Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Ngành Dầu khí Việt Nam “vươn mình” cùng đất nước

(PetroTimes) – Trong suốt hơn 60 năm truyền thống, hoạt động của ngành Dầu khí Việt Nam luôn gắn với những nhiệm vụ, trọng trách được Đảng và Nhà nước giao phó. Các thế hệ “những người đi tìm lửa” đã vượt mọi gian lao, tạo nên những thành công rực rỡ, xây dựng ngành Dầu khí Việt Nam lớn mạnh, là đầu tàu kinh tế, đảm nhận vai trò trọng yếu trong an ninh năng lượng quốc gia, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân; tự hào viết tiếp những trang sử mới.

Hoàn thành sứ mệnh lịch sử

Xuất phát từ tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo Đảng và Nhà nước về ngành công nghiệp Dầu khí của Việt Nam, ngày 27/11/1961, Đoàn thăm dò dầu lửa 36 đã được thành lập, đánh dấu sự ra đời của ngành Dầu khí Việt Nam. Kể từ đó đến nay, trải qua các giai đoạn phát triển của Tổng Cục Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), ngành dầu khí Việt Nam luôn hoàn thành sứ mệnh được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó, đạt nhiều thành tích đáng tự hào, đóng góp quan trọng trong hành trình đổi mới, không ngừng phát triển của đất nước.

Petrovietnam kiên định mục tiêu duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững các lĩnh vực cốt lõi, với hành trình hướng tới trở thành tập đoàn công nghiệp - năng lượng quốc gia
Petrovietnam kiên định mục tiêu duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững các lĩnh vực cốt lõi, với hành trình hướng tới trở thành tập đoàn công nghiệp – năng lượng quốc gia

Từ những năm 1990 khi đất nước còn khó khăn, bị cấm vận, khủng hoảng kinh tế, việc tìm kiếm và khai thác dầu trong đá móng Bạch Hổ không chỉ mở ra một trang mới cho ngành Dầu khí nước nhà mà còn đóng góp quan trọng vào giải quyết khủng hoảng năng lượng sau chiến tranh, trở thành động lực tăng trưởng kinh tế khởi đầu thời kỳ đổi mới của đất nước. Trong giai đoạn đầu, với mức tăng trưởng trung bình khoảng 18-20%/năm, hàng năm ngành Dầu khí đóng góp từ 28 – 30% tổng thu ngân sách Nhà nước, kim ngạch xuất khẩu chiếm trung bình 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước…, đóng góp rất quan trọng vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong hành trình phát triển, ngành tiếp tục có những đóng góp lớn với giá trị ngày càng cao cho đất nước. Hiện nay, hằng năm Petrovietnam đóng góp trung bình 9-10% GDP cả nước; nộp ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng 9-9,5% tổng thu ngân sách chung của Nhà nước, trong bối cảnh quy mô của nền kinh tế đã được mở rộng hơn rất nhiều. Tính đến ngày 31/12/2023, tổng tài sản hợp nhất của Petrovietnam đạt hơn 1 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 43 tỷ USD) – là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất không phải là ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng.

Không nói về những con số, những chỉ tiêu kế hoạch, ngành Dầu khí Việt Nam, Petrovietnam không chỉ thực hiện tốt vai trò là đầu tàu và chủ lực của nền kinh tế, là công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô của Nhà nước mà còn đóng vai trò quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc, bảo vệ môi trường và đi đầu trong công tác an sinh xã hội… Những điều đó tự thân đã hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc.

Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng báo cáo với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về hoạt động sản xuất kinh doanh
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng báo cáo với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về hoạt động sản xuất kinh doanh

Hiện nay, sản lượng khai thác dầu thô trong nước của Petrovietnam trung bình đạt 7,5-8,5 triệu tấn/năm; sản lượng khí đạt 6-8 tỉ m3/năm. Hằng năm, Petrovietnam cung cấp trên 13,5 triệu tấn xăng dầu các loại, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng dầu trong nước; cung cấp 1,8 triệu sản phẩm hóa dầu; và cung cấp 1,6-1,7 triệu tấn phân đạm, đáp ứng 70-80% nhu cầu phân đạm trong nước (khoảng 2 triệu tấn/năm). Petrovietnam đang vận hành thương mại 9 nhà máy điện với tổng công suất 6.600 MW, tương đương 8,5% tổng công suất lắp đặt hệ thống điện quốc gia. Các sản phẩm chủ lực của Petrovietnam như dầu thô, xăng dầu, khí thiên nhiên, khí hóa lỏng, điện, đạm… đã tham gia vào mọi hoạt động đời sống của đất nước với tỷ trọng lớn; góp phần quan trọng cho ổn định, phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế.

Bên cạnh đó, hoạt động dầu khí đã bao phủ hầu hết thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, như những cột mốc khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông.

Trong quá trình hoạt động, Petrovietnam luôn tích cực thực hiện các hoạt động an sinh xã hội (ASXH) trên cả nước. Hằng năm, Tập đoàn và các đơn vị thành viên dành ra khoản kinh phí khoảng 300-500 tỷ đồng từ chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh và nguồn đóng góp của CBCNV trong toàn Tập đoàn cho các hoạt động ASXH. Thực hiện ASXH từ 2006 đến 2023 đạt trên 7,82 nghìn tỷ đồng. Trong năm 2023 vừa qua, toàn Tập đoàn dành 750 tỷ đồng thực hiện ASXH trên mọi miền Tổ quốc. Năm 2024, Petrovietnam đặt kế hoạch thực hiện ASXH 750 tỷ đồng và trong 10 tháng đầu năm đã thực hiện các hoạt động với giá trị 515 tỷ đồng.

Với những đóng góp to lớn đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao, ghi nhận những thành tựu và trao tặng cho Petrovietnam nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Danh hiệu Anh hùng Lao động,…

“Tiếp nối nguồn lực, kiến tạo tương lai”

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển với nhiều những thăng trầm nhưng lịch sử phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam tựu chung lại được đánh giá là chuỗi các thành công, thắng lợi với những thành tựu lớn lao, đóng góp quan trọng cho đất nước. “Những người đi tìm lửa” qua các thế hệ, vẫn luôn giữ vững truyền thống tốt đẹp ấy với khát vọng đưa ngành Dầu khí không ngừng phát triển, vươn tới những đỉnh cao mới.

Petrovietnam có những bước chuyển dịch tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng và phát triển
Petrovietnam có những bước chuyển dịch tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng và phát triển

Trong bối cảnh mới với xu thế chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, cùng với xu hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tạo ra những thay đổi lớn trong ngành năng lượng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Để đảm bảo sự phát triển ngành Dầu khí, đáp ứng yêu cầu phát của đất nước trong tình hình mới, ngày 24/4/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 76-KL/TW về tình hình thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và một số định hướng cho giai đoạn mới. Đây là định hướng quan trọng cho sự phát triển của ngành và Tập đoàn khi mở ra định hướng phát triển Petrovietnam trở thành tập đoàn công nghiệp – năng lượng quốc gia.

Trong những năm qua, nhằm đáp ứng yêu cầu mới của xu hướng chuyển dịch năng lượng, cũng như bối cảnh kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều biến động, Petrovietnam đã chủ động có những bước chuyển mình mạnh mẽ để vượt qua thách thức, không ngừng tạo lập những kỷ lục mới trong sản xuất kinh doanh, qua đó củng cố nội lực, tạo nền tảng vững chắc làm động lực cho sự phát triển trong giai đoạn mới hiện nay. Với nguồn lực tài chính vững mạnh, văn hóa doanh nghiệp được tái tạo, củng cố; công tác quản trị doanh nghiệp được nâng tầm; hình thành các chuỗi giá trị, hệ sinh thái liên kết chặt chẽ,… Petrovietnam tự tin đồng hành cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong đó, Tập đoàn có những bước chuyển dịch tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng và phát triển như: Thúc đẩy, mở rộng thăm dò các đối tượng dầu khí phi truyền thống; đẩy mạnh chế biến sâu; phát triển khoa học công nghệ trên nhiều lĩnh vực; nghiên cứu thu hồi, lưu trữ, xử lý carbon; nhập khẩu khí LNG; tham gia vào lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi); tích cực đầu tư hình thành các trung tâm năng lượng quốc gia;…

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn khảo sát hoạt động tại các đơn vị
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn khảo sát hoạt động tại các công trình, đơn vị Dầu khí

Với phương châm “Tiếp nối nguồn lực, kiến tạo tương lai”, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn khẳng định, toàn tập đoàn sẽ đoàn kết, chung sức đồng lòng, phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó và các mục tiêu Tập đoàn đề ra, xây dựng và phát triển Petrovietnam thành tập đoàn công nghiệp – năng lượng hàng đầu đất nước, khu vực. Tổng Giám đốc Petrovietnam, tin tưởng, với tinh thần “Một đội ngũ – Một mục tiêu”, Tập đoàn sẽ cùng nhau tiếp tục khai mở những cơ hội trong khó khăn, thách thức, làm mới động lực cũ và bổ sung động lực mới, đưa Tập đoàn vươn tới những đỉnh cao mới.

Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, với vai trò là tập đoàn kinh tế nhà nước hàng đầu, cùng với thực hiện nhiệm vụ doanh nghiệp, Petrovietnam luôn gắn hoạt động của mình với việc thực hiện nhiệm vụ, tư tưởng, quan điểm đổi mới của đất nước. Những đổi mới của đất nước cũng sẽ tạo động lực về thể chế để Petrovietnam có những bước đột phá, phát triển, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của ngành, đáp ứng yêu cầu của đất nước. Petrovietnam kiên định mục tiêu duy trì nhịp độ tăng trưởng, dịch chuyển cơ cấu và mô hình kinh doanh để đảm bảo phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững các lĩnh vực cốt lõi, với hành trình hướng tới xây dựng kế hoạch trở thành tập đoàn công nghiệp – năng lượng quốc gia.

Ngành Dầu khí Việt Nam đóng góp quan trọng cho nền kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia
Ngành Dầu khí Việt Nam đóng góp quan trọng cho nền kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia

Tiếp nối truyền thống, bản lĩnh, ý chí của người Dầu khí, tiếp tục kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa đã được định hình và kiến tạo trong hơn 6 thập kỷ hình thành, xây dựng và phát triển, khát vọng đưa ngành Dầu khí vươn cao vẫn cháy bỏng trong thế hệ “những người đi tìm lửa” hôm nay với quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu định hướng phát triển của Đảng, Chính phủ về ngành Dầu khí trong giai đoạn mới, để luôn đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của đất nước.

Mai Phương

Quốc hội nhất trí đưa phân bón quay lại chịu thuế giá trị gia tăng 5%

baodautu.vn – 26/11/2024 
Kết quả xin ý kiến qua phiếu có 234 ĐBQH (chiếm 72,67% tổng số ĐBQH cho ý kiến) tán thành quy định đưa phân bón, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp, tàu khai thác thủy sản quay lại diện chịu thuế GTGT 5%.
Chiều 26/11, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế giá trị gia tăng mới với 407/451 đại biểu có mặt tán thành, 36 vị không tán thành và 8 không biểu quyết. Đây là kết quả biểu quyết toàn bộ Dự thảo luật, tỷ lệ không tán thành khá cao so với kết quả biểu quyết nhiều luật khác.

Lần sửa đổi này, một trong những vấn đề được tranh luận đến phiên thảo luận cuối cùng là quy định thuế suất đối với mặt hàng phân bón.

Nhiều ý kiến thống nhất với đề xuất áp thuế suất 5% đối với phân bón như dự thảo Luật của Chính phủ và nội dung giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH). Một số ý kiến đề nghị tiếp tục miễn thuế cho phân bón và máy móc thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp như hiện hành, vì áp dụng thuế 5% sẽ làm tăng giá phân bón, doanh nghiệp được hưởng lợi, NSNN được tăng thu 1.500 tỷ đồng (từ phân bón nhập khẩu), người nông dân phải gánh chịu thiệt hại.

Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị áp dụng mức thuế suất 0% hoặc 1%, 2% để doanh nghiệp trong nước cũng được hoàn thuế đầu vào, bảo đảm hài hoà cho cả người dân và doanh nghiệp.

Có ý kiến đề nghị giải trình rõ hơn, đánh giá toàn diện tác động của quy định này với nông dân và sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản. Có ý kiến lo ngại về khả năng doanh nghiệp trục lợi chính sách, nâng giá bán làm ảnh hưởng đến nông dân.

Báo cáo bổ sung trước khi đại biểu bấm nút, về đề xuất đưa phân bón vào diện áp dụng thuế suất GTGT 0% (hoặc 1%, 2%) UBTVQH nêu rõ, đúng như ý kiến của ĐBQH, nếu quy định phân bón áp dụng thuế suất 0% thì sẽ bảo đảm lợi ích cho cả doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu vì phân bón nhập khẩu và phân bón sản xuất trong nước đều sẽ được hoàn số thuế GTGT đầu vào đã nộp và không phải nộp thuế GTGT đối với phân bón khi bán ra.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, hàng năm NSNN sẽ phải bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để hoàn thuế GTGT đầu vào cho các doanh nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thuế, tổng số thuế GTGT đầu vào cho sản xuất phân bón các năm 2019-2023 không được khấu trừ (do chính sách hiện hành phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế) là 8.962.029 triệu đồng; như vậy, nếu áp dụng thuế suất 0% thì NSNN sẽ phải hoàn cho các doanh nghiệp số thuế đầu vào này.

Nếu tính theo sản lượng và kế hoạch năm 2024 thì số thuế GTGT đầu vào cần được hoàn của riêng Tập đoàn Hoá chất Việt Nam là 1.119 tỷ đồng, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là 1.326 tỷ đồng . Báo cáo thuyết minh Dự án Luật cũng cho thấy số thuế GTGT đầu vào của đối với 2 doanh nghiệp lớn nêu trên là trên 1 nghìn tỷ đồng/năm của mỗi doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp khác, số thuế được hoàn sẽ vào khoảng 800 tỷ đồng/năm mỗi doanh nghiệp.

Ngoài yếu tố bất cập đối với NSNN, việc áp dụng thuế suất 0% đối với phân bón là trái với với nguyên tắc, thông lệ của thuế GTGT là thuế suất 0% chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, không áp dụng với tiêu dùng trong nước. Việc áp dụng theo hướng này sẽ phá vỡ tính trung lập của chính sách thuế, tạo tiền lệ xấu và không công bằng với các ngành sản xuất khác.

Việc quy định thuế suất 1% hoặc 2% đối với phân bón cũng không phù hợp với mục tiêu cải cách thuế GTGT là giảm bớt số lượng các mức thuế suất, không gia tăng số lượng các mức thuế suất so với quy định hiện hành như đã được giải trình với các ĐBQH, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách Lê Quang Mạnh cho biết.

Về ý kiến cho rằng “áp dụng thuế GTGT 5% làm tăng giá phân bón”, UBTVQH dẫn số liệu từ buổi Tọa đàm tham vấn “Ảnh hưởng của việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón” do Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hội Tư vấn thuế Việt Nam, Trường Đại học Ngoại thương Việt Nam tổ chức ngày 17/10/2024, các chuyên gia đã tính toán đối với phương án chuyển phân bón sang áp dụng thuế suất 5%, thì giá phân Urê, DAP và lân sản xuất trong nước có dư địa giảm. Cụ thể phân Urê có thể giảm 2%, phân DAP có thể giảm 1,13%, phân lân có thể giảm 0,87%.

Giá NPK có thể tăng không đáng kể (0,09%) hoặc giữ nguyên.

Giá phân Urê, DAP, NPK, SA và Kali nhập khẩu tăng, cụ thể: phân NPK nhập khẩu có thể tăng 5%.

Theo cấu trúc thị trường phân bón hiện tại (tiêu thụ phân bón sản xuất trong nước chiếm trên 70%, tiêu thụ phân bón nhập khẩu chiếm dưới 30%), sẽ cho phép doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước dẫn dắt điều chỉnh mặt bằng giá thị trường phân bón.

Với chính sách áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đối với phân bón, giá thành phân bón sản xuất trong nước giảm, giá bán phân bón sản xuất trong nước có dư địa giảm, sẽ tạo tác động dẫn đến các nhà nhập khẩu phân bón cũng sẽ phải giảm giá bán phân bón nhập khẩu theo mặt bằng giá thị trường, đem lại lợi ích lớn cho bà con nông dân.

Về khả năng doanh nghiệp lợi dụng chính sách làm ảnh hưởng đến mặt bằng giá phân bón trên thị trường, UBTVQH hồi âm, những lo ngại của ĐBQH về việc các doanh nghiệp sản xuất trong nước có thể cấu kết với tư thương nhập khẩu phân bón để tăng giá bán của phân bón trên thị trường là có cơ sở vì mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận.

Tuy nhiên, hiện nay phân bón là mặt hàng thuộc diện Nhà nước bình ổn giá. Vì vậy, khi chính sách mới được thực hiện, nếu trên thị trường có dấu hiệu bất ổn, các cơ quan quản lý nhà nước có thể thực hiện các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Luật Quản lý giá, như kiểm tra và yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về các yếu tố hình thành giá, kiểm soát hàng tồn kho, đánh giá cung cầu,… để xác định nguyên nhân xem có yếu tố trục lợi hay không để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp.

Về ý kiến cho rằng áp dụng thuế GTGT 5% phân bón, NSNN được tăng thêm 1.500 tỷ đồng và người nông dân phải gánh chịu, UBTVQH nêu, nếu áp dụng thuế suất 5% thì các đơn vị nhập khẩu phân bón sẽ phải nộp vào NSNN là 1.500 tỷ đồng thuế GTGT từ khâu nhập khẩu (lấy theo kim ngạch nhập khẩu năm 2023). Tuy nhiên, kim ngạch phân bón nhập khẩu sẽ có xu thế giảm do áp dụng thuế GTGT 5% dẫn đến số thu thực tế vào NSNN (nếu có) cũng sẽ thấp hơn con số 1.500 tỷ đồng. Ngoài ra, số thuế GTGT thu được từ phân bón nhập khẩu sẽ còn phải được bù trừ với phần thuế GTGT sẽ còn phải hoàn cho doanh nghiệp trong nước nên tác động tăng thu NSNN do áp dụng thuế GTGT 5% là không đáng kể và nếu có thì cũng sẽ thấp hơn nhiều so với con số 1.500 tỷ đồng.

Số liệu chưa đầy đủ cho thấy, NSNN sẽ phải hoàn thuế GTGT cho: Tổng công ty Phân bón và hoá chất dầu khí và Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau là 433,196 tỷ đồng (theo số liệu sản lượng và kế hoạch năm 2024) ; của Tập đoàn Hoá chất Việt Nam là 268 tỷ đồng (theo số liệu sản lượng và kế hoạch năm 2024) ; Công ty TNHH Đạm Ninh Bình là 80,45 tỷ đồng, Công ty cổ phần phân đạm và hoá chất Hà Bắc là 52,59 tỷ đồng (tính theo số liệu sản lượng của năm 2023) ,… Ngoài ra, việc ban hành chính sách này không vì mục tiêu tăng thu ngân sách; số thu vào ngân sách sau khi đã bù trừ với số phải hoàn cho doanh nghiệp nếu có thì Nhà nước có thể sử dụng cho các mục tiêu hỗ trợ trở lại cho hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

Mặt khác, về tác động thực tế đối với người nông dân, số tiền mà ĐBQH cho rằng sẽ thu được vào vào NSNN nêu trên sẽ không chuyển hoàn toàn vào giá bán để tạo gánh nặng cho người nông dân.

Vì, (1)người nông dân có thể lựa chọn mua phân bón sản xuất trong nước có giá rẻ hơn thay vì mua phân bón nhập khẩu; (2) Các đơn vị nhập khẩu sẽ phải cân đối giá bán một cách hài hoà với mặt bằng chung trên thị trường trong nước để bảo đảm khả năng tiêu thụ; (3) Theo Hiệp hội phân bón và các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước, việc áp dụng chính sách mới còn có một số tác động tích cực đối với nông dân do doanh nghiệp được hoàn thuế GTGT đầu vào, có thêm nguồn vốn, có động lực đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất các loại phân bón tác dụng cao, phân bón thế hệ mới, góp phần làm tăng năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng sản phẩm do đó tăng hiệu quả công tác trồng trọt một cách bền vững. Khi doanh nghiệp tăng cường đầu tư sản xuất trong nước sẽ làm giảm dần lượng phân bón nhập khẩu.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Lê Quang Mạnh cho biết, ngày 26/11, Tổng Thư ký Quốc hội đã gửi phiếu xin ý kiến các vị ĐBQH đối với nội dung này, theo đó, có 234 ĐBQH (chiếm 72,67% tổng số ĐBQH cho ý kiến) tán thành quy định đưa phân bón, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp, tàu khai thác thủy sản quay lại diện chịu thuế GTGT 5%).

Gồm 4 chương 17 điều, Luật Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025.

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày Truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam

(PetroTimes) – Ngày 27/11, tại Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tổ chức buổi gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày Truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam (27/11/1961 – 27/11/2024).
Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam
Toàn cảnh buổi gặp mặt

Tham dự buổi gặp mặt có đồng chí Lê Mạnh Hùng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn; đồng chí Lê Ngọc Sơn – Tổng Giám đốc Tập đoàn; đồng chí Trần Quang Dũng – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Tập đoàn; cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy, HĐTV, Ban Tổng Giám đốc; lãnh đạo các ban chuyên môn/Văn phòng Tập đoàn; lãnh đạo các đơn vị thành viên, ban quản lý dự án, chi nhánh thuộc Tập đoàn.

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn phát biểu tại buổi gặp mặt

Tại buổi gặp mặt, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn đã thông tin về những thành tựu và kết quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn trong 11 tháng năm 2024. Các chỉ tiêu sản xuất cơ bản hoàn thành và vượt kế hoạch cả năm, trong đó: Khai thác dầu thô dự kiến cả năm đạt 9,77 triệu tấn, vượt 19% kế hoạch (KH) năm; khai thác khí dự kiến đạt 6,43 tỷ m³, vượt 26% KH năm; sản xuất xăng dầu (không gồm NSRP) dự kiến cả năm đạt trên 6,72 triệu tấn, vượt 16% KH năm; sản xuất đạm dự kiến cả năm đạt 1,82 triệu tấn, vượt 4% KH năm. Với mục tiêu tăng trưởng, Tập đoàn luôn phấn đấu các chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước; đến thời điểm hiện tại, Tập đoàn đã hoàn thành toàn diện 6/6 chỉ tiêu tài chính cả năm 2024 theo KH pháp lệnh Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và HĐTV giao, về đích trước từ 3-5 tháng; tăng trưởng từ 5-31% so với năm 2023.

Tổng Giám đốc Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh, ngày 24/4/2024, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận 76-KL/TW về tình hình thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 23/7/2015 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và một số định hướng cho giai đoạn mới; đây chính là tiền đề quan trọng để Tập đoàn tổ chức triển khai xây dựng chiến lược phát triển, mục tiêu trở thành Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia. Trong thời gian còn lại của năm 2024, Tổng Giám đốc Lê Ngọc Sơn đề nghị lãnh đạo các đơn thành viên của Petrovietnam tiếp tục phấn đấu, cùng nhau nỗ lực để Petrovietnam thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời tiến đến mục tiêu đạt 1 triệu tỷ đồng tổng doanh thu toàn Tập đoàn.

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng chia sẻ tại buổi gặp mặt

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch Lê Mạnh Hùng đã ôn lại lịch sử hình thành và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam. Cách đây đúng 63 năm, ngày 27/11/1961, Đoàn thăm dò dầu lửa 36 chính thức được thành lập, đánh dấu sự ra đời của ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam. Trong suốt hơn 6 thập kỷ qua, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, những thế hệ người lao động Dầu khí luôn mang trong mình khát vọng, hoài bão “tìm dầu để làm giàu cho Tổ quốc”. Ngày nay, Petrovietnam đã trở thành tập đoàn kinh tế – kỹ thuật quan trọng hàng đầu của đất nước.

Petrovietnam đã có những bước phát triển vượt bậc và toàn diện cả về quy mô và chiều sâu. Tập đoàn đã thực hiện sứ mệnh của mình với “Năm chữ An”, đó là đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước; đảm bảo an ninh kinh tế; đảm bảo an ninh lương thực; tham gia góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên biển và thực hiện an sinh xã hội. Để có thể vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đồng chí Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, Petrovietnam phải dịch chuyển mô hình kinh doanh phù hợp với sự thay đổi của thị trường, đồng thời cơ cấu được mô hình quản trị, tinh gọn bộ máy, tối ưu nguồn lực để nâng cao năng suất, hiệu lực, hiệu quả phục vụ cho sự phát triển của Tập đoàn trong giai đoạn tới.

Bên cạnh đó, đồng chí Lê Mạnh Hùng cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ cần được tập trung trong thời gian tới là tiếp tục phát huy bản sắc, văn hóa truyền thống Petrovietnam. Trong những năm qua, văn hóa đã góp phần biến áp lực thành động lực, là nền tảng để Petrovietnam xây dựng kế hoạch quản trị năm sau cao hơn năm trước, kiên quyết giữ vững mục tiêu tăng trưởng. Do đó, hơn 6 vạn người lao động Dầu khi cần tiếp tục phát huy truyền thống văn hóa “Khát vọng – Trí tuệ – Chuyên nghiệp – Nghĩa tình”. Văn hóa Petrovietnam phải tiếp tục được nâng tầm, hun đúc, trở thành chất keo gắn kết, từ đó tạo động lực để Tập đoàn tiếp tục vững bước trên con đường phát triển, ngày càng khẳng định vị thế của mình, đóng góp vào sự ổn định và thịnh vượng của nền kinh tế đất nước.

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam
Lãnh đạo Tập đoàn chúc mừng các đơn vị được biểu dương

Cũng nhân dịp này, Tập đoàn đã biểu dương các đơn vị tiêu biểu trong hoàn thành vượt mức kế hoạch quản trị về chỉ tiêu tài chính và các đơn vị tiêu biểu trong thực hiện văn hóa doanh nghiệp 11 tháng của năm 2024.

Một số hình ảnh tại buổi gặp mặt:

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam

Petrovietnam gặp mặt kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam

Nhóm PV

[VIDEO] Khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới hội nhập quốc tế sâu rộng, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam – Petrovietnam đã khẳng định được vị thế và vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

Khát vọng tìm dầu để làm giàu cho Tổ quốc như một ngọn đuốc sáng rực, xuyên suốt chiều dài phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam. Khát vọng là giá trị truyền thống và phẩm chất đáng quý của người lao động Petrovietnam. Giá trị này kế thừa từ lịch sử với hình ảnh những người đi tìm lửa từ những ngày đầu thành lập ngành Dầu khí Việt Nam.

Nhờ có khát vọng mà bao thế hệ người lao động Petrovietnam đã kiên trì học hỏi, đồng cam cộng khổ, dấn thân vào thử thách, thúc đẩy con thuyền Petrovietnam vươn xa hơn, chinh phục những đỉnh cao mới, những chân trời mới.

Mời quý vị độc giả cùng theo dõi phóng sự sau đây:

Áp thuế suất GTGT 5%, giá phân bón có dư địa giảm

Làm rõ băn khoăn về lo ngại đưa phân bón chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% sẽ khiến tăng giá, ĐBQH và các chuyên gia đã có những phân tích cụ thể.

Áp thuế GTGT là căn cứ giảm giá phân bón

Về ý kiến cho rằng “áp dụng thuế GTGT 5% làm tăng giả phân bản”, số liệu từ buổi Tọa đàm tham vấn “Ảnh hưởng của việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón” do Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hội Tư vấn thuế Việt Nam, Trường Đại học Ngoại thương Việt Nam tổ chức ngày 17/10/2024 cho biết, các chuyên gia đã tính toán đối với phương án chuyển phân bón sang áp dụng thuế suất 5%, thì giá phân Urê, DAP và lân sản xuất trong nước có dư địa giảm lần lượt 2% và 1,13%; phân lân có thể giảm 0,87%.

Giá NPK có thể tăng không đáng kể (0,09%) hoặc giữ nguyên. Giá phân Urê, DAP, NPK, SA và Kali nhập khẩu tăng, cụ thể: phân NPK nhập khẩu có thể tăng 5%.

Cấu trúc thị trường phân bón hiện tại (tiêu thụ phân bón sản xuất trong nước chiếm trên 70%, tiêu thụ phân bón nhập khẩu chiếm dưới 30%), sẽ cho phép doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước dẫn dắt điều chỉnh mặt bằng giá thị trường phân bón.

Với chính sách áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đối với phân bón, giá thành phân bón sản xuất trong nước giảm, giá bán phân bón sản xuất trong nước có dư địa giảm, sẽ tạo tác động dẫn đến các nhà nhập khẩu phân bón cũng sẽ phải giảm giá bán phân bón nhập khẩu theo mặt bằng giá thị trường, đem lại lợi ích lớn cho bà con nông dân.

Tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững” do Tạp chí Năng lượng mới/PetroTimes tổ chức mới đây ngày 17/11/2024, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trịnh Xuân An, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa XV cũng cho rằng đề xuất của Chính phủ đưa phân bón trở về chịu thuế GTGT 5% là hoàn toàn hợp lý về mặt cơ sở khoa học.

“Tôi cho rằng không có căn cứ để nói áp thuế GTGT 5% sẽ làm tăng giá phân bón. Theo tôi, khi bàn tác động của thuế GTGT 5% nên có cái nhìn khách quan, khoa học không nên bảo thủ hay dùng những lời lẽ nặng nề như ‘không cần biết, cứ áp thuế GTGT 5% thì giá phân bón sẽ tăng, sẽ giết người nông dân’. Do đó, phải căn cứ trên cơ sở khoa học tính toán cụ thể, không nên vì suy nghĩ chủ quan, cảm tính để quyết định”, ĐBQH Trịnh Xuân An thẳng thắn bày tỏ.

ĐBQH Trịnh Xuân An chia sẻ ý kiến tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững” ngày 17/11.

Ông An cũng cho rằng, đây không chỉ câu chuyện thuần túy thuế học mà còn là vấn đề tình cảm, lý trí, không thể đưa ra quyết định trên chủ quan ý chí, cần bao quát rộng rãi trên các khía cạnh. Quan điểm này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện xuyên suốt trong quá trình thảo luận, lấy ý kiến cho thuế dự tháo Luật.

“Đề nghị báo chí có sự định hướng dư luận về vấn đề này đề phòng thế lực xấu lợi dụng gây nhũng nhiễu thông tin, chính sách. Không bao giờ Đảng, Nhà nước đưa ra chính sách gây ảnh hưởng đến người nông dân hay đất nước. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch để không ảnh hướng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người nông dân”, ĐBQH Trịnh Xuân An nhấn mạnh.

Tính toán từ góc nhìn chuyên gia về tác động thuế GTGT phân bón 5%

Cũng tại Tọa đàm “Áp thuế giá trị gia tăng phân bón: Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững”, phân tích tác động thuế suất GTGT 5% đến giá mặt hàng phân bón, ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam đưa ra ví dụ hạch toán giá bán sản phẩm phân bón của doanh nghiệp sản xuất trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu chưa bao gồm GTGT là 100 đồng, giá trị đầu vào là 80 đồng, dự kiến lợi nhuận ban đầu là 20 đồng.

Nếu doanh nghiệp sản xuất trong nước không được khấu trừ GTGT đầu vào, chi phí phải trả thêm là 8 đồng tiền thuế GTGT không được khấu trừ, giá thành tăng, lợi nhuận giảm. Để bảo đảm mục tiêu lợi nhuận, giá bán phải cộng 8 đồng để bù đắp chi phí thuế. Do vậy, thực tế giá sản phẩm đến tay người nông dân sẽ tăng là 108 đồng khiến người nông dân phải chịu thiệt thòi trả giá cao hơn.

Với mức giá 108 đồng, doanh nghiệp sản xuất trong nước mới bảo đảm lợi nhuận mục tiêu để duy trì sản xuất, trong khi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ cần mức giá 100 đồng. Mặt khác, nếu doanh nghiệp nhập khẩu tính giá theo cơ chế thị trường, họ cũng có thể tăng giá bán lên 108 đồng, khi đó người tiêu dùng có thể phải trả thêm 8 đồng thuế đối với các sản phẩm phân bón nhập khẩu do chính sách thuế.

Ngoài ra, do lợi thế có được từ chính sách thuế nên nhóm doanh nghiệp nhập khẩu phân bón có điều kiện cạnh tranh về giá, chưa nói đến chất lượng và hậu mãi, từ đó gây khó khăn cho sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng dẫn đến độc quyền trong dài hạn khi các doanh nghiệp sản xuất trong nước kiệt quệ, thua lỗ, thậm chí phá sản.

Qua đó, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được khẳng định cần chuyển đổi áp thuế GTGT 5% với phân bón để có dư địa giảm giá bán. Điều này phù hợp về góc độ khoa học, lợi ích kinh tế và hài hòa lợi ích các bên.

Ông Được phân tích, phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT sẽ gây ra nhiều bất cập. Bởi lẽ, thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ và phải tính vào chi phí của doanh nghiệp, làm giảm lợi nhuận, buộc họ phải cộng tiền thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã tính vào chi phí trong giá sản phẩm bán ra. Như vậy, người nông dân gián tiếp phải trả thuế, gây thiệt hại “kép” cho nông dân với phân bón giả, phân bón có giá thành cao, đồng thời có thể dẫn đến Nhà nước thất thu thuế.

Ngược lại, doanh nghiệp nhập khẩu phân bón lại có lợi thế không phải chịu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu đối với bán thành phẩm của phân bón hoặc sản phẩm phân bón. Họ cũng không phải chịu thuế GTGT đầu ra nên không bị tác động giảm lợi nhuận do tác động chính sách thuế.

Cần chuyển đổi áp thuế GTGT 5% với phân bón để có dư địa giảm giá bán.

Vì nền nông nghiệp bền vững

“Tôi xót xa khi thấy công nghệ phân bón Việt Nam còn chưa bắt kịp trình độ thế giới, nên rất mong Quốc hội đưa ra quyết định thuế GTGT phân bón chính xác, để từ đó cải thiện chất lượng phân bón, nâng cao giá trị nông sản Việt, để giúp nông nghiệp thực sự là trụ đỡ của nền kinh tế”, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế thẳng thắn chia sẻ tại Tọa đàm của PetroTimes ngày 17/11.

Sở dĩ ông nói điều này vì muốn đề cập đến khả năng cạnh tranh với hàng ngoại của phân bón Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đều có sự ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp. Ví dụ Trung Quốc, nguyên liệu nhập vào cho sản xuất phân bón, thuế nhập khẩu được giảm 50% hoặc bằng 0, thuế GTGT cũng được áp mức thấp, khi xuất khẩu hoàn toàn được Nhà nước hỗ trợ phí lưu kho và hoàn toàn bộ thuế trong nước, nên khi bán sang Việt Nam họ được lời lớn và có thế mạnh cạnh tranh cao.

“Ở Nga hay Mỹ cũng tương tự, do đó, tôi thấy rằng chính sách ưu đãi đúng và trúng cho chính sách thuế GTGT là rất cần thiết với sản phẩm phân bón để nông nghiệp Việt Nam được cất cánh. Qua chuyến đi tới vùng nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long vừa qua tôi nhận thấy người nông dân hiện nay sử dụng phân bón cho trồng lúa và cây trồng là chủ yếu. Tuy nhiên, qua tìm hiểu người nông dân cho biết người nông dân cho rằng hiện nay phân bón Việt Nam chưa đủ cạnh tranh đối với phân bón nước ngoài”, ông Thịnh nhìn nhận.

Chính vì vậy, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh mong muốn Luật Thuế GTGT sửa đổi chuyển phân bón sang chịu thuế GTGT 5% để chuyển hóa nguồn nâng cao được năng suất chất lượng phân bón, vật tư thiết bị đáp ứng được nhu cầu người nông dân.

 

‘Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT là không thực tế’

vnbusiness.vn | Thứ năm, 14/11/2024 

ĐBQH Trịnh Xuân An, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, cho rằng qua nghiên cứu và tham vấn từ các chuyên gia kinh tế, có thể thấy quy định tại khoản 3, Điều 15 chưa thực tế. Cụ thể, quy định này chỉ cho phép doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng duy nhất là phân bón được khấu trừ thuế, trong khi những doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng, bao gồm phân bón, lại không được hưởng quyền lợi này.

Trong Dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT được Bộ Tài chính trình Chính phủ, khoản 3, Điều 15 quy định về các trường hợp hoàn thuế như sau: “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%, trừ hoạt động thanh lý tài sản nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 4 quý liên tiếp thì được hoàn thuế GTGT”.

Theo quy định này, chỉ những doanh nghiệp áp dụng duy nhất thuế suất GTGT 5% mới được hoàn thuế, còn các doanh nghiệp có từ hai loại thuế suất GTGT trở lên sẽ không được hoàn thuế. Điều này tạo ra sự thiếu công bằng đối với các doanh nghiệp có nhiều loại thuế suất GTGT.

-3155-1731578918.jpg

ĐBQH Trịnh Xuân An, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội.

Do đó ông An đề xuất bỏ từ “chỉ” trong Khoản 3 Điều 15. “Ý kiến của tôi là như thế. Tôi rất mong được các ĐBQH và chuyên gia kinh tế, chuyên gia về thuế làm rõ hơn”- ông An nhấn mạnh.

-3383-1731578918.jpg

ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa).

Chung quan điểm trên, ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) cho rằng, cần phải xem xét, điều chỉnh khoản 3, Điều 15 của dự thảo Luật.

“Về bản chất, hoàn thuế GTGT trong trường hợp nêu tại khoản 3, Điều 15 dự thảo Luật là hoàn thuế cho cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5%. Trong khi đó, thuế GTGT đầu vào của chi phí có mặt hàng chịu thuế suất 10% nên lũy kế thuế GTGT liên tục có khấu trừ. Việc khống chế 5% để đảm bảo bản chất là không giải quyết hoàn thuế cho hàng tồn kho. Quy định này tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh sản xuất, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất khác nhau. Do đó, tôi đề nghị xem xét, sửa đổi lại để đảm bảo số thuế GTGT được hoàn không vượt quá 5% doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế 5%, trừ hoạt động thanh lý tài sản” – đại biểu nêu rõ.

-4734-1731578918.jpg

ĐBQH Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hoà Bình.

ĐBQH Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hoà Bình cũng nêu ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn đối với quy định tại khoản 3, Điều 15 dự thảo Luật về hoàn thuế GTGT.

“Theo quy định, trường hợp các đơn vị sản xuất có cả hàng hóa chịu thuế suất 5% và hàng hóa khác chịu thuế suất 10%, thuế GTGT nguyên liệu đầu vào đều thuế suất 10%, doanh thu chủ yếu từ các mặt hàng chịu thuế suất 5%, doanh nghiệp sẽ không thể khấu trừ hết các số thuế GTGT nhiên liệu đầu vào 10% hằng năm và không được hoàn thuế. Theo đó, số thuế GTGT được khấu trừ tăng dần qua các năm, gây khó khăn cho các doanh nghiệp…”- Đại biểu Ngọc nhận định.

N.B

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024

petrotimes.vn | 14/11/2024

(PetroTimes) – Kết thúc 10 tháng đầu năm, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu tài chính cả năm 2024 theo kế hoạch Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp giao, về đích trước từ 3-5 tháng.

Ngày 13/11, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn đã chủ trì giao ban thường kỳ với lãnh đạo các đơn vị thành viên về tình hình sản xuất kinh doanh tháng 10, 10 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 2 tháng cuối năm.

Trong bối cảnh thị trường tháng 10 tiếp tục có nhiều biến động, Petrovietnam tiếp tục tăng cường công tác quản trị, duy trì giám sát thường xuyên đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Tập đoàn và các đơn vị đã thực hiện nghiêm túc công tác an toàn trên các công trình/nhà máy/giàn khoan của Tập đoàn, đảm bảo an toàn, thông suốt; công tác thông tin liên lạc, ứng trực được duy trì 24/24h.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Toàn cảnh giao ban CEO tháng 11/2024

Trong tháng 10, Tập đoàn nghiêm túc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Kết luận 76-KL/TW, Nghị quyết 38/NQ-CP và hoàn thiện dự thảo xây dựng chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tối ưu hiệu quả hoạt động của từng lĩnh vực đơn vị, Tổng Giám đốc Tập đoàn đã ban hành Chỉ thị 7805/CT-DKVN về việc triển khai phòng, chống lãng phí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong bối cảnh mới, tận dụng các nguồn lực để tăng trưởng.

Các chỉ tiêu sản xuất trọng yếu của Tập đoàn trong tháng 10/2024 đều hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 3-84,3%, đặc biệt tất cả các chỉ tiêu đều có tăng trưởng so với tháng 9. Đồng thời, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu tài chính kế hoạch tháng 10/2024 từ 16% – 3,7 lần.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Các điểm cầu trực tuyến.

Tính chung 10 tháng, toàn Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch được HĐTV giao từ 0,1-18,3%, trong đó có nhiều chỉ tiêu tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2023 như sản xuất urea, sản xuất điện, sản xuất xăng dầu, sản xuất NPK… Tổng doanh thu 10 tháng của toàn Tập đoàn đạt 820,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2023, hoàn thành kế hoạch được giao trước 3 tháng. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn 10 tháng đạt 129,15 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2023.

Đặc biệt, 10/22 đơn vị thành viên của Tập đoàn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch về doanh thu hợp nhất, trong đó 17/22 đơn vị có tăng trưởng về doanh thu so với cùng kỳ năm 2023. Kết quả này tiếp tục khẳng định mục tiêu duy trì tăng trưởng của Petrovietnam và các đơn vị thành viên dù gặp nhiều khó khăn, thách thức.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Công tác an toàn trên các công trình dầu khí luôn được đảm bảo an toàn (Ảnh minh họa)

Với những kết quả đạt được, Petrovietnam được vinh danh ở vị trí dẫn đầu trong Top 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam 2024; lần thứ 6 được vinh danh là doanh nghiệp dẫn đầu Top 500 Doanh nghiệp có lợi nhuận tốt nhất Việt Nam; nằm trong Top 3 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2024.

Trong công tác đầu tư, Tập đoàn luôn xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ góp phần duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn liên quan đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm, Tập đoàn đã thúc đẩy triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy công tác đầu tư. Tính đến tháng 10/2024, giá trị giải ngân toàn Tập đoàn đạt 27,1 nghìn tỷ đồng, tăng 90% so với cùng kỳ năm 2023. Kết quả này cao hơn mức giải ngân vốn đầu tư công cả nước trong 10 tháng. Giá trị đầu tư của toàn Tập đoàn cũng đạt 23,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2 lần so với cùng kỳ 2023.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
NMNĐ Sông Hậu 1 hoàn thành kế hoạch sản lượng năm 2024 trước 2 tháng.

Bên cạnh công tác sản xuất kinh doanh, Tập đoàn cũng dành nhiều nguồn lực cho hoạt động an sinh xã hội với tổng giá trị hơn 514 tỷ đồng trong 10 tháng qua với nhiều hình thức như hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, hưởng ứng chương trình “Xóa nhà tạm, nhà dột nát”, hỗ trợ các chương trình giáo dục, y tế. Đặc biệt, trong công tác tái thiết thôn Kho Vàng (Lào Cai), Petrovietnam đã và đang tích cực phối hợp với chính quyền địa phương hoàn thành các thủ tục liên quan để đảm bảo tiến độ hoàn tất dự án vào cuối năm 2024.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Kho LNG Thị Vải.

Trong những tháng còn lại của năm 2024, Petrovietnam tiếp tục tập trung đảm bảo tiến độ các dự án trọng điểm Tập đoàn đang triển khai. Đồng thời, triển khai các giải pháp cụ thể nhằm tiết giảm chi phí, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất hoạt động của các công trình, nhà máy… để đảm bảo thực hiện mục tiêu của cả năm 2024.

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh, trong thời gian còn lại của năm 2024, Tập đoàn và các đơn vị phải tiếp tục đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành cao nhất kế hoạch được giao, nhất là các chỉ tiêu về tổng doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách Nhà nước, phấn đấu đạt mốc tổng doanh thu 1 triệu tỷ đồng. Đây vừa là mục tiêu đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển bền vững của Tập đoàn, vừa là động lực, thể hiện quyết tâm đóng góp cao nhất có thể cho ngân sách quốc gia, qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn chủ trì giao ban.

Đánh giá cao kết quả đạt được của các đơn vị thành viên trong tháng 10, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn đề nghị các đơn vị tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, phát huy những sáng kiến đổi mới sáng tạo, có giải pháp cụ thể chất lượng, tăng cường tối ưu hoạt động sản xuất, tận dụng các nguồn lực để tập trung hoàn thành cao nhất kế hoạch cả năm. Tổng Giám đốc cũng đề nghị tiếp tục rà soát công tác đầu tư, quản trị danh mục đầu tư, tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo công tác đầu tư tại Tập đoàn được thúc đẩy, khắc phục khó khăn vướng mắc, chống lãng phí tại các dự án.

Petrovietnam phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2024
Toàn cảnh công trường thi công chân đế điện gió ngoài khơi.

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cũng lưu ý các đơn vị tập trung rà soát kế hoạch năm 2025, qua đó bám sát tình hình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2021-2025, chuẩn bị xây dựng kế hoạch giai đoạn tiếp theo đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của Tập đoàn. Đồng thời, sẵn sàng tổ chức xây dựng chiến lược phát triển của từng đơn vị, từng lĩnh vực đồng bộ với chiến lược phát triển của Tập đoàn và ngành Dầu khí.

Phương Thảo – Hiền Anh

Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững

petrotimes.vn | 14/11/2024

(PetroTimes) – Ngày 14/11, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) họp bàn kế hoạch sản xuất kinh doanh (SXKD) năm 2025, với tinh thần kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững.
Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững
Petrovietnam đặt mục tiêu doanh thu 843.108 tỷ đồng ở kịch bản giá dầu khả quan.

Xây dựng 2 kịch bản tăng trưởng

Sau 10 tháng năm 2024, Petrovietnam cơ bản đã hoàn thành kế hoạch Chính phủ giao. Trên cơ sở đánh giá vĩ mô, nhu cầu năng lượng cho phát triển công nghiệp của đất nước, rà soát dư địa động lực cũ và mới, Petrovietnam xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2025 với kịch bản cho từng lĩnh vực hoạt động song song nhận định cơ hội và thách thức.

Ở kịch bản giá dầu 70 USD/thùng, Petrovietnam đặt mục tiêu doanh thu 810.067 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 91.302 tỷ đồng. Ở kịch bản giá dầu 75 USD/thùng, Tập đoàn nâng mục tiêu doanh thu lên 843.108 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 94.389 tỷ đồng.

Các đơn vị thành viên Tập đoàn nhận định, bối cảnh năm tới sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức của biến động thị trường và căng thẳng địa chính trị quốc tế diễn biến khó lường, làm gián đoạn chuỗi cung ứng các thiết bị dầu khí/hàng hóa, gây phát sinh chi phí.

Từ nhận diện các thách thức, các đơn vị, ban chuyên môn của Tập đoàn đóng góp vào kế hoạch 2025 cho rằng cần có các giải pháp tổng thể: cơ chế chính sách, quản trị, tài chính, thương mại, thị trường và đầu tư. Cùng với đó là giải pháp trong từng lĩnh vực: thăm dò và khai thác dầu khí; công nghiệp khí; công nghiệp điện; chế biến, tồn trữ và phân phối sản phẩm dầu khí; dịch vụ dầu khí.

Bám sát Kết luận 76 để xây dựng kế hoạch

Bàn về giải pháp thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh 2025, ông Trần Quang Dũng, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Tập đoàn nhấn mạnh, nhiệm vụ đề ra cần bám sát Kết luận 76-KL/TW của Bộ Chính trị, từ đó chuyển hóa thành các động lực mới để phát triển, hoàn thiện bộ giải pháp quản trị, làm cơ sở để rà soát, đánh giá hằng tháng.

Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững
Hoạt động khai thác dầu khí trên mỏ Bạch Hổ (Ảnh: Trần Thịnh)

Ông Dương Mạnh Sơn, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam cho rằng, cần cân nhắc kế hoạch đầu tư ở mức cân đối, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn, đồng thời tập trung cho các vấn đề cốt lõi trong từng lĩnh vực.

Theo ông Nguyễn Văn Mậu, Thành viên HĐTV Petrovietnam, các chỉ tiêu sản xuất đề ra trong kế hoạch cần làm rõ khả năng công suất thiết kế và xác định tồn tại cần khắc phục. Một nhiệm vụ theo ông Mậu không thể bỏ qua là xử lý các dự án đầu tư tồn đọng một cách triệt để và đưa điều này thành nhiệm vụ cụ thể để theo dõi. Về vấn đề tài chính, chú trọng kế hoạch cân đối nguồn vốn, thu xếp vốn cho các dự án lớn, tạo bước tiến quản trị dòng tiền.

Rà soát các nguồn lực, kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng

Đánh giá hai kịch bản đưa ra trong kế hoạch được tính toán với đầy đủ các điều kiện, cơ hội, khó khăn, tuy nhiên, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cho rằng cần có thêm kịch bản quản trị là cơ sở đưa ra giải pháp tổ chức triển khai tổng thể.

Đối với năm 2025, Tổng Giám đốc Lê Ngọc Sơn nhìn nhận, lĩnh vực khí động lực là LNG; điện là Nhà máy Nhơn Trạch 3&4; đầu tư và dịch vụ tăng trưởng đến từ điện gió ngoài khơi. Bên cạnh cơ hội, Tổng Giám đốc Petrovietnam nhận định, vẫn còn khó khăn do giá dầu, LNG được dự báo khác nhau giữa các tổ chức thế giới bởi diễn biến phức tạp của bối cảnh thế giới, chiến tranh, căng thẳng địa chính trị; nguồn cung khí cũng là một thách thức ở khu vực Đông Nam Bộ với kịch bản chạy công suất cao;…

Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Ngọc Sơn: “Hai kịch bản đưa ra trong kế hoạch được tính toán với đầy đủ các điều kiện, cơ hội, khó khăn”.

Sau khi nghe các ý kiến đóng góp, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng lưu ý, Tập đoàn cần xây dựng mô hình dự báo kinh tế, đo lường quản trị để tích hợp kinh tế vĩ mô đất nước, thế giới vào vi mô hoạt động của Tập đoàn, từ đó có kịch bản tăng trưởng chính xác nhất cho năm 2025.

“Tính toán, xây dựng kế hoạch hướng đến mục tiêu cao nhất là sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Nguyên tắc là kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển. Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2025 ít nhất bằng kế hoạch năm 2024, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của ngành, đáp ứng yêu cầu của đất nước. Kế hoạch đưa ra đảm bảo khả thi, có giải pháp về nguyên liệu, nguồn lực, phản ánh chính xác kịch bản quản trị”, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam nhấn mạnh.

Phân tích bối cảnh 2025, ông Lê Mạnh Hùng nhìn nhận, đây là năm quan trọng kết thúc kế hoạch 5 năm 2020-2025, cũng là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp. Tập đoàn vừa phải thực hiện các nhiệm vụ thường niên, vừa phải thực hiện các nhiệm vụ đặc trưng của năm này.

2025 còn là năm thực hiện các tư tưởng, quan điểm đổi mới của đất nước. Công tác lập pháp đã có sự thay đổi lớn, Petrovietnam với vai trò là tập đoàn kinh tế nhà nước không thể đứng ngoài. Công cuộc tinh gọn bộ máy sẽ được thực hiện như một cuộc cách mạng của nhà nước, đó sẽ là thuận lợi cho các doanh nghiệp, tinh giản thủ tục hành chính.

Petrovietnam xây dựng kế hoạch SXKD 2025: Kiên định duy trì nhịp độ tăng trưởng, phát triển bền vững
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng: “Xây dựng kế hoạch hướng đến mục tiêu cao nhất là sự phát triển bền vững của toàn Tập đoàn”.

Trước khó khăn, thách thức, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, cần tính toán chuyển dịch mô hình kinh doanh, xác định công tác đầu tư là cấu phần quan trọng trong cơ cấu tăng trưởng hiệu quả hoạt động của Tập đoàn, coi đây là thước đo hiệu suất sử dụng tài sản.

Về các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam yêu cầu các đơn vị, ban chuyên môn dự báo thị trường, tính toán điều kiện để xây dựng các kịch bản sát thực tế nhất có thể, đồng thời nhìn nhận động lực nào còn dư địa, động lực nào cần khai thác thêm; rà soát nguồn lực về nhân lực, quản trị chiến lược và quản trị nhân lực cấp cao. Cùng với đó là quản trị các tài sản hiện có về nguồn vốn và dòng tiền, rà soát hệ thống quản trị.

Trên cơ sở rà soát các nguồn lực, kế hoạch quản trị năm 2025 của Tập đoàn vẫn tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng, dịch chuyển cơ cấu và mô hình kinh doanh để đảm bảo phát triển bền vững trên cơ sở giữ vững các lĩnh vực cốt lõi, với hành trình hướng tới xây dựng kế hoạch trở thành Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia.

Để đạt được các mục tiêu đề ra, Chủ tịch HĐTV Petrovietnam đề cập tới một loạt giải pháp về gia tăng động lực quản trị, chớp cơ hội từ động lực thể chế, cơ chế phân cấp và giao quyền, giảm thời gian xử lý công việc và tăng hiệu quả.

Giải pháp về nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số cũng được chỉ đạo chú trọng nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng thêm dịch vụ mới, đóng góp vào khoảng 10% doanh thu năm tới.

Nhấn mạnh nguyên lý xây dựng kế hoạch kinh doanh phải đi liền với kế hoạch tài chính (chi phí, vốn, dòng tiền hoạt động – đầu tư), lãnh đạo Petrovietnam giao mục tiêu tối ưu tăng ít nhất 5% hiệu quả quản trị tài chính trong năm 2025.

Bên cạnh đó, cấu trúc lại mô hình kinh doanh đảm bảo sự phát triển bền vững, rà soát quản trị lại các lĩnh vực, giảm phân tán, tăng tập trung, công tác đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cũng được Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng yêu cầu chú trọng trong năm 2025.

Phương Thảo

Áp thuế VAT cho phân bón: Câu chuyện Doanh nghiệp và nông dân ngồi chung “một thuyền”

(Chinhphu.vn) – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Trung cho biết, khi Bộ làm việc với Hiệp hội phân bón Việt Nam và các doanh nghiệp thì họ đều hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là mặt hàng phân bón đến với người nông dân giá giá phải hợp lý và càng rẻ càng tốt để giảm chi phi đầu vào.

Áp thuế VAT cho phân bón: Câu chuyện Doanh nghiệp và nông dân ngồi chung "một thuyền"
- Ảnh 1.

Hiện tượng được mùa giá phân bón lên cũng khiến nhiều người nông dân e ngại – Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Trăn trở liệu giá phân bón có tăng khi áp thuế VAT ?

Hợp tác xã (HTX) dịch vụ nông nghiệp Long Giang (ấp Đá Bạc A, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) hiện có hơn 30 ha, bao gồm diện tích của HTX và diện tích liên kết với các hộ.

Ông Phạm Trường Giang, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Long Giang cho biết với doanh thu mỗi ha khoảng 17 triệu đồng/vụ thì lợi nhuận thu được khoảng từ 30 – 35%, còn lại là chi phí sản xuất, trong đó, chi phí phân bón chiếm 40%.– cho hay, giá phân bón tăng cao, nếu làm không khéo, bà con trong HTX sẽ không thu được con số lợi nhuận trên.

Khoảng 2 năm trở lại đây, giá lúa luôn đứng ở mức cao. Tuy vậy, giá lúa tăng kéo theo vật tư nông nghiệp đầu vào tăng. Không chỉ giá vật tư nông nghiệp tăng cao.

Tại Cần Thơ, câu chuyện chi phí vật tư nông nghiệp đầu vào cũng là vấn đề được những người nông dân đặc biệt quan tâm. HTX Vườn cây ăn trái Trường Khương A (ấp Trường Khương A, xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ) chuyên trồng vú sữa và sầu riêng.

Ông Trần Văn Chiến, Giám đốc HTX trồng cây ăn trái Trường Khương A chia sẻ, hiện nay bà con hướng đến hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để hạ giá thành sản phẩm. “Mấy năm trước, chúng tôi bán sầu riêng quanh mức 30 – 40 nghìn đồng/1kg, năm vừa rồi 60 – 70 nghìn đồng/1kg. Hiện tại giá sầu riêng Ri6 tầm 140 nghìn đồng/kg, sầu riêng monthong 160 nghìn đồng/kg, giá sầu riêng Ri6 130 – 140 nghìn đồng/kg. Giá biến động mạnh, bà con trồng sầu riêng cũng khá lo lắng, bởi nhiều người chạy theo giá sẽ đẩy mạnh bón phân, chăm sóc cây sầu riêng, sẽ khiến giá thành đội lên. Thị trường chưa ổn định, nếu giá sầu riêng tụt giảm bất ngờ, thì ảnh hưởng đến lợi nhuận.

Bàn về câu chuyện hiện nay Quốc hội đang thảo luận đưa phân bón từ diện không chịu thuế sang chịu thuế VAT 5%, bà Trần Thị Thiên Thư, Phó chủ tịch Hội Nông dân TP. Cần Thơ cho biết khi nói đến việc áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón thì mặc nhiên người nông dân suy nghĩ đến việc mua phân bón sẽ bị tăng so với khi không đánh thuế.

“Tuy nhiên ở góc độ điều hành vĩ mô, nông dân và người dân tin tưởng vào sự điều hành của Chính phủ, sự tham mưu của các đơn vị chuyên môn thì Chính phủ có bài toán làm sao hài hòa nhất để vừa đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp, vừa đảm bảo người nông dân được hưởng lợi nhiều nhất. Cũng có thể khi áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón nhưng mức giá bán ra bằng hoặc thấp hơn so với không áp thuế. Nông dân cũng kỳ vọng doanh nghiệp sẽ chia sẻ phần lợi nhuận và hướng tới người nông dân để cùng phát triển bền vững”, bà Thư nói thêm.

Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Giám đốc Nhà máy Đạm Cà Mau cho rằng, nông dân và doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi một doanh nghiệp có được một khoản tiền quỹ từ việc giảm chi phí sản xuất để nghiên cứu khoa học, họ sẽ đầu tư rất nhiều vào việc cải tiến, phát triển công nghệ. Việc này giúp nâng công suất, giảm giá thành và người nông dân là người tiêu dùng cuối sẽ được hưởng lợi.

“Thực tế nếu chi phí sản xuất cao quá, nông dân sẽ bỏ ruộng. Phân bón sẽ bán cho ai? Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng muốn bán phân bón với giá rẻ. Muốn vậy, doanh nghiệp phải có nguồn ngân sách để đầu tư nghiên cứu khoa học, cải tiến công nghệ. Khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón có lời và duy trì được”, ông Nguyễn Văn Sơn nói.

Áp thuế VAT cho phân bón: Câu chuyện Doanh nghiệp và nông dân ngồi chung "một thuyền"
- Ảnh 2.

Phân bón của các doanh nghiệp lớn trong nước không chỉ tiêu thụ nội địa mà đã xuất khẩu nhiều quốc gia trên thế giới – Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Doanh nghiệp có nguồn lực thì mới có cơ sở cho người nông dân hưởng lợi

Cũng về câu chuyện áp thuế này, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Trung cho biết quan điểm của Bộ là ủng hộ việc áp thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón.

Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, xét cho cùng thì chúng ta đang muốn tạo điều kiện tối đa để cho doanh nghiệp có thêm nguồn lực bổ sung thêm sản phẩm, cải thiện hệ thống dây chuyền, mua thêm trang thiết bị và công nghệ sản xuất và quan trọng nhất là hạ giá thành phân bón xuống, khi đó thì mới có lợi cho người nông dân.

“Quan trọng nhất khi mặt hàng phân bón đến với người nông dân là giá giá phải hợp lý và càng rẻ càng tốt để giảm chi phi đầu vào. Khi Bộ NN&PTNT khi làm việc với Hiệp hội phân bón Việt Nam và các doanh nghiệp thì họ đều hướng tới mục tiêu đó. Việc áp thuế VAT để các doanh nghiệp có thêm nguồn lực để nâng cao công nghệ, từ đó giảm giá thành sản xuất mỗi tấn phân bón, góp phần giúp người dân mua được các loại vật tư, phân bón giá rẻ hơn, hợp lý hơn, từ đó giảm chi phí đầu vào và nâng cao lợi nhuận thu được”, Thứ trưởng Hoàng Trung cho biết.

Ngày 29/10, Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi). Ông Lê Quang Mạnh, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật. Về thuế suất 5%, ông Lê Quang Mạnh cho hay có ý kiến nhất trí với dự thảo luật của Chính phủ, chuyển phân bón từ diện không chịu thuế sang áp dụng thuế suất 5%.

Có ý kiến khác đề nghị giữ như quy định hiện hành, vì lo ngại khi đánh thuế 5% sẽ làm tăng mặt bằng giá phân bón trên thị trường và người nông dân sẽ phải chịu tác động trực tiếp, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm nông nghiệp.

Với nội dung này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu thuế VAT đối với phân bón được sửa đổi từ năm 2014 tại Luật Thuế VAT, chuyển từ diện đang chịu thuế suất 5% sang diện không chịu thuế. Chính sách này đã gây ảnh hưởng bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước suốt thời gian vừa qua.

Vì thuế VAT đầu vào của các doanh nghiệp này không được khấu trừ, phải hạch toán vào chi phí, bao gồm cả thuế đầu vào rất lớn đối với đầu tư, mua sắm tài sản cố định, làm giá thành sản xuất trong nước tăng cao, không thể cạnh tranh với nhập khẩu. Điều này đặt trong xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới từ 2015 đến trước thời điểm dịch COVID-19, đã làm nhiều doanh nghiệp trong nước lỗ lớn, phải thu hẹp sản xuất.

Ngược lại, phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do đang chịu thuế 5% được chuyển sang không chịu thuế và vẫn được hoàn toàn bộ thuế VAT đầu vào.

Chính vì vậy, trong suốt thời gian vừa qua, các Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT, Kiểm toán Nhà nước, các đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang, Cà Mau, Bình Định, Hải Phòng, Nam Định, Tiền Giang… Hiệp Hội phân bón, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đã liên tục kiến nghị chuyển lại mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế VAT sang đối tượng chịu thuế suất 5%.

Đỗ Hương

Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế sửa đổi nguy cơ vào ‘vết xe đổ câu chữ’

Việc hiểu sai giữa thuế GTGT 0% với không chịu thuế khiến ngành phân bón bầm dập gần một thập kỷ, nay Điều 15 Luật Thuế GTGT sửa đổi lại tồn tại kẽ hở lớn.

Nguy cơ “lãi giả lỗ thật” vì chữ “chỉ”

Theo ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, đa phần các doanh nghiệp hiện kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%.

Do đó, Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) sửa đổi đang được Quốc hội thảo luận để thông qua trong kỳ họp tới đây cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam.

Luật Thuế GTGT được ban hành lần đầu vào năm 1997, thay thế cho thuế doanh thu và đã trải qua nhiều sửa đổi quan trọng, đặc biệt vào các năm 2008, 2013, 2015 và 2016. Sau 15 năm kể từ sửa đổi năm 2008, cách thức thực hiện thuế GTGT đã có những thay đổi cơ bản, phản ánh sự phát triển trong quản lý hóa đơn của doanh nghiệp và sự biến chuyển trong tiêu dùng và cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhờ tiến bộ công nghệ.

Tuy nhiên, luật này cũng bộc lộ nhiều bất cập, như phạm vi đối tượng không chịu thuế còn rộng, ảnh hưởng đến khả năng khấu trừ thuế đầu vào và tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp. Cấu trúc các mức thuế suất cần được xem xét lại để phù hợp với Chiến lược cải cách và xu hướng chung.

Ngoài ra, nhiều vấn đề trong quản lý thuế GTGT, như khấu trừ thuế đầu vào mà không kê khai nộp thuế đầu ra cũng đã phát sinh, cùng với đó là các bất cập trong thực hiện hoàn thuế GTGT…

Liên quan đến nội dung sửa đổi quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng tại dự án sửa đổi Luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ. Tại Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo “Các trường hợp hoàn thuế”…Cơ sở kinh doanh “chỉ” sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế GTGT”.

Với quy định này, nếu doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên không được hoàn thuế. Điều này không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên. Hệ quả, giá bán phân bón không giảm được bao nhiêu, không hỗ trợ được nhiều cho bà con nông dân, doanh nghiệp gặp tình trạng lãi giả lỗ thật, ngoài ra còn ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước.

Trao đổi về vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín, Ủy viên Thường trực Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho rằng, trong thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa Luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Ông Được lấy ví dụ, doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.

Do đó, thuật ngữ “chỉ” sẽ làm giới hạn đối tượng được hoàn thuế và không đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5%…

Các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước gần 10 năm trời ròng rã kiến nghị được quay lại mức thuế GTGT 5% như trước năm 2015.

Các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước gần 10 năm trời ròng rã kiến nghị được quay lại mức thuế GTGT 5% như trước năm 2015.

Phân tích sâu về điều này, ông Nguyễn Văn Được cho biết thêm, người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế GTGT của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế GTGT theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%.

Quy định về cách tính số thuế hoàn thuế và khống chế mức thuế được hoàn nêu trên tương tự đối với trường hợp người nộp thuế có hoạt động xuất khẩu và hoạt động kinh doanh nội địa đã được áp dụng ổn định nhiều năm qua.

Do đó, ông Được đề nghị bỏ từ “chỉ” để cho phép hoàn thuế đối với đối tượng sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% cho đúng bản chất nhưng “phải bù trừ với các hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế khác” đồng thời, phải thực hiện “phân bổ” số thuế GTGT theo tỷ lệ chịu thuế 5% so với tổng hàng hóa dịch vụ của người nộp thuế.

“Chỉ cần bỏ từ “chỉ”, tất cả các doanh nghiệp có 01 hay 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên đều được đối xử bình đẳng. Điều này giúp doanh nghiệp có điều kiện và động lực để liên tục đầu tư phát triển, đổi mới, đa dạng sản phẩm, có thêm nguồn lực đem lại lợi ích cho nền kinh tế”, ông Nguyễn Văn Được nhấn mạnh.

Sẽ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế GTGT

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính) chuyên gia cao cấp về thuế phân tích, theo quy định này, có thể hiểu là doanh nghiệp chỉ có 01 loại thuế suất thuế GTGT là 5% mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên không được hoàn thuế. Điều này là không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 02 loại thuế suất thuế GTGT trở lên.

Là một chuyên gia về thuế, ông Phụng cho rằng, trên thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa Luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Đơn cử, doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.

“Tới đây tôi cũng sẽ có văn bản kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này, bằng tâm huyết của người cả đời làm thuế”, ông Nguyễn Văn Phụng nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Văn Phụng, chuyên gia cao cấp về thuế, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Phụng, chuyên gia cao cấp về thuế, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp.

Từ câu chuyện Khoản 3, Điều 15 Luật Thuế GTGT (sửa đổi) quay trở lại trước năm 2015, do khủng hoàng kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước và doanh nghiệp ngành nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

Nhằm tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phân bón trong nước có không gian phát triển, giảm bớt kho khăn, Chính phủ cùng các Bộ, Ngành, Hiệp hội và doanh nghiệp thống nhất đề xuất chỉnh sửa, bổ sung Luật Thuế GTGT, tiền đề để Luật Thuế số 71 ra đời sau này.

Theo đó, thuế suất GTGT mặt hàng phân bón và một số máy móc, sản phẩm nông nghiệp đang chịu mức thuế suất GTGT 5% được đề nghị chuyển sang không chịu thuế (đúng ra là phải chuyển sang thuế GTGT 0%).

Nhầm lẫn tai hại mà đến giờ không rõ do “lỗi” ở đâu và từ cơ quan nào mà sau khi Luật Thuế số 71 có hiệu lực từ 1/1/2015, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước “than khóc” ròng rã gần 10 năm trời chỉ với một mong muốn là xin được quay trở lại mức thuế GTGT 5% như trước 2015.

Nay, “chi tiết” Khoản 3, Điều 15 cũng đang nguy cơ rất giống câu chuyện thuế suất GTGT phân bón 0% hay không chịu thuế như câu chuyện Luật Thuế số 71 năm 2015 gần 10 năm về trước, đòi hỏi các bên cầm cân nảy mực phải hết sức cân nhắc và tỉnh táo, tránh ban hành rồi lại gian nan, trường kỳ kiến nghị sửa.

Bên cạnh đó, ngoài mức thuế GTGT 0% và 5%, các cơ quan chức năng cũng có thể nghĩ tới các mức thuế GTGT với mặt hàng phân bón ưu việt hơn ở mức 1%, 2%, 3% hoặc 4%. Tuy nhiên, khi trao đổi với một số chuyên gia về thuế, mức thuế suất GTGT từ 1- 4% hiện chưa có tiền lệ với cả Việt Nam cũng như trên thế giới, nên mốc 0% hoặc 5% vẫn là con số gần nhất và hài hòa nhất với lợi ích các bên.

Chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được đề nghị sửa Khoản 3 Điều 15 Luật Thuế GTGT sửa đổi như sau:

Cơ sở kinh doanh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% (trừ hoạt động thanh lý tài sản) nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết sau khi bù trừ với số thuế giá trị gia tăng của hoạt động kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng khác từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 04 quý liên tục được hoàn thuế giá trị gia tăng.

Người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 5%.

VR 360