Phú Mỹ – Cho mùa bội thu

Vì sao việc áp thuế giá trị gia tăng 5% đối với phân bón nhận được sự đồng thuận lớn?

 Đối với doanh nghiệp sản xuất phân bón, khi áp thuế GTGT 5% đối với phân bón, doanh nghiệp sản xuất phân bón được khấu trừ thuế đầu vào, chi phí đầu tư giảm, dẫn đến giá thành sản xuất sẽ giảm.

Bởi khi mặt hàng này được áp thuế GTGT đầu ra, doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế đầu vào, từ đó có nhiều dư địa để giảm giá thành sản phẩm; thu hút đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Doanh nghiệp chịu thiệt vì chính sách thuế GTGT

Đại diện Công ty CP Phân bón Miền Nam cho biết, kể từ năm 2015, Luật Thuế GTGT đã sửa đổi, chuyển phân bón từ mặt hàng chịu thuế suất 5% sang không chịu thuế. Việc này đã gây bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước.

phân bón
Việc áp thuế giá trị gia tăng 5% đối với phân bón sản xuất trong nước, doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế đầu vào, từ đó có nhiều dư địa để giảm giá thành sản phẩm

Theo đó, thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước gặp khó khăn do không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất phân bón, cũng như đầu tư mở rộng sản xuất, trang bị công nghệ, máy móc thiết bị mới.

Thứ hai, đối với khoản thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tính vào chi phí sản xuất, làm cho giá thành sản phẩm tăng buộc các doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tăng giá bán sản phẩm, tiêu thụ giảm dẫn đến giảm hiệu quả kinh doanh.

Khi phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT, thì giá vốn bao gồm cả phần thuế GTGT đầu vào, làm cho tỷ trọng giá vốn của doanh nghiệp từ 4% đến 5%.

Một số ý kiến cho rằng việc tăng thuế suất GTGT lên 5% đối với phân bón sẽ làm tăng giá thành sản phẩm và góp phần gây lạm phát. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp sản xuất cho biết, mối lo ngại này không có cơ sở, vì thuế GTGT là thuế gián thu, các doanh nghiệp chỉ thu hộ cho ngân sách nhà nước từ người tiêu dùng cuối cùng, nên không có lý do gì lại làm tăng giá bán.

Cụ thể hơn, theo cơ chế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đưa giá phân bón về một mặt bằng giá chung mà cấu thành từ giá bán chưa có thuế GTGT (là phần của doanh nghiệp), cộng với thuế GTGT theo quy định (là phần của ngân sách nhà nước). Thêm nữa, phân bón là mặt hàng bình ổn giá, nên chịu sự quản lý, điều tiết giá của nhà nước.

Khi phân bón là đối tượng không chịu thuế GTGT, thì giá vốn bao gồm cả phần thuế GTGT đầu vào, làm cho tỷ trọng giá vốn tăng từ 4% đến 5%. Còn khi phân bón là đối tượng chịu thuế GTGT, giá vốn được bóc tách phần thuế GTGT đầu vào thì tỷ trọng giá vốn sẽ giảm từ 4% đến 5%.

Để giảm thiểu tiêu cực nếu thuế suất GTGT được điều chỉnh tăng, doanh nghiệp xác định sẽ giảm giá bán do thuế GTGT đầu vào chủ yếu là trên 5-10% (trừ nguyên liệu đầu vào là phân bón) lớn hơn thuế GTGT đầu ra 5%. Khi giá bán phân bón giảm sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp tăng, sản lượng sản xuất tăng giúp giảm chi phí sản xuất.

Phân bón là mặt hàng không chịu thuế GTGT đầu ra, trong khi doanh nghiệp sản xuất phân bón vẫn phải chịu thuế GTGT đầu vào từ 5%-10% cho các yếu tố sản xuất.

Thời gian qua, khoản thuế này đã làm sụt giảm đầu tư của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón trong nước. Nguyên nhân do toàn bộ thuế GTGT đầu vào của hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ không được khấu trừ, dẫn đến suất đầu tư tăng, giảm hiệu quả đầu tư.

Việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và phải hạch toán vào chi phí, làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước sụt giảm.

Ngoài ra, phân bón nhập khẩu không chịu thuế GTGT dẫn đến giá phân bón nhập khẩu được hưởng lợi (trong khi giá phân bón trong nước phải gánh khoản chi phí thuế GTGT không được khấu trừ) phân bón nhập khẩu tràn lan trên thị trường và cạnh tranh gay gắt với phân bón trong nước.

Với những phân tích trên, đại diện Công ty CP Phân bón Miền Nam nêu quan điểm: “Ý kiến của doanh nghiệp là đề nghị điều chỉnh chính sách thuế đưa phân bón vào diện chịu thuế GTGT để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của Luật Quản lý thuế”.

Áp thuế GTGT mang lại lợi ích bao trùm

Vừa qua, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XV, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất giữ nguyên quy định áp dụng thuế suất GTGT 5% đối với phân bón. Đây được đánh giá là đề xuất kịp thời, nhận được sự đồng thuận cao của cả doanh nghiệp sản xuất phân bón, nhà nước và người tiêu dùng vì sẽ mang lại hiệu quả lớn và bao trùm.

Theo đó, đối với doanh nghiệp sản xuất phân bón, khi áp thuế GTGT 5% đối với phân bón, doanh nghiệp sản xuất phân bón được khấu trừ thuế đầu vào, chi phí đầu tư giảm, dẫn đến giá thành sản xuất sẽ giảm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có động lực đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất các loại phân bón có hàm lượng kỹ thuật cao, thế hệ mới sẽ làm tăng năng suất và hiệu quả của sản xuất giúp tăng năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng sản phẩm nông nghiệp do đó tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp một cách bền vững. Ngành phân bón trong nước tự chủ được sản xuất giúp đảm bảo an ninh lương thực.

phân bón 2
Nếu chính sách thuế GTGT 5% được áp dụng sẽ giảm chi phí mua phân bón cho nông dân, từ đó họ có điều kiện tái đầu tư sản xuất, cải thiện năng suất và chất lượng nông sản

Đối với người sử dụng phân bón, khi sử dụng phân bón sản xuất trong nước, nếu chính sách thuế GTGT 5% được áp dụng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, phân bón trong nước có thể giảm giá bán, giúp giảm chi phí mua phân bón cho nông dân, điều này không chỉ giúp tăng thu nhập cho nông dân mà còn giúp họ có điều kiện tái đầu tư sản xuất, cải thiện năng suất và chất lượng nông sản.

Khi phân bón trong nước tự chủ được sản xuất và chính sách bình ổn giá của nhà nước sẽ giúp cho người sản xuất nông nghiệp yên tâm canh tác không lo sợ giá phân bón tăng bất thường khi phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu. Tuy nhiên, khó khăn là khi sử dụng phân bón nhập khẩu sẽ phải tăng chi phí do phân bón nhập khẩu sẽ tăng giá khi áp dụng chính sách thuế GTGT 5%.

Đối với người tiêu dùng cuối cùng, sẽ được sử dụng những sản phẩm nông sản chất lượng với giá cả phù hợp.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón

Việc đánh thuế VAT 5% với phân bón sẽ giúp cho doanh nghiệp trong nước có lợi thế, có điều kiện cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc mong các ĐBQH ủng hộ.

Thảo luận tại Hội trường về chính sách đánh thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón trong dự thảo sửa đổi Luật Thuế Giá trị Gia tăng (VAT) sáng nay 29/10 tại Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội tán đồng với đề xuất của cơ quan soạn thảo, đồng thời đưa ra phân tích.

Áp thuế VAT 5% phân bón có lợi cho ngành nông nghiệp

Đại biểu Nguyễn Vân Chi, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An cho rằng: Nhiều đại biểu lo ngại về việc nếu đánh thuế giá trị gia tăng 5% đối với phân bón sẽ ảnh hưởng tiêu cực cho nông nghiệp, nông dân bởi lo ngại sẽ làm nâng giá phân bón trên thị trường.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 1.

Theo bà Chi phân tích, cái nhìn đầu tiên ai cũng nghĩ ngay rằng khi phân bón đang không chịu thuế mà chuyển sang áp 5% thì mặt bằng giá sẽ bị tăng lên 5%, về lý thuyết điều này là đúng! Nhưng phân bón là một lĩnh vực hết sức đặc thù và khác biệt so với tất cả các sản phẩm chế biến khác đang lưu hành trên thị trường hiện nay.

“Phân bón đang ở diện không chịu thuế, cho nên tất cả các doanh nghiệp sản xuất trong nước không được khấu trừ đối với đầu vào và toàn bộ giá trị thuế đầu vào bao gồm cả giá trị rất lớn như với đầu tư phải cộng hết tất cả vào chi phí, cho nên giá thành rất cao”, bà Chi phân tích.

Bà này nói thêm, tất cả được cộng vào giá thành và cộng vào giá bán. Tuy nhiên, đối với phân bón nhập khẩu khi xuất khẩu sang Việt Nam họ vẫn được khấu trừ toàn bộ thuế đầu vào cho nên họ đã lợi hơn hẳn. Chúng ta đã phân biệt đối xử giữa phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu bằng cơ chế không chịu thuế.

Đồng thời, phân bón sản xuất trong nước bị phân biệt đối xử so với tất cả các ngành sản xuất khác trong nước, ví dụ như ngành cơ khí, tất cả các ngành sản xuất khác, tại vì tất cả các ngành khác đều thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng 5%,10%.

Chính vì vậy, với việc chúng ta chuyển sang áp dụng thuế 5% không có nghĩa mặt bằng giá sẽ tăng lên 5% vì các doanh nghiệp phân bón trong nước có dư địa để giảm giá khi họ được khấu trừ phần thuế đầu vào này hoặc rất nhiều trường hợp họ sẽ được hoàn cho nên mặt bằng sẽ giảm giá. Chính vì vậy, không thể nói rằng người nông dân hay khu vực nông nghiệp bị ảnh hưởng.

Theo bà Chi, ở đây chúng ta chỉ đặt ra một câu hỏi là liệu chúng ta có nên tiếp tục chính sách không đánh thuế này để chúng ta phân biệt đối xử đối với ngành sản xuất phân bón trong nước hay không, trong khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, chúng ta cần phải có sự ổn định, phải dựa vào sản xuất phân bón trong nước hay chúng ta muốn rằng nền nông nghiệp của chúng ta sẽ dựa chủ yếu vào phân bón nhập khẩu.

Chúng ta nên để cho ngành sản xuất của chúng ta được đối xử một cách bình đẳng, theo đúng cơ chế thị trường, tức là phải được chịu thuế và được khấu trừ đầu vào như tất cả các ngành sản xuất trong nước khác.

Đại biểu Cầm Thị Mẫn (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hoá) cho rằng: Áp mức thuế suất 5% đối với mặt hàng phân bón tại điểm b khoản 2 Điều 9 của dự thảo luật được nhiều đại biểu cũng như cử tri quan tâm, trong đó có đông đảo cử tri là bà con nông dân vì sự thay đổi này có tác động trực tiếp tới đời sống, sinh kế của họ.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 2.

ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Đoàn tỉnh Thanh Hoá)

Trách nhiệm của Quốc hội cũng như trách nhiệm của đại biểu buộc phải xem xét, đánh giá vấn đề này một cách hết sức thận trọng, thấu đáo về nhiều mặt.

Bà Mẫn cho rằng, qua nghiên cứu kỹ lưỡng báo cáo đánh giá tác động của Ban soạn thảo và nội dung giải trình tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng như ý kiến của cử tri là nông dân của doanh nghiệp và các hiệp hội liên quan từ nhiều nguồn khác nhau.

“Cá nhân tôi yên tâm về sự thay đổi này so với luật hiện hành. Yên tâm rằng việc áp thuế 5% đối với phân bón không đồng nghĩa với việc mặt hàng này sẽ tăng giá. Đồng thời, các báo cáo đánh giá còn cho thấy năng lực sản xuất phân bón rất lớn, chủ yếu là doanh nghiệp trong nước, tỷ trọng phân bón nhập khẩu so với sản xuất trong nước chỉ chiếm 27%, nếu áp dụng thuế suất 5%, nhập khẩu vào cũng chịu 5% và cũng chịu sự điều tiết chung với phân bón trong nước”, bà Mẫn nhấn mạnh.

Theo vị này, mặt hàng phân bón là mặt hàng thuộc diện chịu sự kiểm soát và bình ổn giá của Nhà nước. Do đó, việc áp dụng thuế suất 5% chính là việc cùng lúc chúng ta thực hiện được mục tiêu mở rộng cơ chế thuế, tiến tới áp dụng một mức thuế suất, đồng thời phục hồi hỗ trợ sản xuất trong nước và về dài hạn sẽ tạo sự bền vững, ổn định nguồn cung phân bón đầu vào trong nước được phát triển, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng phân bón. Như vậy, người nông dân cũng như doanh nghiệp sản xuất trong nước đều được hưởng lợi từ việc thay đổi này.

“Tha thiết mong Đại biểu Quốc hội ủng hộ áp thuế VAT 5% phân bón”

Phát biểu giải trình vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến của các Đại biểu Quốc hội và giải trình một số vấn đề cụ thể.

“Đây là dự luật quan trọng, có tác động đến hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Dự thảo có nhiều nội dung thay đổi theo đúng sự vận hành của nền kinh tế và xã hội” – ông Hồ Đức Phớc khẳng định.

Về thuế VAT đối với phân bón, Phó Thủ tướng cho biết, trước năm 2015, theo quy định, thuế VAT đối với phân bón là 5%. Sau khi có nhiều phản ánh, Quốc hội khoá XIV đã ban hành, điều chỉnh quy định phân bón không phải chịu thuế VAT. Quy định này được triển khai cho đến nay.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 3.

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc

Hiện nay, theo đề nghị của các ban ngành liên quan như Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Kiểm Toán Nhà nước, các đoàn ĐBQH tỉnh Càu Mau, Bình Định, Hải Phòng, Nam Định… đề nghị sửa nội dung này.

Phó Thủ tướng đã phân tích những lợi ích của việc thu thuế VAT 5% với mặt hàng phân bón, trong đó về phía người nông dân, theo ông Hồ Đức Phớc, giá phân bón không chỉ phụ thuộc vào thuế VAT tăng hay giảm mà còn phụ thuộc vào giá thành sản xuất, cung – cầu trên thị tường… Trong khi đó, giá thành sản phẩn lại phụ thuộc vào khoa học công nghệ, năng suất lao động, hiện đại hoá…

Thực tế cho thấy, thời gian qua, chúng ta không thu thuế với phân bón nhưng giai đoạn 2018 – 2022, phân đạm U-rê vẫn tăng trên 19,70 – 43%. Năm 2023, phân đạm U-rê tăng 6,29 – 6,4%. Như vậy, giá thành phân bón phụ thuộc cơ bản vào cung cầu trên thị trường.

Về phía doanh nghiệp phân bón, việc đánh thuế VAT 5% với phân bón sẽ giúp cho doanh nghiệp trong nước có lợi thế, có điều kiện cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Khi có thuế, ước tính doanh nghiệp nước ngoài phải nộp 1500 tỉ còn doanh nghiệp trong nước chỉ phải nộp 200 tỉ thôi. Điều này giúp doanh nghiệp trong nước có điều kiện cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại, giảm giá thành sản phẩm, giảm giá bán, như vậy là mang lại lợi ích cho cả người dân.

“Tôi mong các ĐBQH ủng hộ phương án thuế VAT với phân bón là 5%”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh sau khi đã giải trình.

Cần báo cáo đầu đủ, chính xác về cơ chế hoàn thuế để đảm bảo công bằng

Đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông): Đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước. Về nguyên tắc thuế giá trị gia tăng đầu vào cần phải có cơ chế để hoàn thuế cho các doanh nghiệp này để tạo sự công bằng giữa mặt hàng phân bón sản xuất trong nước và mặt hàng phân bón nhập khẩu.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ và các báo cáo của Chính phủ thì thấy theo báo cáo nếu như chúng ta đánh thuế 5% đối với mặt hàng phân bón, sẽ thu được khoảng 5.700 tỷ và hoàn thuế cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước khoảng 500 tỷ.

Tôi tính toán sơ bộ với thị phần 27% của phân bón nhập khẩu trên tổng số 5.700 thì khoảng 1.500 tỷ do phần phân bón nhập khẩu sẽ đưa về cho ngân sách. Như vậy, việc sau khi 5.700 trừ đi 1.500 tỷ, mặt hàng phân bón nhập khẩu phải đóng còn 4.200 tỷ, hoàn thuế cho doanh nghiệp là 1500, còn 2.700 tỷ ngân sách nhà nước được lợi.

Trong trường hợp 4.200 này hoàn toàn cho doanh nghiệp thì khả năng giảm giá bán mặt hàng trong nước hoàn toàn có. Nhưng không phải hoàn toàn bộ mà chỉ hoàn 1.500 trên tổng số 4.200. Chỗ này cần phải tính toán lại.

Ông Giang đề nghị báo cáo đầy đủ và chính xác tổng sản lượng trong nước như thế nào và có một cơ chế hoàn thuế đảm bảo tính công bằng. Đề nghị có một thuế suất khác không phải 5% mà có thể bằng một nửa hoặc 2% để đủ hoàn thuế cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón

Việc đánh thuế VAT 5% với phân bón sẽ giúp cho doanh nghiệp trong nước có lợi thế, có điều kiện cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc mong các ĐBQH ủng hộ.

Thảo luận tại Hội trường về chính sách đánh thuế VAT 5% đối với mặt hàng phân bón trong dự thảo sửa đổi Luật Thuế Giá trị Gia tăng (VAT) sáng nay 29/10 tại Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội tán đồng với đề xuất của cơ quan soạn thảo, đồng thời đưa ra phân tích.

Áp thuế VAT 5% phân bón có lợi cho ngành nông nghiệp

Đại biểu Nguyễn Vân Chi, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An cho rằng: Nhiều đại biểu lo ngại về việc nếu đánh thuế giá trị gia tăng 5% đối với phân bón sẽ ảnh hưởng tiêu cực cho nông nghiệp, nông dân bởi lo ngại sẽ làm nâng giá phân bón trên thị trường.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 1.

Theo bà Chi phân tích, cái nhìn đầu tiên ai cũng nghĩ ngay rằng khi phân bón đang không chịu thuế mà chuyển sang áp 5% thì mặt bằng giá sẽ bị tăng lên 5%, về lý thuyết điều này là đúng! Nhưng phân bón là một lĩnh vực hết sức đặc thù và khác biệt so với tất cả các sản phẩm chế biến khác đang lưu hành trên thị trường hiện nay.

“Phân bón đang ở diện không chịu thuế, cho nên tất cả các doanh nghiệp sản xuất trong nước không được khấu trừ đối với đầu vào và toàn bộ giá trị thuế đầu vào bao gồm cả giá trị rất lớn như với đầu tư phải cộng hết tất cả vào chi phí, cho nên giá thành rất cao”, bà Chi phân tích.

Bà này nói thêm, tất cả được cộng vào giá thành và cộng vào giá bán. Tuy nhiên, đối với phân bón nhập khẩu khi xuất khẩu sang Việt Nam họ vẫn được khấu trừ toàn bộ thuế đầu vào cho nên họ đã lợi hơn hẳn. Chúng ta đã phân biệt đối xử giữa phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu bằng cơ chế không chịu thuế.

Đồng thời, phân bón sản xuất trong nước bị phân biệt đối xử so với tất cả các ngành sản xuất khác trong nước, ví dụ như ngành cơ khí, tất cả các ngành sản xuất khác, tại vì tất cả các ngành khác đều thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng 5%,10%.

Chính vì vậy, với việc chúng ta chuyển sang áp dụng thuế 5% không có nghĩa mặt bằng giá sẽ tăng lên 5% vì các doanh nghiệp phân bón trong nước có dư địa để giảm giá khi họ được khấu trừ phần thuế đầu vào này hoặc rất nhiều trường hợp họ sẽ được hoàn cho nên mặt bằng sẽ giảm giá. Chính vì vậy, không thể nói rằng người nông dân hay khu vực nông nghiệp bị ảnh hưởng.

Theo bà Chi, ở đây chúng ta chỉ đặt ra một câu hỏi là liệu chúng ta có nên tiếp tục chính sách không đánh thuế này để chúng ta phân biệt đối xử đối với ngành sản xuất phân bón trong nước hay không, trong khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, chúng ta cần phải có sự ổn định, phải dựa vào sản xuất phân bón trong nước hay chúng ta muốn rằng nền nông nghiệp của chúng ta sẽ dựa chủ yếu vào phân bón nhập khẩu.

Chúng ta nên để cho ngành sản xuất của chúng ta được đối xử một cách bình đẳng, theo đúng cơ chế thị trường, tức là phải được chịu thuế và được khấu trừ đầu vào như tất cả các ngành sản xuất trong nước khác.

Đại biểu Cầm Thị Mẫn (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hoá) cho rằng: Áp mức thuế suất 5% đối với mặt hàng phân bón tại điểm b khoản 2 Điều 9 của dự thảo luật được nhiều đại biểu cũng như cử tri quan tâm, trong đó có đông đảo cử tri là bà con nông dân vì sự thay đổi này có tác động trực tiếp tới đời sống, sinh kế của họ.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 2.

ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Đoàn tỉnh Thanh Hoá)

Trách nhiệm của Quốc hội cũng như trách nhiệm của đại biểu buộc phải xem xét, đánh giá vấn đề này một cách hết sức thận trọng, thấu đáo về nhiều mặt.

Bà Mẫn cho rằng, qua nghiên cứu kỹ lưỡng báo cáo đánh giá tác động của Ban soạn thảo và nội dung giải trình tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng như ý kiến của cử tri là nông dân của doanh nghiệp và các hiệp hội liên quan từ nhiều nguồn khác nhau.

“Cá nhân tôi yên tâm về sự thay đổi này so với luật hiện hành. Yên tâm rằng việc áp thuế 5% đối với phân bón không đồng nghĩa với việc mặt hàng này sẽ tăng giá. Đồng thời, các báo cáo đánh giá còn cho thấy năng lực sản xuất phân bón rất lớn, chủ yếu là doanh nghiệp trong nước, tỷ trọng phân bón nhập khẩu so với sản xuất trong nước chỉ chiếm 27%, nếu áp dụng thuế suất 5%, nhập khẩu vào cũng chịu 5% và cũng chịu sự điều tiết chung với phân bón trong nước”, bà Mẫn nhấn mạnh.

Theo vị này, mặt hàng phân bón là mặt hàng thuộc diện chịu sự kiểm soát và bình ổn giá của Nhà nước. Do đó, việc áp dụng thuế suất 5% chính là việc cùng lúc chúng ta thực hiện được mục tiêu mở rộng cơ chế thuế, tiến tới áp dụng một mức thuế suất, đồng thời phục hồi hỗ trợ sản xuất trong nước và về dài hạn sẽ tạo sự bền vững, ổn định nguồn cung phân bón đầu vào trong nước được phát triển, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng phân bón. Như vậy, người nông dân cũng như doanh nghiệp sản xuất trong nước đều được hưởng lợi từ việc thay đổi này.

“Tha thiết mong Đại biểu Quốc hội ủng hộ áp thuế VAT 5% phân bón”

Phát biểu giải trình vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến của các Đại biểu Quốc hội và giải trình một số vấn đề cụ thể.

“Đây là dự luật quan trọng, có tác động đến hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Dự thảo có nhiều nội dung thay đổi theo đúng sự vận hành của nền kinh tế và xã hội” – ông Hồ Đức Phớc khẳng định.

Về thuế VAT đối với phân bón, Phó Thủ tướng cho biết, trước năm 2015, theo quy định, thuế VAT đối với phân bón là 5%. Sau khi có nhiều phản ánh, Quốc hội khoá XIV đã ban hành, điều chỉnh quy định phân bón không phải chịu thuế VAT. Quy định này được triển khai cho đến nay.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tha thiết mong ĐBQH ủng hộ đánh thuế VAT 5% phân bón- Ảnh 3.

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc

Hiện nay, theo đề nghị của các ban ngành liên quan như Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Kiểm Toán Nhà nước, các đoàn ĐBQH tỉnh Càu Mau, Bình Định, Hải Phòng, Nam Định… đề nghị sửa nội dung này.

Phó Thủ tướng đã phân tích những lợi ích của việc thu thuế VAT 5% với mặt hàng phân bón, trong đó về phía người nông dân, theo ông Hồ Đức Phớc, giá phân bón không chỉ phụ thuộc vào thuế VAT tăng hay giảm mà còn phụ thuộc vào giá thành sản xuất, cung – cầu trên thị tường… Trong khi đó, giá thành sản phẩn lại phụ thuộc vào khoa học công nghệ, năng suất lao động, hiện đại hoá…

Thực tế cho thấy, thời gian qua, chúng ta không thu thuế với phân bón nhưng giai đoạn 2018 – 2022, phân đạm U-rê vẫn tăng trên 19,70 – 43%. Năm 2023, phân đạm U-rê tăng 6,29 – 6,4%. Như vậy, giá thành phân bón phụ thuộc cơ bản vào cung cầu trên thị trường.

Về phía doanh nghiệp phân bón, việc đánh thuế VAT 5% với phân bón sẽ giúp cho doanh nghiệp trong nước có lợi thế, có điều kiện cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Khi có thuế, ước tính doanh nghiệp nước ngoài phải nộp 1500 tỉ còn doanh nghiệp trong nước chỉ phải nộp 200 tỉ thôi. Điều này giúp doanh nghiệp trong nước có điều kiện cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại, giảm giá thành sản phẩm, giảm giá bán, như vậy là mang lại lợi ích cho cả người dân.

“Tôi mong các ĐBQH ủng hộ phương án thuế VAT với phân bón là 5%”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh sau khi đã giải trình.

Cần báo cáo đầu đủ, chính xác về cơ chế hoàn thuế để đảm bảo công bằng

Đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông): Đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước. Về nguyên tắc thuế giá trị gia tăng đầu vào cần phải có cơ chế để hoàn thuế cho các doanh nghiệp này để tạo sự công bằng giữa mặt hàng phân bón sản xuất trong nước và mặt hàng phân bón nhập khẩu.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ và các báo cáo của Chính phủ thì thấy theo báo cáo nếu như chúng ta đánh thuế 5% đối với mặt hàng phân bón, sẽ thu được khoảng 5.700 tỷ và hoàn thuế cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước khoảng 500 tỷ.

Tôi tính toán sơ bộ với thị phần 27% của phân bón nhập khẩu trên tổng số 5.700 thì khoảng 1.500 tỷ do phần phân bón nhập khẩu sẽ đưa về cho ngân sách. Như vậy, việc sau khi 5.700 trừ đi 1.500 tỷ, mặt hàng phân bón nhập khẩu phải đóng còn 4.200 tỷ, hoàn thuế cho doanh nghiệp là 1500, còn 2.700 tỷ ngân sách nhà nước được lợi.

Trong trường hợp 4.200 này hoàn toàn cho doanh nghiệp thì khả năng giảm giá bán mặt hàng trong nước hoàn toàn có. Nhưng không phải hoàn toàn bộ mà chỉ hoàn 1.500 trên tổng số 4.200. Chỗ này cần phải tính toán lại.

Ông Giang đề nghị báo cáo đầy đủ và chính xác tổng sản lượng trong nước như thế nào và có một cơ chế hoàn thuế đảm bảo tính công bằng. Đề nghị có một thuế suất khác không phải 5% mà có thể bằng một nửa hoặc 2% để đủ hoàn thuế cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước.

Tạo sự bền vững, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu

Sáng 29.10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi).

kh1.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp. Ảnh: Lâm Hiển

Chuyển phân bón từ diện không chịu thuế sang áp dụng thuế suất 5%

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) do Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Lê Quang Mạnh trình bày cho biết, về thuế suất 5%, có ý kiến nhất trí với dự thảo Luật của Chính phủ, chuyển phân bón từ diện không chịu thuế sang áp dụng thuế suất 5%.

Có ý kiến khác đề nghị giữ như quy định hiện hành, vì lo ngại khi đánh thuế 5% sẽ làm tăng mặt bằng giá phân bón trên thị trường và người nông dân sẽ phải chịu tác động trực tiếp, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm nông nghiệp.

img-4276.jpeg
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Lê Quang Mạnh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi). Ảnh: Lâm Hiển

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phân bón được sửa đổi từ năm 2014 tại Luật Thuế Giá trị gia tăng số 71/2014/QH13, chuyển từ diện đang chịu thuế suất 5% sang diện không chịu thuế. Chính sách này đã gây ảnh hưởng bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước suốt thời gian vừa qua, vì thuế VAT đầu vào của các doanh nghiệp này không được khấu trừ, phải hạch toán vào chi phí. Điều này đặt trong xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới từ 2015 đến trước thời điểm dịch Covid-19 đã làm nhiều doanh nghiệp trong nước lỗ lớn, phải thu hẹp sản xuất.

Ngược lại, phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do đang chịu thuế 5% được chuyển sang không chịu thuế và vẫn được hoàn toàn bộ thuế VAT đầu vào. Chính vì vậy, trong suốt thời gian vừa qua, đã có nhiều kiến nghị chuyển lại mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế VAT sang đối tượng chịu thuế suất 5% và được các cơ quan của Chính phủ và Quốc hội đưa vào nhiệm vụ rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

kh6.jpg
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Lâm Hiển

Cũng có ý kiến lo ngại khi chuyển phân bón sang chịu thuế 5% thì người nông dân sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, nếu các doanh nghiệp trong nước cấu kết với tư thương bán hàng nhập khẩu, nâng giá bán gồm cả phần thuế VAT phải nộp. Tuy nhiên, hiện nay tỷ trọng phân bón nhập khẩu hiện chỉ chiếm 27% thị phần trong nước nên giá bán của phân bón nhập khẩu cũng phải điều chỉnh theo mặt bằng của thị trường khi phân bón sản xuất trong nước có xu thế và dư địa giảm giá, do được khấu trừ hoặc hoàn thuế VAT đầu vào nên sẽ cắt giảm được chi phí, hạ giá thành sản xuất. Đồng thời, phân bón hiện là mặt hàng được Nhà nước bình ổn giá, vì vậy các cơ quan quản lý chức năng có thể sử dụng các biện pháp quản lý thị trường, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng chính sách mới ban hành, có các hành vi trục lợi, gây biến động lớn về giá trên thị trường, làm ảnh hưởng đến khu vực nông nghiệp.

qh4.jpg
Ảnh: Lâm Hiển

Do đó, để xử lý những bất cập trong chính sách đối với ngành sản xuất phân bón thời gian qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị giữ như dự thảo Luật đã được Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Bảy.

Có lợi cho Nhà nước, người dân và doanh nghiệp

Đồng tình với quan điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ĐBQH Trịnh Xuân An (Đồng Nai) cho rằng, khi Quốc hội và Chính phủ bàn những lĩnh vực liên quan đến người dân, doanh nghiệp thì không thể ban hành một chính sách nào để gây ảnh hưởng, thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp, bởi trên hết sẽ hướng tới chính sách tốt nhất cho nền kinh tế, người dân và doanh nghiệp.

Theo đại biểu Trịnh Xuân An, việc áp dụng thuế 5% đối với phân bón sẽ có lợi cho nhà nước, doanh nghiệp và người dân, bởi doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ không bị ảnh hưởng và sẽ góp phần giảm được giá bán của phân bón.

qh1.jpg
ĐBQH Trịnh Xuân An (Đồng Nai) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

Cùng quan điểm này, ĐBQH Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) thống nhất với phương án Chính phủ trình, nêu rõ, quy định như vậy sẽ hỗ trợ sản xuất trong nước, tạo cơ hội đầu tư phát triển, nâng cao công nghệ, tạo công ăn việc làm, tự chủ về phân bón, góp phần bảo đảm an ninh, lương thực. Doanh nghiệp trong nước được khấu trừ đầu vào 5% bảo đảm tối ưu chi phí, cơ hội giảm giá khi bán cho nông dân, nông nghiệp, tạo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh với hàng hóa nhập khẩu hiện nay.

qh2.jpg
ĐBQH Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Hòa Bình) nêu rõ, ngành phân bón đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và phát triển nông nghiệp. Do vậy, cần có các chính sách thuế hỗ trợ phát triển ngành phân bón theo hướng phát triển bền vững. Trường hợp tiếp tục giữ phân bón trong diện không chịu thuế VAT như hiện hành có thể thấy các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón tiếp tục là đối tượng hưởng lợi. Trong khi đó, đối tượng bị ảnh hưởng là tất cả các doanh nghiệp trong ngành sản xuất phân bón trong nước và ngành sản xuất này có thể bị thu hẹp dần và được thay thế bằng phân bón nhập khẩu. Khu vực nông nghiệp về lâu dài sẽ phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu và khó có thể thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững vì phân bón là đầu vào thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp và chịu nhiều tác động của cung cầu thị trường trên thế giới.

qh3.jpg
ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Hòa Bình) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) nêu rõ, việc áp dụng thuế VAT 5% đối với phân bón chính là việc cùng lúc chúng ta thực hiện được mục tiêu mở rộng cơ chế thuế, tiến tới áp dụng một mức thuế suất; đồng thời, phục hồi hỗ trợ sản xuất trong nước. Về dài hạn sẽ tạo sự bền vững, ổn định nguồn cung phân bón đầu vào trong nước được phát triển, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng phân bón. Như vậy, người nông dân cũng như doanh nghiệp sản xuất trong nước đều được hưởng lợi từ việc thay đổi này.

qh5.jpg
ĐBQH Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

Bên cạnh đó, một số đại biểu đề nghị cần cân nhắc không quy định mặt hàng phân bón chịu thuế VAT 5% do lo ngại ảnh hưởng đến nông dân, gia tăng chi phí và giá thành của sản xuất nông nghiệp.

Những ‘lo ngại’ thiếu định lượng sẽ làm hiểu sai tác động thuế GTGT phân bón 5% với nông dân

(PetroTimes) – Hiện vẫn còn một số ít đại biểu Quốc hội lo ngại thuế GTGT 5% sẽ khiến tăng giá phân bón, gây áp lực cho người nông dân, thực chất, đây là cách hiểu chưa đúng với cơ sở khoa học và căn cứ hạch toán giá thành – thuế, dẫn đến hệ lụy lợi bất cập hại cho bà con và ngành nông nghiệp.

Nghị trường thảo luận tại Quốc hội ngày 29/10 nóng hơn bao giờ hết về câu chuyện thuế GTGT phân bón. Tại phiên thảo luận Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho biết, thuế GTGT đối với phân bón được sửa đổi từ năm 2014 tại Luật Thuế GTGT số 71/2014/QH13, chuyển từ diện đang chịu thuế suất 5% sang diện không chịu thuế.

“Chính sách này đã gây ảnh hưởng bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước thời gian qua. Do đó, để xử lý những bất cập, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin được giữ như dự thảo Luật đã được Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7”, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh nói.

Những ‘lo ngại’ thiếu định lượng sẽ làm hiểu sai tác động thuế GTGT phân bón 5% với nông dân
Nghị trường thảo luận tại Quốc hội ngày 29/10 nóng hơn bao giờ hết về câu chuyện thuế GTGT phân bón (Ảnh: Quochoi.vn)

Vẫn còn tranh cãi về thuế GTGT phân bón do đâu?

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội cho thấy nhiều ý kiến nhất trí với dự thảo Luật của Chính phủ về việc chuyển phân bón từ diện không chịu thuế GTGT sang áp dụng thuế suất 5%.

Tại phiên thảo luận, phần lớn đại biểu quốc hội thống nhất cao với các nội dung dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét và cho rằng áp thuế GTGT phân bón không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà cả nông dân.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) tại hội trường đã nhìn nhận với việc áp mức thuế GTGT 5%, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước sẽ được khấu trừ giá đầu vào, quy định này chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhập khẩu.

“Khi Quốc hội và Chính phủ bàn những lĩnh vực liên quan đến người dân, doanh nghiệp thì không thể ban hành một chính sách nào gây ảnh hưởng, thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp, bởi trên hết sẽ hướng tới chính sách tốt nhất cho nền kinh tế và các đối tượng thụ hưởng”, ông An nói thêm.

Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) đánh giá về tạo tác động lâu dài cho cả ngành nông nghiệp thì chính sách áp thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ hỗ trợ sản xuất trong nước, tạo cơ hội đầu tư phát triển, nâng cao công nghệ, tự chủ về phân bón, góp phần bảo đảm an ninh lương thực. Doanh nghiệp trong nước được khấu trừ thuế GTGT đầu vào 5% bảo đảm tối ưu chi phí, có cơ hội giảm giá bán cho nông dân, tạo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh với hàng hóa nhập khẩu hiện nay.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít đại biểu Quốc hội có cách nhìn nhận chưa chính xác, thiếu cơ sở định lượng hay quan sát bài toán hạch toán cụ thể nên còn lo ngại rằng “áp thuế GTGT phân bón 5% sẽ làm tăng giá bán tới tay nông dân”, “gây áp lực, gánh nặng cho bà con”, hay “rất tội cho người nông dân”.

Hầu hết ý kiến của các đại biểu chưa thống nhất với dự thảo Luật đều là những lo ngại cảm tính, không có định lượng chứng minh cụ thể về tác động áp thuế GTGT 5% với mặt hàng phân bón. Chuyên gia thuế Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội tư thuế Việt Nam tại một tọa đàm gần đây về đo lường tác động chính sách thuế GTGT phân bón 5% cũng đã chỉ ra mấu chốt này.

Ông Cư nhìn nhận phần lớn việc tranh cãi xung quanh câu chuyện nên áp thuế GTGT 5% hay không áp thuế có lợi hơn cho người nông dân và ngành nông nghiệp đều xuất phát từ cách hiểu thuần túy của các đại biểu Quốc hội nghĩ rằng “cứ áp thuế là cộng thêm chi phí vào giá bán làm tăng giá sản phẩm”.

Trên thực tế, việc đo lường tác động phải căn cứ trên sơ đồ hạch toán giá thành và thuế, tức là có tính toán định lượng cụ thể, chưa kể còn xét đến các tác động lâu dài không chỉ ở giá thành.

Việc lo ngại của các đại biểu Quốc hội về tác động chính sách thuế đến người nông dân là hoàn toàn cần thiết, tuy nhiên, nếu thiếu định lượng, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ gây hiểu sai về chính sách này và dẫn đến những hệ lụy lợi bất cập hại lâu dài cho cả bà con và ngành nông nghiệp.

Những ‘lo ngại’ thiếu định lượng sẽ làm hiểu sai tác động thuế GTGT phân bón 5% với nông dân
Cần những căn cứ khoa học và cơ sở định lượng hạch toán chính xác để đưa ra chính sách thuế GTGT phân bón tạo tác động tích cực tới bà con nông dân

Cơ sở khoa học và những định lượng cụ thể

Chuyên gia thuế Nguyễn Đình Cư đã đưa ra giả thiết hạch toán giá thành và thuế cụ thể của mặt hàng phân bón như sau: Giá vốn hàng bán, chi phí giá thành sản xuất là 100.000 đồng/tấn phân bón; thuế GTGT đầu vào 7.000 đồng/tấn; doanh nghiệp bán ra thị trường tới tay người nông dân với giá 110.000 đồng/tấn, khấu trừ chi phí và thuế đầu vào, lợi nhuận hiện tại không chịu thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp đạt 3.000 đồng/tấn.

Ở phương án đề xuất áp thuế suất 5% với mức giá phân bón bán ra thị trường hiện tại là 110.000 đồng/tấn, thì giá bán khi chưa tính mức thuế này là 110.000:105% còn 104.762 đồng/tấn. Mức 5% thuế GTGT của giá bán này được tính là 5.238 đồng/tấn. Như vậy, số thuế nhà sản xuất phân bón nội địa phải nộp tính theo công thức thuế suất đầu ra trừ đầu vào còn âm 1.762 đồng/tấn và sẽ được khấu trừ.

Hơn nữa, theo số liệu thống kê không đầy đủ, thuế GTGT đối với phân bón chiếm bình quân từ 6-7% giá vốn sản xuất, nên quy đổi ra giá bán sẽ vẫn cao hơn mức áp thuế GTGT 5%.

Từ phương án định lượng trên, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam khẳng định, với phương án thuế GTGT 5%, lợi nhuận doanh nghiệp có thể tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ. Trong khi đó, người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất do áp dụng thuế GTGT. Ngân sách Nhà nước sẽ giảm thuế 1.762 đồng/tấn, nhưng sẽ được bù đắp bởi thuế nhập khẩu phân bón.

Nghiên cứu dựa trên số liệu các doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa của Dự án Tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (USAID IPSC) cũng cho thấy, đối với doanh nghiệp sản xuất ure, định lượng tác động của việc áp thuế GTGT 5% sẽ có dư địa giảm 2% do được khấu trừ thuế GTGT đầu vào lên tới 9,3%; doanh nghiệp sản xuất phân DAP, giá bán thành phẩm có dư địa giảm 1,13% do được khấu trừ thuế GTGT đầu vào ở mức 8,1%; doanh nghiệp sản xuất phân lân, giá bán thành phẩm có dư địa giảm 0,87%, do được khấu trừ thuế GTGT đầu vào 7,7%; duy chỉ có giá bán sản phẩm NPK có thể tăng không đáng kể 0,09% hoặc giữ nguyên.

Giá phân urê, DAP, NPK, SA và Kali nhập khẩu tăng. Tuy nhiên, tỷ trọng phân bón nhập khẩu hiện chỉ chiếm 27% thị phần trong nước, điều này cho phép doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa dẫn dắt điều chỉnh mặt bằng giá thị trường phân bón.

Như vậy, nếu điều chỉnh áp thuế suất thuế GTGT 5% đối với phân bón, giá thành phân bón sản xuất trong nước giảm dẫn đến giá bán trong nước có dư địa giảm, đem lại lợi ích lớn cho nông dân, giúp bà con có cơ hội giảm chi phí sản xuất.

“Giá phân bón không chỉ phụ thuộc vào vấn đề thuế tăng hay giảm”

Những ‘lo ngại’ thiếu định lượng sẽ làm hiểu sai tác động thuế GTGT phân bón 5% với nông dân
Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc lý giải về các yếu tố tác động tới giá phân bón (Ảnh: Quochoi.vn)

Giải trình tại Nghị trường Quốc hội về nội dung thuế GTGT cho phân bón, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc nêu rõ giá phân bón không chỉ phụ thuộc vào vấn đề thuế tăng hay giảm, mà phụ thuộc vào giá thành sản xuất, thị trường, cung cầu.

Vì vậy, nếu cố định tất cả các loại chi phí thì thuế sẽ đảm bảo giá phân bón tăng hay giảm. Thực ra giá thành sản xuất phụ thuộc vào khoa học công nghệ, phụ thuộc năng suất lao động, phụ thuộc giá nhân công, phụ thuộc vào các yếu tố khác, đặc biệt là phụ thuộc vào cung cầu.

Khi đang thực hiện không thu thuế đối với mặt hàng này giai đoạn 2018-2022 thì giá phân đạm ure vẫn tăng 19,71% – 43,6%, điều đó có nghĩa phụ thuộc cơ bản về thị trường, tức là về cung cầu.

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh, khi đưa mặt hàng vào chịu thuế thì đúng là sẽ có tăng giá. Nhưng tăng giá chủ yếu là giá nhập khẩu, mà giá nhập khẩu thì có nghĩa là doanh nghiệp trong nước sẽ có lợi. Bởi vì tăng giá thì thuế áp cả nhập khẩu, áp cả trong nước.

Khi giá nhập khẩu tăng lên thì doanh nghiệp trong nước sẽ có điều kiện để cạnh tranh. Như vậy, doanh nghiệp của nước ngoài phải nộp 1.500 tỷ đồng vì hàng hóa nhập vào nhiều, còn doanh nghiệp trong nước chỉ phải nộp tăng thêm 200 tỷ đồng.

Điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích để đảm bảo cho doanh nghiệp trong nước phát triển tốt và tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại, giảm giá thành phần sản phẩm, tiến tới giảm được giá bán cho người nông dân và nước ta làm chủ được vấn đề phân bón.

Kinh tế Chỉ có 1 loại thuế suất thuế GTGT 5% mới được hoàn thuế là không công bằng với doanh nghiệp

Ông Nguyễn Văn Được – Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam cho rằng, trong thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%.

Do đó, sửa Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Luật Thuế GTGT được ban hành lần đầu vào năm 1997, thay thế cho thuế doanh thu, và đã trải qua nhiều sửa đổi quan trọng, đặc biệt vào các năm 2008, 2013, 2015 và 2016. Sau 15 năm kể từ sửa đổi năm 2008, cách thức thực hiện thuế GTGT đã có những thay đổi cơ bản, phản ánh sự phát triển trong quản lý hóa đơn của doanh nghiệp và sự biến chuyển trong tiêu dùng và cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhờ tiến bộ công nghệ.

Tuy nhiên, luật này cũng bộc lộ nhiều bất cập, như phạm vi đối tượng không chịu thuế còn rộng, ảnh hưởng đến khả năng khấu trừ thuế đầu vào và tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp. Cấu trúc các mức thuế suất cần được xem xét lại để phù hợp với Chiến lược cải cách và xu hướng chung. Ngoài ra, nhiều vấn đề trong quản lý thuế GTGT, như khấu trừ thuế đầu vào mà không kê khai nộp thuế đầu ra, cũng đã phát sinh, cùng với đó là các bất cập trong thực hiện hoàn thuế GTGT…

Liên quan đến nội dung sửa đổi quy định về hoàn thuế GTGT tại dự án sửa đổi luật Thuế GTGT được nêu trong Tờ trình của Bộ Tài chính gửi đến Chính phủ. Theo đó, tại Khoản 3, Điều 15 của Dự thảo – Các trường hợp hoàn thuế: “… Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5% nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng hoặc 04 quý thì được hoàn thuế GTGT”.

Với quy định này, nếu doanh nghiệp chỉ có 1 loại thuế suất thuế GTGT là 5% thì mới được hoàn thuế, còn những doanh nghiệp có từ 2 loại thuế suất thuế GTGT trở lên thì không được hoàn thuế. Điều này là không công bằng đối với các doanh nghiệp có từ 2 loại thuế suất thuế GTGT trở lên. Hệ quả, giá bán phân bón không giảm được bao nhiêu, không hỗ trợ được nhiều cho bà con nông dân, doanh nghiệp gặp tình trạng lãi giả lỗ thật, ngoài ra còn ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước.

Chuyên gia về thuế, ông Nguyễn Văn Được – TGĐ Công ty TNHH Kế toán và tư vấn Thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam cho rằng, trong thực tế, doanh nghiệp được tự do kinh doanh nên đa phần doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, rất ít doanh nghiệp chỉ sản xuất một lĩnh vực chịu thuế GTGT 5%. Do đó, sửa luật thuế GTGT cần đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Ông Được lấy ví dụ, doanh nghiệp A là nhà sản xuất phân bón và kinh doanh hóa chất, nếu hàng hóa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% và hóa chất chịu thuế suất 10% thì doanh nghiệp A sẽ không được hoàn thuế. Trong khi đó, doanh nghiệp B chỉ sản xuất phân bón, không kinh doanh ngành nghề khác thì lại được hoàn thuế. Như vậy, sẽ không công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề.

Do đó, thuật ngữ “chỉ” sẽ làm giới hạn đối tượng được hoàn thuế và không đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%…

Phân tích thêm về điều này, chuyên gia Nguyễn Văn Được cho biết, người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% thì được hoàn thuế GTGT theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%.

Quy định về cách tính số thuế hoàn thuế và khống chế mức thuế được hoàn nêu trên tương tự đối với trường hợp người nộp thuế có hoạt động xuất khẩu và hoạt động kinh doanh nội địa đã được áp dụng ổn định nhiều năm qua.

Do đó, ông Được đề nghị bỏ từ “chỉ” để cho phép hoàn thuế đối với đối tượng sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% cho đúng bản chất nhưng phải “bù trừ với các hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế khác” đồng thời phải thực hiện “phân bổ” số thuế GTGT theo tỷ lệ chịu thuế 5% so với tổng hàng hóa dịch vụ của người nộp thuế.

Như vậy, “nếu bỏ từ “chỉ” thì tất cả các doanh nghiệp có 1 hay 2 loại thuế suất thuế GTGT trở lên đều được đối xử bình đẳng. Điều này giúp cho doanh nghiệp có điều kiện và động lực để liên tục đầu tư phát triển, đổi mới, đa dạng sản phẩm; giành thêm nguồn lực đem lại lợi ích cho nền kinh tế”, chuyên gia Được nhấn mạnh.

Chỉ có 1 loại thuế suất thuế GTGT 5% mới được hoàn thuế là không công bằng với doanh nghiệp

Chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được đề nghị sửa Khoản 3 Điều 15 như sau:

Cơ sở kinh doanh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5% (trừ hoạt động thanh lý tài sản) nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết sau khi bù trừ với số thuế GTGT của hoạt động kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT khác từ ba trăm triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 04 quý liên tục thì được hoàn thuế GTGT. Người nộp thuế phải hạch toán riêng hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% được hoàn thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% thì được hoàn thuế GTGT theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5% trên tổng doanh thu trong kỳ nhưng tối đa không quá 5% trên tổng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT 5%.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ

(PetroTimes) – Từ năm 2019 đến nay, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã chứng minh khả năng thích ứng và đổi mới trong bối cảnh ngành dầu khí thế giới không ngừng biến động. Đối mặt với vô vàn thách thức từ dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, đến các bất ổn địa chính trị, Petrovietnam đã kiên trì thực hiện các cải cách quản trị, đưa “quản trị biến động” thành chiến lược cốt lõi. Cách tiếp cận thận trọng và linh hoạt, không chỉ giúp Tập đoàn vững vàng vượt qua nhiều “cú sốc” của biến động thị trường, mà còn lập nhiều kỷ lục trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không những đáp ứng mục tiêu 5 năm đề ra mà còn có những đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế đất nước.

Quản trị biến động – Từ khủng hoảng đến ổn định và phát triển bền vững

Giai đoạn 2016-2019 đánh dấu thời kỳ khó khăn nhất trong lịch sử của Petrovietnam khi Tập đoàn rơi vào khủng hoảng toàn diện. Khủng hoảng bắt nguồn từ các khó khăn nội tại, sự suy giảm niềm tin và tình hình thị trường bất ổn khiến sản lượng khai thác liên tục giảm. Nhiều dự án, đặc biệt là các dự án điện rơi vào tình trạng bế tắc, các đơn vị thành viên phải đối mặt với thua lỗ triền miên, dường như không có lối thoát. Để vượt qua khủng hoảng và đối mặt với những thách thức mới, Petrovietnam đã triển khai đồng bộ, quyết liệt hàng loạt giải pháp từ năm 2020 nhằm biến “nguy” thành “cơ.” Trong đó, chiến lược “Quản trị biến động” nổi bật lên với là vai trò của giúp Tập đoàn không chỉ vượt khó ngoạn mục mà còn đạt được những kết quả ấn tượng, trở thành nền tảng cho sự phục hồi và phát triển bền vững của Tập đoàn.

“Quản trị biến động” chính là phương thức quản trị mới mà Petrovietnam phát triển, nhằm mục tiêu ứng phó hiệu quả trước mọi tình huống khó lường. Với phương châm “Quản trị biến động, Tối ưu giá trị, Đẩy mạnh tiêu thụ, Nỗ lực vượt khó, Nắm bắt cơ hội, An toàn về đích”, Petrovietnam đã vượt qua khủng hoảng kép của đại dịch COVID-19 và giá dầu thô giảm mạnh vào năm 2020 – một thử thách chưa từng có trong lịch sử. Đáng chú ý, với nỗ lực từ chiến lược “quản trị biến động”, Petrovietnam đã là một trong số ít các tập đoàn dầu khí trên thế giới giữ vững lợi nhuận, đạt gần 20.000 tỷ đồng trong giai đoạn khó khăn nhất.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng giới thiệu với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về chiến lược giảm phát thải CO2 của Tập đoàn.

Năm 2021, trong bối cảnh đại dịch tiếp tục lan rộng và kinh tế toàn cầu lao đao, Petrovietnam lại một lần nữa đối mặt với tình thế khó khăn do sức tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu, khí tự nhiên, và đạm đều giảm mạnh. Tuy nhiên, từ bài học ứng phó hiệu quả năm 2020, Tập đoàn đã đưa ra phương châm hành động năm 2021 là “Quản trị biến động, Tối đa giá trị, Mở rộng thị trường, Tận dụng cơ hội, Liên kết đầu tư, Phục hồi tăng trưởng”. Những nỗ lực này đã giúp Petrovietnam đạt mục tiêu phục hồi tăng trưởng và vượt qua các sóng gió lớn, hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Năm 2022, Petrovietnam phải đối mặt với một loạt các biến động địa chính trị, từ xung đột đến hậu quả của đại dịch. Nhưng thay vì bị áp lực chồng chéo, Tập đoàn đã tận dụng thời cơ từ các thay đổi trong thị trường năng lượng và đưa ra phương châm “Quản trị biến động, Đón đầu xu hướng, Kết nối nguồn lực, Phát huy công nghệ, Thúc đẩy đầu tư, Phát triển bền vững”. Chính nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, Petrovietnam đã thiết lập nhiều kỷ lục về sản lượng và doanh thu, trở thành một trong những đơn vị chủ chốt đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng và đoàn công tác kiểm tra thực tế hoạt động Kho cảng LNG Thị Vải

Bước vào năm 2023, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dầu khí nói riêng tiếp tục phải đối mặt với hàng loạt khó khăn. Giá dầu thô suy giảm mạnh từ 17-38%, cùng với những biến động lớn về cung – cầu và áp lực cạnh tranh trong thị trường năng lượng. Đối với Petrovietnam, đây không chỉ là năm của thách thức mà còn là cơ hội để khẳng định sức mạnh từ đổi mới quản trị.

Bằng phương châm hành động “Quản trị biến động – Mở rộng quy mô – Tăng tốc chuyển đổi số – Dịch chuyển mô hình – Nâng cao năng suất – Tái tạo kinh doanh”, Petrovietnam đã đạt được những kết quả vượt bậc. Toàn Tập đoàn đạt doanh thu kỷ lục, vượt mức 11,6 nghìn tỷ đồng so với kỷ lục năm trước, chiếm 9,2% GDP cả nước và đóng góp 9% tổng thu ngân sách Nhà nước. Đây là minh chứng rõ nét cho sự hiệu quả của quản trị biến động, đồng thời khẳng định vị trí chủ đạo của Petrovietnam trong an ninh năng lượng quốc gia..

Trong các chỉ tiêu sản xuất chủ yếu, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức từ 2-33% so với kế hoạch Chính phủ giao, với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng cao so với năm 2022 như điện tăng 31%, sản xuất xăng dầu tăng 7,3%, và kinh doanh xăng dầu tăng 11,2%. Tổng tiết kiệm toàn Tập đoàn trong năm 2023 cũng đạt 3.072 tỷ đồng, vượt 37% so với kế hoạch. Đáng chú ý, Petrovietnam lập kỷ lục về sản xuất xăng dầu và đạm hạt đục, đồng thời đạt tổng doanh thu cao nhất trong lịch sử ngành dầu khí sau 62 năm thành lập.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục bất ổn, bước sang năm 2024, Petrovietnam kiên trì theo đuổi chiến lược mở rộng quy mô và tái cấu trúc hạ tầng kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động quốc tế để gia tăng giá trị bền vững. Đặc biệt, Tập đoàn tích cực phát triển các sản phẩm mới, tiến hành chuyển đổi số và mở rộng thị trường để tạo nền tảng phát triển dài hạn.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Kho cảng LNG Thị Vải

Nhờ những nỗ lực trong sản xuất kinh doanh (SXKD), với mục tiêu đặt ra năm sau cao hơn năm trước trong 9 tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu của Petrovietnam ước đạt 736.500 tỉ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch năm, về đích trước 3 tháng, tăng 12% so với cùng kỳ 2023; nộp ngân sách nhà nước toàn Tập đoàn ước đạt 115.200 tỉ đồng; hoàn thành toàn diện 6/6 chỉ tiêu tài chính cả năm 2024 theo kế hoạch pháp lệnh Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Hội đồng Thành viên giao, về đích trước từ 3-5 tháng. Trong đó, 5/6 chỉ tiêu tăng trưởng từ 9-31%: doanh thu toàn Tập đoàn tăng 12%; nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn tăng 9%; doanh thu hợp nhất tăng 14%.

Với kết quả đạt được trong những năm qua, tính đến tháng 6/2024, Petrovietnam đã hoàn thành 10/12 chỉ tiêu theo kế hoạch 5 năm 2021-2025, đặc biệt là 2 chỉ tiêu rất quan trọng là lợi nhuận và nộp ngân sách. Ước đến hết năm 2024, Petrovietnam sẽ hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm về tổng doanh thu. Như vậy, sau 3 năm (2021-2024) Petrovietnam đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu tài chính theo kế hoạch 5 năm 2021-2025.

Không chỉ duy trì đà tăng trưởng, phát triển ổn định qua các năm, thông qua “quản trị biến động”, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Thủ tướng Chính phủ, Petrovietnam đã tích cực và quyết liệt đẩy mạnh công tác đầu tư phát triển, giải quyết dứt điểm các dự án khó khăn, vướng mắc của một số dự án trọng điểm, như “hồi sinh” đưa vào vận hành Nhà máy điện Thái Bình 2, Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1; khánh thành kho cảng LNG 1 triệu tấn/năm Thị Vải; đẩy nhanh tiến độ các dự án NMNĐ Nhơn Trạch 3 – 4,… góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước.

Quản trị biến động – Mô hình quản trị thành công của Petrovietnam

Có thể nói, “quản trị biến động” không chỉ là một chiến lược mà đã trở thành văn hóa quản trị tại Petrovietnam. Nhờ vào phương thức quản trị này, Tập đoàn đã liên tục đạt kết quả sản xuất kinh doanh tích cực qua từng năm, đối phó hiệu quả với nhiều tình huống khó lường từ đại dịch đến suy giảm giá dầu. Quản trị biến động đã giúp Petrovietnam chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó, từ đó luôn giữ được sự bình tĩnh và khả năng thích nghi cao trước các biến động vĩ mô.

Phương thức quản trị biến động còn tạo ra văn hóa ứng phó nhanh nhạy, giúp Petrovietnam có thể dự báo, đề ra giải pháp phù hợp cho từng tình huống, hạn chế tối đa các thiệt hại từ biến động tiêu cực, đồng thời khai thác tốt các cơ hội. Đây là một yếu tố quan trọng giúp Tập đoàn giữ vững vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng quốc gia và ổn định thị trường xăng dầu của Việt Nam.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng thị sát khu vực thi công chân đế điện gió ngoài khơi của PTSC

Trong bối cảnh ngành dầu khí đang chứng kiến sự chuyển dịch nhanh chóng sang năng lượng xanh, Petrovietnam cũng đã bắt đầu triển khai các dự án về điện gió ngoài khơi và hợp tác quốc tế để phát triển năng lượng tái tạo. Với phương châm “Quản trị biến động, Bổ sung động lực mới, Làm mới động lực cũ, Tạo nguồn năng lượng mới, Vươn tới đỉnh cao mới”, Petrovietnam không ngừng nỗ lực xây dựng hệ sinh thái năng lượng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Dự kiến trong năm 2024, Petrovietnam sẽ tiếp tục giữ vững mục tiêu tăng trưởng 3,5-6%, đồng thời mở rộng các quan hệ ngoại giao và hạ tầng kinh doanh để tăng cường năng lực quốc tế. Những bài học kinh nghiệm và thành công từ đổi mới quản trị sẽ tiếp tục là động lực thúc đẩy Tập đoàn vượt qua những thách thức phía trước và khai thác hiệu quả các cơ hội mới từ xu hướng chuyển dịch năng lượng.

Việc xây dựng các dự án điện gió ngoài khơi, điển hình như hợp tác với Công ty Sembcorp Utilities Ltd. để xuất khẩu điện từ năng lượng tái tạo sang Singapore, là một trong những bước đi chiến lược nhằm đa dạng hóa cơ cấu nguồn cung năng lượng của Petrovietnam. Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các sản phẩm hóa chất, hóa dầu thân thiện với môi trường, như sản xuất các sản phẩm PP Filler Masterbatch và Compound từ bột PP. Những sản phẩm này không chỉ giúp Petrovietnam gia tăng giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng mà còn khẳng định vị thế của Tập đoàn trên thị trường quốc tế.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Một góc đại công trường chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi ở cảng PTSC

Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng định hướng phát triển nền tảng số để tối ưu hóa công tác quản trị, nâng cao hiệu suất sản xuất kinh doanh và tăng cường trải nghiệm khách hàng. Tập đoàn đã hoàn thành số hóa toàn bộ các văn bản và tích hợp hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) với dữ liệu từ các nhà máy thông minh, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đồng bộ và hiệu quả. Với định hướng này, Petrovietnam đặt mục tiêu không chỉ là doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực dầu khí, mà còn trở thành một tập đoàn năng lượng tích hợp số hóa và thân thiện với môi trường.

Một trong những thành tựu nổi bật của Petrovietnam trong quá trình đổi mới quản trị còn là việc xây dựng một văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, lấy các giá trị cốt lõi “Khát vọng – Trí tuệ – Chuyên nghiệp – Nghĩa tình” làm nền tảng. Hệ giá trị này đã thấm sâu vào đời sống doanh nghiệp, tạo ra động lực và tinh thần đoàn kết cho toàn thể cán bộ, nhân viên trong Tập đoàn. Đặc biệt, Petrovietnam cũng đã chú trọng tới việc phát triển thương hiệu, đến nay giá trị thương hiệu đã đạt gần 1,4 tỷ USD và được tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đánh giá ở mức BB+ suốt 5 năm liên tiếp.

Sự kết hợp giữa chiến lược “quản trị biến động” và văn hóa doanh nghiệp bền vững đã tạo ra nền móng vững chắc để Petrovietnam không ngừng tiến xa. Tập đoàn luôn kiên định với sứ mệnh đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp tích cực vào ổn định kinh tế và xã hội, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn. Trong bối cảnh ngành dầu khí toàn cầu đang chịu nhiều áp lực từ xu hướng chuyển dịch năng lượng, sự kiên định và đổi mới của Petrovietnam tiếp tục mang lại niềm tin lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Đoàn lãnh đạo Petrovietnam khảo sát khu vực dự kiến đầu tư dự án tại Long Sơn

Sáu năm đổi mới quản trị và phát triển theo chiến lược “quản trị biến động” đã giúp Petrovietnam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Những bài học kinh nghiệm quý báu từ thời kỳ khủng hoảng, cùng với các kỷ lục kinh doanh và đổi mới bền vững, là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn và chiến lược đúng đắn của Tập đoàn. Không chỉ là trụ cột kinh tế của đất nước, Petrovietnam còn trở thành biểu tượng của sự tự lực, tự cường và không ngừng đổi mới trong ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam.

Trên chặng đường phía trước, với tầm nhìn chiến lược và sự quyết tâm cao độ, Petrovietnam cam kết tiếp tục nỗ lực hết mình để phát triển ổn định, bền vững và vươn ra toàn cầu. Chiến lược quản trị biến động không chỉ giúp Petrovietnam thích nghi trước biến đổi của thế giới mà còn giúp Tập đoàn không ngừng lớn mạnh, đóng góp nhiều hơn vào an ninh năng lượng quốc gia cùng sự phồn thịnh của đất nước.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
TS Lê Mạnh Hùng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

“Mặc dù sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng đồng thời cũng mở ra những thời cơ, vận hội mới; với phương châm “Quản trị biến động, Bổ sung động lực mới, Làm mới động lực cũ, Tạo nguồn năng lượng mới, Vươn tới đỉnh cao mới”, các đơn vị trong toàn Tập đoàn cần tập trung vào một số nhóm giải pháp, thúc đẩy động lực về văn hóa trên tinh thần kế thừa đà phát triển những năm qua với tinh thần “Một đội ngũ – Một mục tiêu”, tái tạo văn hóa và nâng tầm văn hóa về tăng trưởng, đoàn kết thống nhất, tuân thủ pháp luật, sự phối kết hợp giữa các đơn vị… Cùng với đó, tạo động lực về thể chế trở thành động lực phát triển của Tập đoàn. Muốn làm được điều đó cần cụ thể hóa trong từng lĩnh vực về quản trị doanh nghiệp theo phương châm làm mới động lực cũ để dịch chuyển mô hình kinh doanh; tiếp tục khai thác động lực về việc mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, hiệu suất, mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế dựa trên các quan hệ song phương, đa phương; quản trị đầu tư, danh mục đầu tư các dự án đầu tư, tối ưu các loại chi phí, cuối cùng tập trung hoàn thiện đề án tái cấu trúc đồng bộ với mô hình và hệ thống quản trị của Tập đoàn.”

TS Lê Mạnh Hùng 
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Na
m

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ

(PetroTimes) – Từ năm 2019 đến nay, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã chứng minh khả năng thích ứng và đổi mới trong bối cảnh ngành dầu khí thế giới không ngừng biến động. Đối mặt với vô vàn thách thức từ dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, đến các bất ổn địa chính trị, Petrovietnam đã kiên trì thực hiện các cải cách quản trị, đưa “quản trị biến động” thành chiến lược cốt lõi. Cách tiếp cận thận trọng và linh hoạt, không chỉ giúp Tập đoàn vững vàng vượt qua nhiều “cú sốc” của biến động thị trường, mà còn lập nhiều kỷ lục trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không những đáp ứng mục tiêu 5 năm đề ra mà còn có những đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế đất nước.

Quản trị biến động – Từ khủng hoảng đến ổn định và phát triển bền vững

Giai đoạn 2016-2019 đánh dấu thời kỳ khó khăn nhất trong lịch sử của Petrovietnam khi Tập đoàn rơi vào khủng hoảng toàn diện. Khủng hoảng bắt nguồn từ các khó khăn nội tại, sự suy giảm niềm tin và tình hình thị trường bất ổn khiến sản lượng khai thác liên tục giảm. Nhiều dự án, đặc biệt là các dự án điện rơi vào tình trạng bế tắc, các đơn vị thành viên phải đối mặt với thua lỗ triền miên, dường như không có lối thoát. Để vượt qua khủng hoảng và đối mặt với những thách thức mới, Petrovietnam đã triển khai đồng bộ, quyết liệt hàng loạt giải pháp từ năm 2020 nhằm biến “nguy” thành “cơ.” Trong đó, chiến lược “Quản trị biến động” nổi bật lên với là vai trò của giúp Tập đoàn không chỉ vượt khó ngoạn mục mà còn đạt được những kết quả ấn tượng, trở thành nền tảng cho sự phục hồi và phát triển bền vững của Tập đoàn.

“Quản trị biến động” chính là phương thức quản trị mới mà Petrovietnam phát triển, nhằm mục tiêu ứng phó hiệu quả trước mọi tình huống khó lường. Với phương châm “Quản trị biến động, Tối ưu giá trị, Đẩy mạnh tiêu thụ, Nỗ lực vượt khó, Nắm bắt cơ hội, An toàn về đích”, Petrovietnam đã vượt qua khủng hoảng kép của đại dịch COVID-19 và giá dầu thô giảm mạnh vào năm 2020 – một thử thách chưa từng có trong lịch sử. Đáng chú ý, với nỗ lực từ chiến lược “quản trị biến động”, Petrovietnam đã là một trong số ít các tập đoàn dầu khí trên thế giới giữ vững lợi nhuận, đạt gần 20.000 tỷ đồng trong giai đoạn khó khăn nhất.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng giới thiệu với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về chiến lược giảm phát thải CO2 của Tập đoàn.

Năm 2021, trong bối cảnh đại dịch tiếp tục lan rộng và kinh tế toàn cầu lao đao, Petrovietnam lại một lần nữa đối mặt với tình thế khó khăn do sức tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu, khí tự nhiên, và đạm đều giảm mạnh. Tuy nhiên, từ bài học ứng phó hiệu quả năm 2020, Tập đoàn đã đưa ra phương châm hành động năm 2021 là “Quản trị biến động, Tối đa giá trị, Mở rộng thị trường, Tận dụng cơ hội, Liên kết đầu tư, Phục hồi tăng trưởng”. Những nỗ lực này đã giúp Petrovietnam đạt mục tiêu phục hồi tăng trưởng và vượt qua các sóng gió lớn, hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Năm 2022, Petrovietnam phải đối mặt với một loạt các biến động địa chính trị, từ xung đột đến hậu quả của đại dịch. Nhưng thay vì bị áp lực chồng chéo, Tập đoàn đã tận dụng thời cơ từ các thay đổi trong thị trường năng lượng và đưa ra phương châm “Quản trị biến động, Đón đầu xu hướng, Kết nối nguồn lực, Phát huy công nghệ, Thúc đẩy đầu tư, Phát triển bền vững”. Chính nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, Petrovietnam đã thiết lập nhiều kỷ lục về sản lượng và doanh thu, trở thành một trong những đơn vị chủ chốt đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng và đoàn công tác kiểm tra thực tế hoạt động Kho cảng LNG Thị Vải

Bước vào năm 2023, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dầu khí nói riêng tiếp tục phải đối mặt với hàng loạt khó khăn. Giá dầu thô suy giảm mạnh từ 17-38%, cùng với những biến động lớn về cung – cầu và áp lực cạnh tranh trong thị trường năng lượng. Đối với Petrovietnam, đây không chỉ là năm của thách thức mà còn là cơ hội để khẳng định sức mạnh từ đổi mới quản trị.

Bằng phương châm hành động “Quản trị biến động – Mở rộng quy mô – Tăng tốc chuyển đổi số – Dịch chuyển mô hình – Nâng cao năng suất – Tái tạo kinh doanh”, Petrovietnam đã đạt được những kết quả vượt bậc. Toàn Tập đoàn đạt doanh thu kỷ lục, vượt mức 11,6 nghìn tỷ đồng so với kỷ lục năm trước, chiếm 9,2% GDP cả nước và đóng góp 9% tổng thu ngân sách Nhà nước. Đây là minh chứng rõ nét cho sự hiệu quả của quản trị biến động, đồng thời khẳng định vị trí chủ đạo của Petrovietnam trong an ninh năng lượng quốc gia..

Trong các chỉ tiêu sản xuất chủ yếu, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức từ 2-33% so với kế hoạch Chính phủ giao, với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng cao so với năm 2022 như điện tăng 31%, sản xuất xăng dầu tăng 7,3%, và kinh doanh xăng dầu tăng 11,2%. Tổng tiết kiệm toàn Tập đoàn trong năm 2023 cũng đạt 3.072 tỷ đồng, vượt 37% so với kế hoạch. Đáng chú ý, Petrovietnam lập kỷ lục về sản xuất xăng dầu và đạm hạt đục, đồng thời đạt tổng doanh thu cao nhất trong lịch sử ngành dầu khí sau 62 năm thành lập.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục bất ổn, bước sang năm 2024, Petrovietnam kiên trì theo đuổi chiến lược mở rộng quy mô và tái cấu trúc hạ tầng kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động quốc tế để gia tăng giá trị bền vững. Đặc biệt, Tập đoàn tích cực phát triển các sản phẩm mới, tiến hành chuyển đổi số và mở rộng thị trường để tạo nền tảng phát triển dài hạn.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Kho cảng LNG Thị Vải

Nhờ những nỗ lực trong sản xuất kinh doanh (SXKD), với mục tiêu đặt ra năm sau cao hơn năm trước trong 9 tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu của Petrovietnam ước đạt 736.500 tỉ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch năm, về đích trước 3 tháng, tăng 12% so với cùng kỳ 2023; nộp ngân sách nhà nước toàn Tập đoàn ước đạt 115.200 tỉ đồng; hoàn thành toàn diện 6/6 chỉ tiêu tài chính cả năm 2024 theo kế hoạch pháp lệnh Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Hội đồng Thành viên giao, về đích trước từ 3-5 tháng. Trong đó, 5/6 chỉ tiêu tăng trưởng từ 9-31%: doanh thu toàn Tập đoàn tăng 12%; nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn tăng 9%; doanh thu hợp nhất tăng 14%.

Với kết quả đạt được trong những năm qua, tính đến tháng 6/2024, Petrovietnam đã hoàn thành 10/12 chỉ tiêu theo kế hoạch 5 năm 2021-2025, đặc biệt là 2 chỉ tiêu rất quan trọng là lợi nhuận và nộp ngân sách. Ước đến hết năm 2024, Petrovietnam sẽ hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm về tổng doanh thu. Như vậy, sau 3 năm (2021-2024) Petrovietnam đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu tài chính theo kế hoạch 5 năm 2021-2025.

Không chỉ duy trì đà tăng trưởng, phát triển ổn định qua các năm, thông qua “quản trị biến động”, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Thủ tướng Chính phủ, Petrovietnam đã tích cực và quyết liệt đẩy mạnh công tác đầu tư phát triển, giải quyết dứt điểm các dự án khó khăn, vướng mắc của một số dự án trọng điểm, như “hồi sinh” đưa vào vận hành Nhà máy điện Thái Bình 2, Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1; khánh thành kho cảng LNG 1 triệu tấn/năm Thị Vải; đẩy nhanh tiến độ các dự án NMNĐ Nhơn Trạch 3 – 4,… góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước.

Quản trị biến động – Mô hình quản trị thành công của Petrovietnam

Có thể nói, “quản trị biến động” không chỉ là một chiến lược mà đã trở thành văn hóa quản trị tại Petrovietnam. Nhờ vào phương thức quản trị này, Tập đoàn đã liên tục đạt kết quả sản xuất kinh doanh tích cực qua từng năm, đối phó hiệu quả với nhiều tình huống khó lường từ đại dịch đến suy giảm giá dầu. Quản trị biến động đã giúp Petrovietnam chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó, từ đó luôn giữ được sự bình tĩnh và khả năng thích nghi cao trước các biến động vĩ mô.

Phương thức quản trị biến động còn tạo ra văn hóa ứng phó nhanh nhạy, giúp Petrovietnam có thể dự báo, đề ra giải pháp phù hợp cho từng tình huống, hạn chế tối đa các thiệt hại từ biến động tiêu cực, đồng thời khai thác tốt các cơ hội. Đây là một yếu tố quan trọng giúp Tập đoàn giữ vững vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng quốc gia và ổn định thị trường xăng dầu của Việt Nam.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Mạnh Hùng thị sát khu vực thi công chân đế điện gió ngoài khơi của PTSC

Trong bối cảnh ngành dầu khí đang chứng kiến sự chuyển dịch nhanh chóng sang năng lượng xanh, Petrovietnam cũng đã bắt đầu triển khai các dự án về điện gió ngoài khơi và hợp tác quốc tế để phát triển năng lượng tái tạo. Với phương châm “Quản trị biến động, Bổ sung động lực mới, Làm mới động lực cũ, Tạo nguồn năng lượng mới, Vươn tới đỉnh cao mới”, Petrovietnam không ngừng nỗ lực xây dựng hệ sinh thái năng lượng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Dự kiến trong năm 2024, Petrovietnam sẽ tiếp tục giữ vững mục tiêu tăng trưởng 3,5-6%, đồng thời mở rộng các quan hệ ngoại giao và hạ tầng kinh doanh để tăng cường năng lực quốc tế. Những bài học kinh nghiệm và thành công từ đổi mới quản trị sẽ tiếp tục là động lực thúc đẩy Tập đoàn vượt qua những thách thức phía trước và khai thác hiệu quả các cơ hội mới từ xu hướng chuyển dịch năng lượng.

Việc xây dựng các dự án điện gió ngoài khơi, điển hình như hợp tác với Công ty Sembcorp Utilities Ltd. để xuất khẩu điện từ năng lượng tái tạo sang Singapore, là một trong những bước đi chiến lược nhằm đa dạng hóa cơ cấu nguồn cung năng lượng của Petrovietnam. Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các sản phẩm hóa chất, hóa dầu thân thiện với môi trường, như sản xuất các sản phẩm PP Filler Masterbatch và Compound từ bột PP. Những sản phẩm này không chỉ giúp Petrovietnam gia tăng giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng mà còn khẳng định vị thế của Tập đoàn trên thị trường quốc tế.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Một góc đại công trường chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi ở cảng PTSC

Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng định hướng phát triển nền tảng số để tối ưu hóa công tác quản trị, nâng cao hiệu suất sản xuất kinh doanh và tăng cường trải nghiệm khách hàng. Tập đoàn đã hoàn thành số hóa toàn bộ các văn bản và tích hợp hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) với dữ liệu từ các nhà máy thông minh, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đồng bộ và hiệu quả. Với định hướng này, Petrovietnam đặt mục tiêu không chỉ là doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực dầu khí, mà còn trở thành một tập đoàn năng lượng tích hợp số hóa và thân thiện với môi trường.

Một trong những thành tựu nổi bật của Petrovietnam trong quá trình đổi mới quản trị còn là việc xây dựng một văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, lấy các giá trị cốt lõi “Khát vọng – Trí tuệ – Chuyên nghiệp – Nghĩa tình” làm nền tảng. Hệ giá trị này đã thấm sâu vào đời sống doanh nghiệp, tạo ra động lực và tinh thần đoàn kết cho toàn thể cán bộ, nhân viên trong Tập đoàn. Đặc biệt, Petrovietnam cũng đã chú trọng tới việc phát triển thương hiệu, đến nay giá trị thương hiệu đã đạt gần 1,4 tỷ USD và được tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch Ratings đánh giá ở mức BB+ suốt 5 năm liên tiếp.

Sự kết hợp giữa chiến lược “quản trị biến động” và văn hóa doanh nghiệp bền vững đã tạo ra nền móng vững chắc để Petrovietnam không ngừng tiến xa. Tập đoàn luôn kiên định với sứ mệnh đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp tích cực vào ổn định kinh tế và xã hội, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn. Trong bối cảnh ngành dầu khí toàn cầu đang chịu nhiều áp lực từ xu hướng chuyển dịch năng lượng, sự kiên định và đổi mới của Petrovietnam tiếp tục mang lại niềm tin lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
Đoàn lãnh đạo Petrovietnam khảo sát khu vực dự kiến đầu tư dự án tại Long Sơn

Sáu năm đổi mới quản trị và phát triển theo chiến lược “quản trị biến động” đã giúp Petrovietnam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Những bài học kinh nghiệm quý báu từ thời kỳ khủng hoảng, cùng với các kỷ lục kinh doanh và đổi mới bền vững, là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn và chiến lược đúng đắn của Tập đoàn. Không chỉ là trụ cột kinh tế của đất nước, Petrovietnam còn trở thành biểu tượng của sự tự lực, tự cường và không ngừng đổi mới trong ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam.

Trên chặng đường phía trước, với tầm nhìn chiến lược và sự quyết tâm cao độ, Petrovietnam cam kết tiếp tục nỗ lực hết mình để phát triển ổn định, bền vững và vươn ra toàn cầu. Chiến lược quản trị biến động không chỉ giúp Petrovietnam thích nghi trước biến đổi của thế giới mà còn giúp Tập đoàn không ngừng lớn mạnh, đóng góp nhiều hơn vào an ninh năng lượng quốc gia cùng sự phồn thịnh của đất nước.

“Quản trị biến động” đưa Petrovietnam vươn lên mạnh mẽ
TS Lê Mạnh Hùng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

“Mặc dù sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng đồng thời cũng mở ra những thời cơ, vận hội mới; với phương châm “Quản trị biến động, Bổ sung động lực mới, Làm mới động lực cũ, Tạo nguồn năng lượng mới, Vươn tới đỉnh cao mới”, các đơn vị trong toàn Tập đoàn cần tập trung vào một số nhóm giải pháp, thúc đẩy động lực về văn hóa trên tinh thần kế thừa đà phát triển những năm qua với tinh thần “Một đội ngũ – Một mục tiêu”, tái tạo văn hóa và nâng tầm văn hóa về tăng trưởng, đoàn kết thống nhất, tuân thủ pháp luật, sự phối kết hợp giữa các đơn vị… Cùng với đó, tạo động lực về thể chế trở thành động lực phát triển của Tập đoàn. Muốn làm được điều đó cần cụ thể hóa trong từng lĩnh vực về quản trị doanh nghiệp theo phương châm làm mới động lực cũ để dịch chuyển mô hình kinh doanh; tiếp tục khai thác động lực về việc mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, hiệu suất, mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế dựa trên các quan hệ song phương, đa phương; quản trị đầu tư, danh mục đầu tư các dự án đầu tư, tối ưu các loại chi phí, cuối cùng tập trung hoàn thiện đề án tái cấu trúc đồng bộ với mô hình và hệ thống quản trị của Tập đoàn.”

TS Lê Mạnh Hùng 
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Na
m

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón

(PetroTimes) – Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Đình Cư đưa ra công thức hạch toán cho thấy với phương án áp thuế GTGT 5% đối với phân bón, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ, trong khi người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất.

Tại tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đến ngành phân bón” chiều 17/10, ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam nhìn nhận hầu hết các đại biểu Quốc hội, người tiêu dùng bình thường sẽ hiểu nếu áp thêm thuế GTGT thì sản phẩm bị tăng giá bán.

Nghiên cứu các đối tượng chịu ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với phân bón, ông Cư cho biết, đối với nhà nông, giá mua phân bón có thể tăng với hàng nhập khẩu vì áp thêm 5% thuế GTGT đầu vào.

Ngươc lại, với người nông dân sử dụng phân bón trong nước sẽ không bị tăng giá, thậm chí có thể giảm đi, bởi nhà sản xuất trong nước được hoàn thuế đầu vào, có cơ sở giảm chi phí sản xuất. Đặc biệt, người nông dân có cơ hội trong dài hạn giảm chi phí sản xuất do giá thành phân bón giảm.

Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu, tăng cường được việc quản lý thuế, tạo môi trường thuế bình đẳng.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ông Nguyễn Đình Cư, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp là đối tượng phải nộp thuế GTGT 5% đầu ra nhưng được khấu trừ đầu vào, từ đó, tách chi phí thuế ra khỏi giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, là cơ sở để giảm giá bán tới tay người tiêu dùng. Theo số liệu thống kê không đầy đủ, thuế GTGT đối với phân bón chiếm bình quân chỉ 6-7% giá vốn sản xuất, nên quy đổi ra giá bán sẽ vẫn cao hơn mức áp thuế 5%.

Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng lưu ý vấn đề chung hiện nay là hoàn thuế GTGT đang còn ách tắc lớn ở nhiều ngành, quá trình giải quyết rất chậm, nên nếu áp thuế GTGT, khi chậm hoàn thuế sẽ ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.

Đưa ra phương án tính toán cụ thể trong sơ đồ hạch toán giá thành và thuế GTGT, ông Nguyễn Đình Cư lấy giả thiết giá vốn hàng bán, chi phí giá thành sản xuất là 100.000 đồng/tấn phân bón; thuế GTGT đầu vào 7.000 đồng/tấn; doanh nghiệp bán ra thị trường tới tay người nông dân với giá 110.000 đồng/tấn, khấu trừ chi phí và thuế đầu vào, lợi nhuận hiện tại không chịu thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp đạt 3.000 đồng/tấn.

Ở phương án đề xuất áp thuế suất 5% với mức giá phân bón bán ra thị trường hiện tại 110.000 đồng/tấn, thì giá bán khi chưa tính mức thuế này là 110.000:105% còn 104.762 đồng/tấn. Mức 5% thuế GTGT của giá bán này được tính 5.238 đồng/tấn. Như vậy, số thuế nhà sản xuất phân bón nội địa phải nộp tính theo công thức thuế suất đầu ra trừ đầu vào còn âm 1.762 đồng/tấn và sẽ được khấu trừ.

Từ phương án định lượng cụ thể nêu trên, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam khẳng định với phương án thuế GTGT 5%, lợi nhuận doanh nghiệp có thể tăng lên đúng bằng số thuế được khấu trừ. Trong khi đó, người nông dân không phải chịu tác động làm tăng chi phí sản xuất do áp dụng thuế GTGT. Ngân sách nhà nước sẽ giảm thuế 1.762 đồng/tấn, nhưng sẽ được bù đắp bởi thuế nhập khẩu phân bón.

IPSC: Nông dân có thể giảm 453 tỷ đồng chi phí phân bón nội địa

Tính toán phân tích định lượng tác động áp thuế GTGT 5% đối với phân bón của Dự án tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (USAID/IPSC) cũng có kết luận tương tự như Hội Tư vấn thuế Việt Nam.

Theo báo cáo này, cơ cấu chi phí sản xuất phân bón sẽ gồm: 74% nguyên vật liệu, 6% chi phí khấu hao tài sản cố định, 7% chi phí dịch vụ mua ngoài, 6% chi phí bằng tiền khác, 7% chi phí không chịu thuế GTGT.

Chuyên gia thuế chỉ cách đo lường tác động áp 5% thuế GTGT đối với phân bón
Ước tính thay đổi giá bán của phân bón sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5% của IPSC

Ước tính thay đổi của giá bán sau khi áp thuế GTGT đầu ra 5%, Dự án IPSC tính toán giá phân bón sản xuất trong nước: Urê giảm 2%, DAP giảm 1,13%, Lân giảm 0,87%, NPK tăng 0,09%. Ngược lại, giá phân bón nhập khẩu: Urê, NPK, DAP (trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp) và SA, Kali (đầu vào cho sản xuất phân bón) có thể tăng 5%.

Đối với người nông dân sử dụng chủ yếu phân bón trong nước, giá bán các loại phân bón giữ nguyên hoặc giảm, sẽ giúp chi phí sử dụng phân bón trong nước ước giảm 453 tỷ đồng.

Báo cáo phân tích của IPSC cho rằng khi được áp thuế GTGT đầu ra, doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước được khấu trừ thuế GTGT đầu vào sẽ giảm áp lực khi đầu tư/sửa chữa, đầu tư công nghệ mới, xanh hóa sản xuất. Đây cũng là mức thuế ưu đãi hơn so với mức thuế GTGT hiện tại 10%.

Hiện Việt Nam phải nhập khẩu DAP 64 do trong nước chưa sản xuất được, để đáp ứng nhu cầu này trong tương lai cạnh tranh với hàng nhập khẩu, IPSC nhìn nhận việc được khấu trừ thuế GTGT sẽ giúp doanh nghiệp nâng cấp công nghệ mang tính chiều sâu.

Đa phần các nhà máy Urê ở Việt Nam được xây dựng trên 10 năm, do đó, nhu cầu về nâng cấp công nghệ/máy móc thiết bị là cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa.

Phương Thảo

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%

(PetroTimes) – Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng áp thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đối với phân bón sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích các bên liên quan, trong đó, người nông dân hoàn toàn có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.
Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Các chuyên gia cho rằng cần thiết đưa phân bón về chịu thuế GTGT 5% (Ảnh: Phương Thảo)

Chiều 17/10, Tọa đàm “Tham vấn ảnh hưởng của việc áp thuế suất thuế GTGT 5% đến ngành phân bón do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức đã đưa ra các phân tích cụ thể về nội dung này.

Doanh nghiệp “phải” tăng giá bán phân bón khi không được hoàn thuế GTGT

TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 10,5 – 11 triệu tấn các loại.

Tuy nhiên, theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2022 cả nước có 790 cơ sở sản xuất phân bón phải ngừng sản xuất hoặc không đạt yêu cầu, trong đó 261 cơ sở sản xuất phân bón vô cơ, 161 hữu cơ, 308 vừa vô cơ vừa hữu cơ. Từ năm 2018 – 2023, Việt Nam nhập khẩu từ 1 – 1,6 tỷ USD phân bón, 6 tháng đầu năm 2024 nhập 838 triệu USD.

Đối với các loại thuế liên quan đến phân bón, ông Hà thông tin thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi thông thường hiện hành là 0 – 6%; ưu đãi đặc biệt là 0 – 3% (tùy mã sản phẩm). Nhập khẩu từ các nước có hiệp định thương mại tự do với Việt Nam được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt khi đáp ứng đủ các điều kiện theo hiệp định.

Một loại thuế khác liên quan đến đông đảo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón là Luật thuế GTGT. “Luật Thuế số 71/2014/QH13 quy định phân bón, máy móc thiết bị chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp… là những mặt hàng không chịu thuế GTGT. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả thuế GTGT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định dùng cho sản xuất phân bón”, ông Hà nói.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, việc chuyển mặt hàng phân bón từ diện áp dụng thuế GTGT 5% sang không chịu thuế GTGT ở Luật Thuế 71 đã dẫn đến toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất và kinh doanh phân bón không được khấu trừ và phải hạch toán vào chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản xuất, tăng giá phân bón.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, số thuế GTGT không được khấu trừ tính vào chi phí của doanh nghiệp phân bón theo Luật Thuế 71 từ năm 2015 đến nay đã lên tới gần 10.000 tỷ đồng.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam Phùng Hà: “Doanh nghiệp Việt “đắn đo” đầu tư công nghệ, sản phẩm mới do không được hoàn thuế GTGT” (Ảnh: Phương Thảo)

“Khi không được nhận lại thuế GTGT, doanh nghiệp sản xuất phân bón có 2 lựa chọn hoặc khoản lợi nhuận trước thuế hàng năm sẽ giảm tương ứng hoặc điều chỉnh giá bán đầu ra khiến giá phân bón tới tay người tiêu dùng tăng cao”, TS. Phùng Hà phân tích.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam còn đề cập tới tác động của Luật Thuế 71 hiện hành đối với mặt hàng phân bón ảnh hưởng nặng nề đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, vì việc không áp thuế GTGT có lợi cho các nhà xuất khẩu phân bón vào Việt Nam.

Việc đầu tư sản xuất phân bón công nghệ cao, phân bón thế hệ mới cũng bị giảm động lực khi áp dụng Luật Thuế 71, bởi các doanh nghiệp nội phải “đắn đo” do không được hoàn thuế GTGT cho nhà xưởng, trang thiết bị.

Do đó, TS. Phùng Hà cho rằng chuyển mặt hàng phân bón từ đối tượng không chịu thuế GTGT sang đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%, nhìn một cách tổng sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích xã hội ở mức tối đa.

“Bất kể một chính sách nào nói chung và thuế nói riêng khó có thể mang lại lợi ích một lúc cho toàn bộ các bên liên quan, quan trọng là tính toán dựa trên lợi ích lâu dài, tổng thể và khả năng điều hòa lợi ích của cơ quan quản lý”, TS. Phùng Hà nhìn nhận.

Người nông dân được lợi gì khi áp thuế GTGT phân bón?

Làm rõ hơn cơ sở kiến nghị áp thuế GTGT phân bón ở mức 5%, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, hiện đang có hai luồng ý kiến trái ngược nhau: Sửa đổi thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón là hết sức cần thiết và sửa đổi thuế GTGT sẽ chỉ có lợi cho doanh nghiệp còn người nông dân thì sẽ phải chịu thiệt.

Khi thay đổi chính sách thuế GTGT sẽ tác động chủ yếu đến 3 đối tượng: Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng (người nông dân). Theo tính toán của Hiệp hội, nếu sửa đổi luật theo hướng áp thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ hài hòa lợi ích của cả ba đối tượng này. Đặc biệt, người nông dân sẽ được hưởng lợi về lâu dài.

Cụ thể, ông Ngọc chỉ ra, Nhà nước sẽ có thêm nguồn thu vào ngân sách. Theo thống kê của cơ quan quản lý, số thu về thuế GTGT phân bón luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước.

Người nông dân có đủ cơ sở để hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT phân bón 5%
TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam chỉ ra 3 cơ sở để chứng minh người nông dân không bị chịu thiệt nếu áp thuế GTGT 5% đối với phân bón (Ảnh: Phương Thảo)

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón sẽ được hưởng lợi từ việc hoàn thuế đầu vào theo công thức sau: Số thuế GTGT cần nộp = số thuế GTGT đầu ra – số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

Như vậy, doanh nghiệp có nguồn vốn để mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Hơn nữa, áp thuế GTGT phân bón còn tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa phân bón sản xuất trong nước với phân bón nhập khẩu.

“Câu hỏi quan trọng nhất là người nông dân được lợi gì khi thuế GTGT phân bón thay đổi. Xét trong thời gian dài, người nông dân sẽ được hưởng lợi từ chính sách thuế GTGT 5%, bởi doanh nghiệp sản xuất phân bón được khấu trừ thuế đầu vào nên chi phí đầu tư giảm, giá thành sản xuất sẽ giảm đi.

Doanh nghiệp có động lực đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản xuất các loại phân bón có hàm lượng kỹ thuật cao, thế hệ mới sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, do đó tăng hiệu quả công tác trồng trọt một cách bền vững.

Nhà nước thu được một khoản thuế từ mặt hàng phân bón nên có thêm điều kiện để tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học… giúp người nông dân tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích, tăng sự cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trong nước”, TS. Nguyễn Trí Ngọc phân tích.

Như vậy, qua phân tích của hai lãnh đạo Hiệp hội Phân bón Việt Nam có thể thấy, phân bón chịu thuế GTGT sẽ đảm bảo được hài hòa lợi ích của 3 nhà, trong đó người nông dân có đủ cơ sở để được hưởng lợi và không bị chịu thiệt như các ý kiến lo ngại.

Phương Thảo

VR 360