớn khi chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón thay đổi. Cụ thể, tháng 11-2014, Quốc hội đã thông qua Luật 71/2014/QH13 về việc sửa đổi Luật Thuế GTGT, có hiệu lực vào ngày 1-1-2015. Theo đó, phân bón được chuyển từ đối tượng chịu thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT. Do đó, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, làm tăng giá thành sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh cho phân bón nhập khẩu.
Mặc dù những bất cập trong Luật 71/2014/QH13 đã nhiều lần được các bộ, ngành, doanh nghiệp kiến nghị điều chỉnh, nhưng đến nay vẫn chưa được sửa đổi. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước mong muốn, chính sách thuế GTGT với mặt hàng phân bón sẽ sớm được sửa đổi hợp lý để tạo sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa phân bón trong nước và phân bón nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Bởi nếu chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế GTGT về chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, các doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ tiết giảm được khoản chi phí lớn được tính vào giá thành sản phẩm, góp phần tăng lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa, qua đó cũng sẽ giúp giảm giá mặt hàng phân bón, một mặt hàng thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp.
VR 360